|
Những điểm nhấn trong bức tranh kinh tế - tài chính Việt Nam năm 2011 và triển vọng năm 2012
|
||
|
Theo Tổng cục Thống kê và Nghị quyết kỳ họp Chính phủ tháng 9/2011, thì trong 9 tháng đầu năm 2011: Ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam có bước được cải thiện với các cân đối lớn của nền kinh tế cơ bản được bảo đảm; tốc độ tăng trưởng GDP ước đạt 5,76%, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ đạt kết quả khá; lạm phát tiếp tục được kiềm chế và có xu hướng giảm dần, chỉ số giá tiêu dùng tăng 18,16% so với cùng kỳ năm 2010; tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước bằng 99,5% cùng kỳ năm trước; tổng chi của Chính phủ khoảng 511.000 tỷ đồng, tăng khoảng 1-2 % tùy theo cách tính mức trượt giá); kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng khá cao; nhập khẩu ròng khoảng 7,7 tỷ USD (so với cùng kỳ năm trước giảm 0,9 tỷ USD); thu ngân sách đáp ứng các nhiệm vụ chi, đồng thời góp phần giảm bội chi; giải ngân các nguồn vốn có chuyển biến tích cực; tốc độ tăng huy động vốn, dư nợ tín dụng và tổng phương tiện thanh toán phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô; dự trữ ngoại tệ tăng, thị trường ngoại hối và tỷ giá ngoại tệ cơ bản ổn định; lãi suất ngân hàng được điều chỉnh giảm; an sinh xã hội được bảo đảm, nhiều chính sách tiếp tục được triển khai có hiệu quả, góp phần giảm bớt khó khăn cho nhân dân; các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, giải quyết việc làm... được quan tâm chỉ đạo và đạt những kết quả tích cực. Chính trị, xã hội tiếp tục ổn định; quốc phòng được tăng cường; an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Công tác cải cách hành chính, giải quyết khiếu nại, tố cáo và đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiếp tục được chú trọng và có tiến bộ. Việc ký kết và triển khai có kết quả các hiệp định và thoả thuận quốc tế, các hoạt động đối ngoại trong và ngoài nước đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy hơn nữa công tác đối ngoại và quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với các nước, nâng cao vị thế, uy tín của đất nước. Bên cạnh đó, nền kinh tế nước ta đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức: Kinh tế vĩ mô chưa vững chắc; sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; lạm phát vẫn còn cao; sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, hàng hóa tồn kho lớn; thị trường bất động sản trì trệ; mặt bằng lãi suất cao, nợ xấu của các ngân hàng còn lớn; nhập siêu còn cao, dự trữ ngoại tệ thấp, sức ép tỷ giá lớn; đời sống của một bộ phận dân cư có thu nhập thấp, công nhân trong các khu công nghiệp, đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn; thiên tai, dịch bệnh còn tiềm ẩn nhiều bất ổn, khó lường… 1. Bức tranh kinh tế - tài chính năm 2011 Năm 2011 ghi dấu ấn khá sâu đậm trong đời sống kinh tế - tài chính của Việt Nam với nhiều màu sắc đan xen và điểm nhấn nổi bật sau: Thứ nhất, sức ép lạm phát cao kéo dài từ nhiều phía Năm 2011 là thời điểm hội tụ và bùng nổ nhiều sức ép lạm phát chủ yếu từ nguyên nhân trong nước, trước hết từ tác động trễ của giai đoạn thực hiện cung tín dụng và tiền tệ mở rộng trước đó, cũng như từ sự điều chỉnh “sốc” tỷ giá và giá một số mặt hàng nhạy cảm, như giá xăng, dầu, điện, đồng thời được nhân bội bởi những cú sốc giá vàng thế giới với liên tiếp lập những đỉnh mới kỷ lục. Trên thực tế, sức ép từ lạm phát tiền tệ ngày càng giảm dần gắn liền với xu hướng Chính phủ và các cơ quan chức năng duy trì nhất quán chính sách tài chính tiền tệ chặt chẽ, hạn chế khá nghiêm ngặt mức tăng trưởng tín dụng chỉ còn dưới mức 15% so với kế hoạch 20% đầu năm (tức chỉ còn bằng 1/2 so với mức tăng gần 30% của năm 2010); hạn chế cho vay phi sản xuất và tiêu dùng; cắt giảm đầu tư công và thâm hụt ngân sách; đồng thời gia tăng kiểm soát tình trạng buôn bán vàng miếng và ngoại tệ không có giấy phép… Ngược lại, sức ép lạm phát chi phí đẩy lại có xu hướng gia tăng áp lực kéo dài cả năm 2011, gắn liền với các đợt điều chỉnh tăng giá xăng dầu, điện diễn ra liên tiếp trong năm; với cuộc đua lãi suất huy động và cho vay và với các đợt liên tiếp điều chỉnh lương tối thiểu các đối tượng thuộc mọi khu vực (trong đó có việc lần đầu tiên từ tháng 10/2011, Việt Nam chính thức xóa bỏ sự cách biệt lương tối thiểu giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với trong nước). Bên cạnh đó, áp lực lạm phát của Việt Nam cũng chịu sức ép cộng hưởng bởi xu hướng tăng lạm phát chung của thế giới (lạm phát ngoại nhập), nhất là về giá dầu, gạo, thực phẩm… Ngoài ra, xung lực gia tăng lạm phát cầu kéo ở Việt Nam cả trong năm 2011 và tới đây còn gắn liền với sự để ngỏ khả năng điều chỉnh tăng giá xăng, dầu, điện và một số mặt hàng đầu vào và độc quyền khác theo động thái giá thị trường (dù trước mắt vẫn phải tuân thủ một số hạn chế nhất định về thời gian và bước giá khi điều chỉnh); cũng như sự gia tăng những bất ổn và khắc nghiệt về thời tiết, sâu bệnh; cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, năng suất lao động và hiệu quả đầu tư thấp; quản lý giá và hệ thống lưu thông, phân phối hàng hóa còn bất cập; chi phí đầu vào của sản xuất, kinh doanh tăng mạnh; công tác thông tin tuyên truyền chưa tốt, sự phối hợp thực hiện chính sách và cả do yếu tố quản lý, tâm lý, đầu cơ thị trường... cũng góp phần đẩy giá lên cao. Tuy nhiên, về cơ bản, động thái lạm phát vẫn theo đồ thị truyền thống hình Sin hàng năm, tức tăng cao vào dịp quý 1 và giảm dần vào quý 2 và 3, trước khi tăng cao trở lại vào các tháng cuối quý 4… Tính chung, mức lạm phát cuối năm so cùng kỳ năm trước sẽ có nhiều khả năng đạt tới trên 18%, tức cao hơn năm 2010 và cao gấp hơn 2,5 lần mức kế hoạch đặt ra đầu năm; đồng thời, mức tăng trưởng GDP cả năm 2011có thể sẽ thấp hơn năm ngoái một chút do hạn chế động lực tăng trưởng từ thu hẹp nguồn đầu tư công theo tinh thần Nghị quyết 11 của Chính phủ và thu hẹp dòng vốn đầu tư xã hội do lãi suất tín dụng cao. Thứ hai, nhiều ghi nhận mới về nhận thức, điều hành và kết quả hoạt động kinh tế - tài chính vĩ mô Tiếp nối quyết định điều chỉnh tăng tỷ giá lên 9,3%, tăng giá xăng - dầu từ 17 - 24%, tăng giá điện trên 15%, ngày 24/2/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chủ trì Hội nghị trực tuyến với 63 địa phương để triển khai Nghị quyết 11/NQ-CP về các nhóm giải pháp chủ yếu để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hiện nay là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; đồng thời, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khuyến khích xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, sử dụng tiết kiệm năng lượng… Những quyết sách mới mạnh mẽ và dứt khoát đã được thông qua theo hướng thắt chặt cả tài chính tiền tệ, theo đó, năm 2011, tăng trưởng tín dụng khoảng 15 - 17%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 12%; tăng thu ngân sách, tiết kiệm chi tiêu, thu hẹp và cắt giảm đầu tư công, giảm bội chi ngân sách nhà nước còn dưới 5%; dư nợ Chính phủ, nhất là dư nợ nước ngoài phải đảm bảo trong giới hạn an toàn và an ninh tài chính quốc gia; đồng thời xem xét miễn, giảm thuế, gia hạn thời gian nộp thuế nguyên liệu đầu vào nhập khẩu phục vụ sản xuất xuất khẩu đối với những ngành hàng trong nước còn thiếu nguyên liệu (như dệt may, da giầy, thủy sản, hạt điều, gỗ, dược phẩm,...); tiếp tục tạm hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa thực xuất khẩu trong năm 2011. Vốn tín dụng được ưu tiên phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vốn dành cho các khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán sẽ giảm dần về tốc độ và tỷ trọng. Lãi suất giảm dần cả đầu vào và đầu ra; tỷ giá sẽ được điều hành linh Thông điệp nổi bật và đáng chú ý nhất trong điều hành năm 2011 của Chính phủ là dứt khoát lựa chọn việc ổn định vĩ mô như một ưu tiên chủ đạo và quan trọng nhất, là mục tiêu và nền tảng của toàn bộ hoạt động điều hành chính sách của Chính phủ trong năm 2011. Đây là lựa chọn mới và hết sức đúng đắn của Chính phủ phù hợp với yêu cầu mới của quản lý và phát triển kinh tế xã hội đất nước trước các sức ép mới nhiều mặt từ bối cảnh trong nước và quốc tế đang có nhiều thay đổi nhanh chóng và nhạy cảm. Thực tế đã, đang và tiếp tục cho thấy, cũng như cần nhấn mạnh rằng, ổn định chính trị - kinh tế - xã hội là một thành tựu và tài sản quốc gia vô giá nhất của Việt Nam; đồng thời, không có sự ổn định vĩ mô và tạo đồng thuận xã hội cao, thì chắc chắn sẽ không thể có phát triển kinh tế và những thành tựu khác. Trong bối cảnh quốc tế và trong nước đang nhạy cảm và nhiều khó khăn của thời kỳ hậu suy giảm toàn cầu, nhất là trong sự hội tụ sức ép những mất cân đối và bùng nổ của những cú sốc tăng tỷ giá và giá xăng, dầu, điện… thì ổn định càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Hơn nữa,việc dũng cảm hạ chỉ tiêu thâm hụt NSNN và tiết giảm tối đa đầu tư công, nhất là đầu tư của khu vực DNNN và các chi tiêu NSNN không thiết yếu khác, đồng thời định hướng lại ưu tiên cho vay các nguồn vốn, tín dụng phát triển cũng là điểm nhấn quan trọng cho thấy những phát triển mới trong nhận thức lý luận và quyết tâm hành động thực sự của Chính phủ về chuyển dần động lực phát triển kinh tế từ bề rộng sang bề sâu, từ chủ yếu dựa vào đầu tư công sang tăng dần vai trò của đầu tư từ khu vực kinh tế ngoài nhà nước và thúc đẩy quá trình tái cấu trúc kinh tế lớn và lâu dài của các khu vực kinh tế và cả nền kinh tế trong bối cảnh tăng cường hội nhập và nâng cao chất lượng phát triển theo hướng hiện đại và bền vững. Cần nhấn mạnh rằng, ở Việt Nam không hề có sự mâu thuẫn trong việc tô đậm tính chất thắt chặt của chính sách tài chính - tiền tệ nêu trên với yêu cầu tiếp tục duy trì động lực tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy tái cơ cấu của năm 2011. Nói cách khác, chính nhờ tiết giảm các khoản chi NSNN không cần thiết và kém hiệu quả trong khu vực kinh tế Nhà nước, cũng như hạn chế cho vay kinh doanh bất động sản và chứng khoán nhiều rủi ro, phi sản xuất, cùng với nâng tỷ giá USD sẽ giúp tiết kiệm các nguồn lực xã hội, cả NSNN và tín dụng ngân hàng, và tạo cơ hội thuận lợi hơn cho mở rộng và tiếp cận các nguồn vốn và động lực phát triển của các doanh nghiệp, đặc biệt trong sản xuất xuất khẩu, phát triển công nghiệp phụ trợ và sản xuất nông nghiệp... thuộc danh mục ưu tiên hỗ trợ phát triển mà Chính phủ đã đưa ra. Sự đồng bộ chính sách và phân công trách nhiệm cụ thể trong hoạt động điều hành cũng là một điểm nhấn mới đáng chú ý và trên thực tế Chính phủ đã bao quát nội dung các lĩnh vực và phân công nhiệm vụ, chặt chẽ hơn cho các địa phương, cấp, ngành có liên quan (nhất là ngành Tài chính và Ngân hàng, Bộ Công thương và các địa phương - đô thị lớn trên cả nước) với thời gian và yêu cầu cụ thể, từ đó giúp bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả thực tế của triển khai các tư tưởng chỉ đạo và chính sách kinh tế - tài chính trong thực tế. Trong điều kiện lãi suất vay trên dưới 20%/năm, các doanh nghiệp phải đối diện với áp lực ngày càng căng thẳng về trả lãi và thanh toán các khoản nợ đến hạn, duy trì hoạt động, lợi nhuận và cả bộ máy sản xuất. Trên thực tế, có sự gia tăng mạnh cả về số lượng doanh nghiệp phá sản, giải thể, dừng hoạt động và không nộp thuế… cũng như lượng người đăng ký thất nghiệp so với năm trước. Tuy nhiên, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới (hơn 57.000) vẫn lớn hơn số doanh nghiệp thuộc cả 3 loại trên (khoảng 50.000). Hiện tại, tổng dư nợ của hệ thống tín dụng Việt Nam đang bằng khoảng 1,2 lần GDP Việt Nam (so với mức trung bình thế giới khoảng 0,6 - 0,7 lần GDP); hiệu quả của vốn đầu tư cũng đang giảm thấp đến mức báo động (ICOR của Việt Nam gần gấp đôi so sánh với các nước trong khu vực). Tín dụng tăng vọt, nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn, do ngân hàng vẫn là kênh chủ yếu cấp vốn cho nền kinh tế (theo điều tra của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 70% doanh nghiệp còn dựa chủ yếu vào các nguồn vốn vay và có tới 1/3 doanh nghiệp vừa và nhỏ không thể tiếp cận nguồn vốn vay, nên đầu tư và kinh doanh cầm chừng và 1/3 tuy có tiếp cận được nhưng gặp khó khăn). Mặc dù tỉ lệ nợ công Việt Nam được coi là vẫn nằm trong tầm kiểm soát, nhưng đã trở nên cao hơn hẳn so với tỉ lệ phổ biến 30% - 40% ở các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi khác. Nợ công tăng nhanh trong bối cảnh thâm hụt ngân sách cao và kéo dài đã đe dọa tính bền vững của quản lí nợ công ((năm 2011, Việt Nam bố trí 85.000 tỷ đồng để trả nợ so với 590.000 tỷ đồng thu ngân sách - tỷ lệ gần 15%) và gây áp lực lên lạm phát, đây cũng là nguyên nhân chính khiến xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam đều bị các cơ quan xếp hạng tín dụng hạ thấp. Năm 2011, thu hút FDI tuy giảm về lượng đăng ký so với năm 2010, tuy nhiên, có sự cải thiện tích cực nhất định về giải ngân thực tế, cũng như cơ cấu đầu tư theo sát hơn mục tiêu mà Việt Nam đề ra. Đồng thời, năm 2011 cũng chứng kiến sự giảm sâu và trầm lắng kéo dài của cả thị trường bất động sản, lẫn của thị trường chứng khoán; ngược với sự nóng bỏng đến phi lý của thị trường vàng về những đỉnh cao kỷ lục cả về giá bán, lẫn chênh lệch giá trong nước với nước ngoài (có lúc lên tới 5 triệu đồng, tức hơn 245 USD/lạng). Sự bất ổn thị trường (bao hàm cả về quy mô, khả năng cân đối cung - cầu và mức giá cả hợp lý…) không chỉ phản ánh động thái chung thị trường thế giới, mà còn liên quan đến tính độc quyền cao, kéo dài của một số nhà cung ứng hay những “chiêu” gây nhiễu và tạo sóng của giới đầu tư có tính đầu cơ; cũng như liên quan đến xu hướng gia tăng tự do hóa thị trường cho đầu tư tư nhân nước ngoài trong các vực mà Việt Nam đã cam kết, trong đó có hệ thống bán lẻ và thu mua, chế biến xuất khẩu… 2. Triển vọng kinh tế - tài chính Việt Nam năm 2012 Điểm nhấn nổi bật cho Việt Nam năm 2012 sẽ là sự tiếp nối nhất quán các xu hướng chủ trương, điều hành và chính sách đang thực hiện năm 2011, nhưng có thể sẽ có sự cải thiện đáng kể một số chỉ tiêu kinh tế - tài chính vĩ mô nêu trên; đặc biệt, sẽ có sự cải thiện rõ hơn ở mức lạm phát, lãi suất, cân đối ngân sách và đầu tư công, cũng như sự gia tăng quy mô và vai trò đầu tư tư nhân trong tổng đầu tư xã hội… Với tư cách là quá trình mở và có nội hàm rộng, công cuộc tái cấu trúc kinh tế cả ở cấp vĩ mô, lẫn vi mô, phạm vi quốc gia, cũng như trong mỗi khu vực, ngành và doanh nghiệp, tập trung chuyển đổi mô hình tăng trưởng trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, nâng cao năng suất lao động xã hội, tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế; tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và cơ cấu đầu tư trong thời gian tới là rất bức thiết, dù sẽ gặp nhiều khó khăn và cả rủi ro liên quan trực tiếp đến các khía cạnh vốn, thị trường, lao động, công nghệ và thương hiệu…gắn với sự lựa chọn định hướng đầu tư, sản phẩm, ngành và lợi thế cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và địa phương. Trong khi các lợi thế và thị trường truyền thống mất đi, các sản phẩm và thị trường mới chưa ổn định và thu lợi chắc chắn, các doanh nghiệp, và do đó, nền kinh tế sẽ đối diện với những chi phí vốn khổng lồ, kéo theo những hệ lụy toàn diện và không dự liệu hết. Trong năm 2012, vấn đề tái cấu trúc khu vực DNNN sẽ được quan tâm và hy vọng có chuyển biến mới với yêu cầu cao hơn của Chính phủ về các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước phải tập trung vốn đầu tư vào các ngành nghề sản xuất, kinh doanh chính, không đầu tư ngoài ngành, nhất là các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán. Đối với các tập đoàn, tổng công ty trước đây đã đầu tư vào các lĩnh vực này phải sớm có kế hoạch thoái vốn, tiến tới chấm dứt kinh doanh. Các bộ quản lý ngành có phương án xử lý kiên quyết, dứt điểm đối với các tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước sản xuất, kinh doanh không hiệu quả, thua lỗ kéo dài; đề xuất mô hình quản lý các tập đoàn, tổng công ty nhà nước phù hợp theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Về tổng thể, Việt Nam đang và sẽ còn đối diện với nhiều bài toán và thách thức truyền thống và phi truyền thống, trong khi khả năng huy động và sử dụng các công cụ và các nguồn lực để giải quyết chúng có xu hướng co hẹp hoặc giảm, thậm chí mất đi lợi thế tương đối, đòi hỏi Việt Nam phải có những nhận thức mới và quyết tâm, cùng cách làm mới, trong khi kiên định mục tiêu phát triển bền vững đã lựa chọn. Đặc biệt, cần kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng công tác tham mưu về chính sách phát triển kinh tế, các hoạt động quản lý hành chính nhà nước, điều tiết thị trường cũng như nâng cao năng lực quản lý và hiệu quả đầu tư nhà nước; tăng cường kiểm tra thị trường, giảm thiểu tình trạng đầu cơ, lũng đoạn và lợi dụng tăng giá tùy tiện trên thị trường; tăng đồng cảm và đồng hành cùng doanh nghiệp, gia tăng các hoạt động bảo lãnh vốn vay cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (nhất là cho các doanh nghiệp có tín nhiệm, có dự án có khả năng thu hồi vốn và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao); đơn giản hóa các thủ tục vay vốn (nhất là thủ tục tín chấp, quy định về chứng thư bảo lãnh); điều chỉnh thời hạn cho vay vốn phù hợp với chu kỳ sản xuất; cần đi đúng quy trình an toàn trong hành trình đi tới thị trường cạnh tranh đầy đủ, thực hiện cạnh tranh cung ứng trước khi thực hiện giá cả thị trường,nhất là trong ngành điện, xăng dầu…; thực hiện nâng, mềm hóa trần lãi suất huy động và khống chế trần lãi suất cho vay và gia tăng kiểm soát vĩ mô nhằm hạn chế tình trạng buôn bán vốn lòng vòng và tập trung cho vay rủi ro vào lĩnh vực phi sản xuất, từ đó giúp cải thiện nguồn vốn cho đầu tư sản xuất, cũng như giảm thiểu nguy cơ bất ổn hệ thống ngân hàng; đồng thời, cần sử dụng nhiều hơn các công cụ kinh tế (mua bảo hiểm tiền gửi bắt buộc ở mức cao và lũy tiến theo quy mô huy động tín dụng và sự lành mạnh của hoạt động tín dụng của ngân hàng; tăng các chế tài phạt tài chính nghiêm khắc đủ sức răn đe những vi phạm quản lý ngân hàng…) cùng với các công cụ hành chính (quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc và khống chế hạn mức tín dụng…) để hướng ngân hàng vào các hoạt động tín dụng mang lại hiệu quả cao cho nền kinh tế. Cần coi trọng phát triển hệ thống các công cụ cảnh báo sớm, tăng cường công tác thông tin (nhất là chất lượng công tác thống kê), dự báo và phản biện chính sách xã hội trước các biến động nhanh chóng của thị trường, nhất là mặt trái của những chính sách đang và sẽ triển khai; xây dựng những kịch bản chủ động ngăn chặn các nguy cơ bất ổn cục bộ và hệ thống, mà trước hết là từ các khoản nợ công, tín dụng ngắn hạn và cơ cấu nợ tập trung quá mức, sự thiếu hụt khả năng thanh khoản và những bất minh tài chính nội bộ; tăng cường công tác giám sát đánh giá đầu tư; kịp thời phát hiện những sai phạm và có biện pháp xử lý nghiêm minh nhằm ngăn chặn tình trạng thất thoát, lãng phí, tham nhũng trong đầu tư xây dựng, loại bỏ các dự án đầu tư kém hiệu quả, đầu tư dàn trải, kể cả các dự án đầu tư ra nước ngoài… Nguồn: Tạp chí Ngân hàng
|









