Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 22/05/2018, 05:18(GMT+7)
 
Chính sách

Quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta
Quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta
Ảnh minh họa/nguồn internet

Tóm tắt: Quản lý phát triển xã hội trong một quốc gia nhiều dân tộc có nhiều đặc điểm khác biệt là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước. Hiện nay, quản lý phát triển xã hội đang đặt ra nhiều vấn đề đòi hỏi phải nghiên cứu đồng bộ và toàn diện, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn để có những quyết sách và chính sách đúng đắn, phù hợp, nhằm bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu phát triển bền vững cũng như chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước đã đề ra.

Từ khóa: quản lý phát triển xã hội, vùng dân tộc, các dân tộc thiểu số

Abstract: The social development management in a multi-ethnic country with different characteristics plays an important role in the state management. At present, the social development management poses a number of issues that require comprehensive and holistic study in both theoretical and practical aspects, to make sensible and appropriate policies and policies so that it is ensured for the good performance of the sustainable development goals as well as the ethnic policies of the Party and the Government.

Key words: social development management, ethnic areas, ethnic minorities

 

1.  Quản lý phát triển xã hội vấn đề dân tộc

Theo nhiều cách tiếp cận khác nhau, thuật ngữ “phát triển” được hiểu và diễn giải khác nhau.

Theo cách tiếp cận xã hội và nhân văn, phát triển có thể coi là một viễn cảnh xã hội và nhân đạo, giúp mọi người có khả năng tự phát triển cho tương lai của chính họ và tạo ra cơ hội cho bản thân mình. Phát triển giúp làm tăng sự tôn trọng và sự tự tin. Ở đây, thước đo sự phát triển xã hội chính là sự khẳng định giá trị của quyền con người, khả năng làm chủ, khả năng tự quyết và sự hòa nhập của mỗi cá nhân trong đời sống cộng đồng và xã hội. Phát triển xã hội được hiểu theo hai góc độ, nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Theo nghĩa rộng, phát triển xã hội bao hàm những vấn đề về đời sống chính trị của một quốc gia, các giá trị về quyền con người, quyền công dân, thể chế chính trị - xã hội gắn liền với sự thay đổi về kinh tế, nâng cao mức sống và thỏa mãn nhu cầu vật chất, văn hóa, tinh thần của mọi thành viên trong xã hội.

Theo nghĩa hẹp, phát triển xã hội là việc thúc đẩy tạo lập môi trường xã hội hài hòa, ổn định, an toàn cho mọi người dân thông qua việc giải quyết những vấn đề về an ninh trật tự xã hội, an sinh xã hội, việc làm, thu nhập, người nghèo và người yếu thế; giải quyết những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội như di cư, bất bình đẳng giữa các giai tầng, nhóm xã hội, xung đột xã hội.

Quản lý phát triển xã hội là hoạt động quản lý của Nhà nước, sử dụng các công cụ và quyền lực nhà nước trong việc kiểm soát, duy trì sự ổn định xã hội; giải quyết những vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển; định hướng, dẫn dắt xã hội theo mục tiêu phát triển quốc gia. Quản lý phát triển xã hội phải hết sức chú ý đến đặc điểm đối tượng quản lý để có những phương thức, phương cách quản lý hữu hiệu.

Dưới góc nhìn dân tộc, vấn đề quản lý phát triển xã hội ở nước ta cần chú ý tới hai đặc điểm quan trọng sau:

-  Việt Nam là quốc gia có nhiều dân tộc, với nhiều vấn đề và mối quan hệ phức tạp đan xen. Ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số, nước ta còn 53 dân tộc thiểu số với trên 12,5 triệu người, chiếm khoảng 14% dân số, phân bố trên địa bàn 58/64 tỉnh, thành cả nước. Các dân tộc thiểu số nước ta có số dân không đồng đều. Từng dân tộc thiểu số lại phân bố không tập trung, quần cư xen kẽ với các dân tộc anh em khác. Chính yếu tố này tạo nên sự đa dạng của văn hóa và các sắc thái văn hóa do quá trình giao thoa, tiếp biến nảy sinh từ quan hệ kinh tế - xã hội của các cộng đồng người.

Giữa các cộng đồng dân tộc nảy sinh các quan hệ trên nhiều khía cạnh. Trong đó, quan hệ kinh tế là nền tảng chi phối quan hệ xã hội, thúc đẩy giao lưu văn hoá. Quan hệ giao lưu văn hoá thúc đẩy quan hệ kinh tế, quan hệ dân tộc. Một số dân tộc có mối quan hệ quốc tế về cộng đồng dân tộc do lịch sử quá trình tồn tại và phát triển.

- Các dân tộc có sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội. Cơ sở hạ tầng kinh tế, kỹ thuật của đa số nơi đồng bào dân tộc sinh sống thấp kém hơn các vùng khác. Nền kinh tế nông nghiệp còn mang nặng tính tự nhiên, tự túc, tự cấp với sức sản xuất thấp, nhiều nơi sản xuất hàng hoá chưa phát triển, một số dân tộc còn sử dng phương thức canh tác giản đơn. Sự cách biệt về không gian địa lý làm giảm khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển của quốc gia.

Về xã hội, quan hệ trong nội bộ dân tộc, quan hệ xã hội truyền thống vẫn là nền tảng cơ bản của đời sống kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số. Đó là quan hệ xã hội trong phạm vi hẹp nhưng khá vững chắc, nổi bật lên là quan hệ của gia đình, họ hàng, dòng tộc. Những quan hệ này chi phối tới đời sống từng cá nhân, hộ gia đình một cách đáng kể. Tập quán sản xuất, phân công lao động hình thành lâu đời và tương đối ổn định với cách thức tổ chức, điều hành và quản lý các hoạt động kinh tế xã hội phù hợp với nền kinh tế tiểu nông.

Xuất phát từ thực tiễn trên, quản lý phát triển xã hội ở nước ta trong vấn đề dân tộc cần có cách nhìn toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội bởi chúng có quan hệ khăng khít, nhân quả gắn bó mật thiết với nhau.

      Quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề dân tộc ở nước ta là giải phóng con người thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; thực hiện dân chủ, tự do cho các dân tộc, phát huy truyền thống đoàn kết xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Quản lý phát triển xã hội nhằm góp phần giải quyết vấn đề dân tộc, vận động đoàn kết nhân dân, tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, xử lý mối quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá giữa các dân tộc, giữa người đa số và thiểu số, người thiểu số với nhau, giữa vùng đồng bằng đô thị và miền núi, nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển, phân tầng xã hội, góp phần và hoà nhập vào sự phát triển chung của quốc gia.

2. Những vấn đề đặt ra trong quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam liên quan đến dân tộc hiện nay

Đất nước ta hiện nay đã bước vào giai đoạn phát triển mới, tiềm lực quốc gia được tăng cường, vị thế chính trị ngày càng được củng cố trên trường quốc tế. Bên cạnh những thuận lợi đó, cũng có những tác động ảnh hưởng nhất định đến vấn đề xã hội ở vùng đồng bào dân tộc.

- Tác động tích cực của nền kinh tế thị trường đã tạo điều kiện và phát huy tiềm năng phát triển vùng đồng bào dân tộc, là cơ hội cho đồng bào chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất. Kinh tế thị trường thúc đẩy trao đổi quan hệ hàng hoá - tiền tệ vào quan hệ kinh tế tự nhiên của đồng bào, tạo nên những biến đổi phức tạp trước những dòng chảy của quy luật của thị trường. Khu vực miền núi cũng không tránh khỏi các cuộc cạnh tranh không lành mạnh. Đồng bào dân tộc luôn là người “đuối sức” trong các cuộc chạy đua trong cơ chế thị trường.

- Bản sắc văn hóa của nhiều dân tộc đang đứng trước nguy cơ mai một, bị đồng hóa, nhất là ở các cộng đồng vùng nghèo đói dưới tác động của đời sống kinh tế - xã hội hiện đại, sự xâm thực văn hóa, xâm nhập và biến đổi tôn giáo - tín ngưỡng diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Sức bảo vệ trước dòng chảy văn hóa của một số cộng đồng dân tộc thiểu số trở nên suy yếu trước tác động của dòng chảy phát triển.

- Cấu trúc xã hội truyền thống bị biến đổi. Nhiều tổ chức quản lý làng, bản cùng với một số giá trị sở hữu truyền thống gắn với các cộng đồng không gian văn hóa bị phá vỡ do tác động ảnh hưởng của chính sách phát triển gần đây.

- Môi trường sống như rừng, đất đai, nguồn nước bị biến đổi và thu hẹp, dẫn đến sinh kế và việc làm của người dân trở nên khó khăn hơn, gây xung đột về quản lý tài nguyên ở một số nơi. Tình trạng lao động di cư bất hợp pháp trở nên phổ biến và đến mức báo động.

- Bộ máy hành chính địa phương và chất lượng lãnh đạo ở các cộng đồng này còn yếu cả về tiêu chí phát triển, phương diện tài chính, kỹ thuật và hành chính. Các hoạt động dịch vụ công cộng cũng như quản lý công bị sắp đặt thiên lệch do thiếu kiến thức và kỹ năng đầy đủ. Do vậy, khả năng cung cấp sự trợ giúp ít tương ứng với yêu cầu cho việc thực hiện các chương trình phát triển. Sự chậm trễ của những quyết định hành chính cũng làm giảm khả năng và kết quả thực thi. Ở một khía cạnh khác, các tổ chức làng xã như hợp tác xã, các tổ chức xã hội còn thiếu khả năng tổ chức chặt chẽ hoặc còn mang tính hình thức, chưa có khả năng đáp ứng và hoàn thành các yêu cầu về hoạt động phát triển ở các cộng đồng. Điều này dẫn tới việc kiểm soát xã hội có những khó khăn hơn.

- Ngoài ra còn có những vấn đề tác động ảnh h­ưởng của thế giới, khu vực và trong xu thế hội nhập phát triển, đó là: sự phát triển và tăng trư­ởng kinh tế toàn cầu và khu vực; vấn đề tôn giáo, sắc tộc và xung đột vũ trang chi phối các vấn đề quan hệ kinh tế, chính trị, ngoại giao; quá trình dân chủ hoá đời sống xã hội ở nhiều quốc gia và thế giới; sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin v.v..

Những vấn đề trên đã tác động ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm lý cá nhân, tâm lý, tình cảm cộng đồng dân tộc, làm nảy sinh những vấn đề xã hội đòi hỏi cần có sự quản lý, định hướng tốt.

3. Nhiệm vụ của quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số hiện nay

Đứng trước những thách thức đặt ra nêu trên, quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay cần tập trung vào các nhiệm vụ sau:

- Bảo đảm bình đẳng xã hội và đoàn kết xã hội (bình đẳng về quyền chính trị, bình đẳng về tộc người và đoàn kết dân tộc, bình đẳng giới trong dân tộc, bình đẳng về cơ hội phát triển, đồng thuận dân tộc...). Để làm tốt vấn đề này, cần tiếp tục đổi mới những quy định trong hệ thống pháp luật về bầu cử, ứng cử nhằm tăng cường quyền lực chính trị của nhân dân. Mặt khác, cần tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về quyền chính trị cho đồng bào dân tộc thiểu số cùng với các biện pháp đặc thù để tạo điều kiện cho người dân thực hiện các quyền cơ bản của mình. Rà soát lại hệ thống văn bản pháp quy có liên quan để bổ sung những yêu cầu cần thiết nhằm tăng cường sự tham gia của nhân dân vào các hoạt động quản lý địa phương, quản lý nhà nước, các hoạt động tự quản cộng đồng. Mở rộng các hoạt động hình thức dân chủ phù hợp trong đời sống các cộng đồng dân tộc để họ tham gia hiệu quả hơn vào các quá trình quản lý xã hội.

       Đối với các quyền dân sự, cần tăng cường thông tin, phổ biến giáo dục pháp luật đến cho đồng bào nhằm nâng cao hiểu biết về quyền lợi và trách nhiệm trong hệ thống quy định chung. Bên cạnh đó, cung cần tiếp tục điều chỉnh, bổ sung chính sách liên quan đến nguyên tắc quyền cư trú của một số nhóm đối tượng di cư tự do; áp dụng tập quán tốt đẹp trong hôn nhân gia đình; quyền bình đẳng giới v.v..

- Thực hiện an sinh xã hội và phúc lợi xã hội nhằm bảo đảm việc làm và thu nhập tối thiểu; bảo đảm quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội thiết yếu, cơ bản của con người như giáo dục, nhà ở, nước sạch, y tế, thông tin; thực hiện trợ giúp xã hội cho những người nghèo dân tộc thiểu số; giảm thiểu bất bình đẳng xã hội, nhất là trong thu nhập, mức sống, thụ hưởng các dịch vụ xã hội giữa các vùng, miền, nhóm dân tộc.

Cần tiếp tục thể chế hóa và xây dựng những chính sách ưu tiên thúc đẩy việc làm đối với nhóm lao động trong khu vực phi chính thức, đặc biệt là đối với  lao động là người dân tộc thiểu số ở khu vực nông thôn, lao động tự do… nhằm tăng cường tính bền vững đối với việc làm ở các khu vực này vì đây là khu vực chịu nhiều rủi ro về điều kiện, môi trường làm việc, thu nhập và thiếu tính ổn định hơn so với khu vực chính thức.

- Thúc đẩy phát triển con người, phát triển xã hội như: phát triển các năng lực xã hội, tạo động lực xã hội; phát triển các thiết chế xã hội từ gia đình, nhóm, cộng đồng đến các tổ chức xã hội vùng dân tộc; duy trì và phát huy các yếu tố tích cực của thiết chế tổ chức truyền thống, tạo liên kết cộng đồng, nhóm dân cư, dân tộc; thúc đẩy ý thức tự lực, tự cường vươn lên của các cá nhân và cộng đồng dân tộc thiểu số.

- Quản lý và kiểm soát các xung đột xã hội, biến đổi xã hội như: xử lý “điểm nóng” xã hội, quản lý xã hội trong các tình huống tranh chấp quyền tiếp cận tài nguyên đất đai (liên quan đến đất đai các nông lâm trường, tình trạng sang/chiếm, mua bán, nhượng đất), nguồn nước; các xung đột quan hệ dân tộc nảy sinh;  kiểm soát di dân, tái định cư (nhất là đối với các công trình thủy điện, thủy lợi), dịch chuyển lao động vùng dân tộc, các vấn đề xã hội mới như ma túy, mại dâm, buôn bán người trong vùng dân tộc...).  

- Xử lý các vấn đề xã hội mới nảy sinh trên nhiều phương diện khác nhau của đời sống vùng dân tộc như: lao động, việc làm nông thôn và dịch chuyển đô thị, hôn nhân qua biên giới, di cư nội vùng và ngoại vùng, văn hóa truyền thống và biến đổi văn hóa, thay đổi và phát triển tín ngưỡng, tôn giáo....

Quản lý phát triển xã hội trong một quốc gia nhiều dân tộc có nhiều đặc điểm khác biệt là một nội dung quan trọng trong công tác quản lý nhà nước. Tình hình hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết đòi hỏi cần có những nghiên cứu đồng bộ và toàn diện, cả trên phương diện lý luận và thực tiễn để có những quyết sách và chính sách đúng đắn, phù hợp, bảo đảm thực hiện tốt mục tiêu phát triển bền vững cũng như chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước đã đề ra./.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

- PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội theo tinh thần Đại hội XII của Đảng; Tạp chí Cộng sản,

nguồn: http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2016/41686/Quan-ly-phat-trien-xa-hoi-thuc-hien-tien-bo-va-cong.aspx2015, truy cập 15/1/2018.

- Nguyễn Văn Mạnh, Một số vấn đề lý luận về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội, 2010. nguồn: http://www.vusta.vn/vi/news/Thong-tin-Su-kien-Thanh-tuu-KH-CN/Mot-so-van-de-ly-luan-ve-phat-trien-xa-hoi-va-quan-ly-phat-trien-xa-hoi-35789.html, truy cập 15/1/2018

- TS. Nguyễn Lâm Thành - PGS.TS. Lê Ngọc Thắng, Vấn đề dân tộc ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, Tạp chí Cộng sản, số 874 (8-2015).

 

 

 

Bài viết được đăng trên ấn phẩm Nghiên cứu lập pháp

Số 5 (357) Kỳ 1 Tháng 3/2018

 

 

 

 

Nguyễn Lâm Thành, TS. Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật thúc đẩy tích tụ, tập trung đất đai phục vụ phát triển nông nghiệp (13/03/2018)
một số vấn đề trong công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lí (29/01/2018)
Xây dựng nông thôn mới gắn với tái cơ cấu nông nghiệp (19/01/2018)
Những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp (11/01/2018)
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về thủy sản (26/12/2017)
Xây dựng chính sách, pháp luật và triển khai các hành động ứng phó biến đổi khí hậu ở Việt Nam (18/12/2017)
Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về thủy sản (26/12/2017)
6.jpg
Đồng chí Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm VPQH phát biểu khai mạc Hội thảo "Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và xã hội trong thúc đẩy thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã"
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân