Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 18/05/2012, 22:09(GMT+7)
 
Chính sách

Hiệu quả từ quỹ tín dụng vi mô và giảm nghèo cho nhóm xã hội yếu thế
Hiệu quả từ quỹ tín dụng vi mô và giảm nghèo cho nhóm xã hội yếu thế
Ảnh: TTXVN

 

 

 

 

 

 

 

 

      
   

 

Quỹ tín dụng vi mô trong nội dung bài viết này là “Mô hình tín dụng cho các hộ gia đình nhóm yếu thế vay vốn tăng thu nhập” trong dự án “Các cơ chế cộng đồng trong việc giảm thiểu tác động của HIV/AIDS tại Việt Nam”, do Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Người cao tuổi Việt Nam, Trường đại học Y Thái Nguyên, Trung tâm Nghiên cứu trợ giúp người cao tuổi, Trung tâm Phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS đồng phối hợp thực hiện, với sự vận động và tài trợ của tổ chức Hỗ trợ Người cao tuổi quốc tế (HAI). Dự án này được triển khai ở các cộng đồng có số lượng đông nhóm yếu thế ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam. Đối tượng hưởng lợi dự án là thành viên yếu thế, thiệt thòi trong các cộng đồng (phụ nữ người cao tuổi, dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn). Mô hình hoạt động của quỹ tín dụng vi mô là cho các thành viên nhóm yếu thế trong các cộng đồng hưởng lợi nguồn vốn vay của dự án để phát triển kinh tế gia đình. Cùng với hoạt động vay vốn, người vay vốn không phải thế chấp tài sản, thì điểm đặc trưng của mô hình vay vốn này là người vay vốn được tư vấn về phương thức sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện của gia đình, người vay vốn được tham gia các lớp tập huấn về tăng thu nhập, các buổi hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm do dự án tổ chức. Đây chính là điểm khác biệt của mô hình vay vốn so với các mô hình vay vốn khác. Có thể nói, những ưu điểm này của quỹ tín dụng đã có tác động quan trọng trong việc thay đổi phương thức sản xuất, tạo công ăn việc làm, quan trọng hơn nữa là nâng cao nguồn thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình yếu thế trong các cộng đồng hưởng lợi dự án.

Dựa vào kết quả số liệu định tính và định lượng của đợt đánh giá cuối dự án, bài viết này đề cập tới việc tiếp cận quỹ tín dụng vi mô của dự án và những thay đổi trong hoạt động kinh tế (thu nhập, chi tiêu), hay nói cách khác là giúp các hộ gia đình nhóm xã hội yếu thế trong vùng dự án thoát nghèo. 

1. Vùng dự án, phương pháp và mục đích đánh giá

Vùng triển khai dự án

Dự án “Các cơ chế cộng đồng trong việc giảm thiểu tác động của HIV/AIDS tại Việt Nam” được triển khai từ tháng 10/2005 đến tháng 10/2009 tại miền Bắc Việt Nam. 67 cộng đồng đã được chọn để triển khai dự án là các xã, phường thuộc bốn tỉnh, thành: Hà Nội, Nam Định, Thái Nguyên và Quảng Ninh. Đây là các địa phương đại diện cho các vùng có số lượng người nhiễm HIV cao nhất ở phía Bắc Việt Nam. Các địa phương này cũng có số lượng đáng kể người nghiện ma tuý và gái mại dâm, đồng thời có số người di cư, qua lại làm ăn khá lớn. Các địa bàn được lựa chọn đa dạng về địa lý và dân tộc, có những địa bàn là trung tâm thành thị như Hà Nội, địa bàn có dân tộc thiểu số sinh sống như Thái Nguyên, có địa bàn nằm ở khu vực miền núi và giáp ranh với biên giới như Quảng Ninh. Có thể nói, nhiều người cao tuổi ở những khu vực này đang phải gánh chịu vai trò là người chăm sóc cho con cái bị  HIV/AIDS và những đứa cháu mồ côi do bố mẹ chúng đã chết vì căn bệnh AIDS.

Một trong số các mục đích của dự án là cải thiện đời sống (thu nhập và chi tiêu) của những gia đình có người bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS. Dự án đã thông qua Câu lạc bộ đồng cảm người cao tuổi ở 67 cộng đồng, tổ chức cho các thành viên yếu thế vay vốn phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho hộ gia đình. Các thành viên thuộc nhóm xã hội yếu thế trong các cộng đồng (là phụ nữ cao tuổi, có thân nhân nhiễm HIV/AIDS, hoàn cảnh kinh tế khó khăn) được vay vốn tăng thu nhập cho gia đình và được tập huấn, tư vấn về hoạt động tăng thu nhập phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh gia đình.

Phương pháp và mục đích đánh giá

Thời điểm đánh giá dự án cuối kỳ vào tháng 8/2009, như đã nêu ở phân trên, phương pháp định tính và định lượng là hai phương pháp chủ đạo của đợt đánh giá cuối kỳ dự án. Trong đó, mẫu định lượng: 3.487 thành viên câu lạc bộ, 100 tình nguyện viên của câu lạc bộ, 67 ban chủ nhiệm, 32 lãnh đạo địa phương, 200 người (nhiễm HIV và nguy cơ cao); mẫu định tính: 4 thảo luận nhóm, 16 phỏng vấn sâu.

Mục đích của đợt đánh giá nhằm làm rõ những thay đổi, trong đó có việc cải thiện đời sống của nhóm yếu thế trong cộng đồng sau bốn năm dự án triển khai, cụ thể là hoạt động tiếp cận nguồn vốn và sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay vào phát triển kinh tế gia đình tại các cộng đồng hưởng lợi dự án.

2. Tiếp cận quỹ tín dụng vi mô và thay đổi kinh tế hộ gia đình

Tiếp cận quỹ tín dụng

Vào thời điểm dự án chưa triển khai ở các địa phương thuộc bốn tỉnh, đa số người cao tuổi có thân nhân là người nhiễm HIV và nhóm nguy cơ cao thuộc nhóm gia đình nghèo trong cộng đồng chưa tiếp cận được với các dịch vụ vay vốn của các ngân hàng như Ngân hàng Chính sách, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn..., do gia đình không có tài sản thế chấp ngân hàng. Vì vậy, một trong những mục tiêu của dự án là triển khai hoạt động vay vốn nhằm giúp phụ nữ cao tuổi tiếp cận với vốn vay tín dụng vi mô cá nhân hoặc vốn vay theo nhóm phát triển sản xuất, tăng thu nhập, cải thiện điều kiện sống cho gia đình và tiếp cận các dịch vụ xã hội.

Kết quả khảo sát đánh giá cuối dự án cho thấy, phần lớn thành viên tham gia Câu lạc bộ đồng cảm cho biết đã được tiếp cận với dịch vụ vay vốn từ các tổ chức khác nhau ở địa phương. Cụ thể, có 2.267 (chiếm 65,0%) thành viên câu lạc bộ trong mẫu phỏng vấn cho biết đã được vay vốn. Trong đó, 2.121 (93,6%) thành viên vay từ Câu lạc bộ đồng cảm của dự án, 444 (chiếm 19,6%) thành viên vay từ Hội Phụ nữ, 227 (chiếm 12,2%) thành viên vay từ ngân hàng, 53 (chiếm 2,3%)  vay từ các hội, đoàn thể khác, 27 (chiếm 1,2%) vay  từ Hội Người cao tuổi, 10 (chiếm 0,4%) vay tư nhân, và (0,9%) vay nguồn khác.

Như vậy, kết quả này cho thấy, dự án đã giúp các thành viên yếu thế trong cộng đồng tiếp cận với nguồn vốn vay của dự án để phát triển kinh tế gia đình. Số liệu cũng cho thấy, thành viên nhóm yếu thế không chỉ tiếp cận với nguồn vốn vay của dự án mà còn tiếp cận với một số nguồn vốn khác ở địa phương.

Tham gia tập huấn và chia sẻ kinh nghiệm

Bên cạnh việc giúp thành viên câu lạc bộ tiếp cận nguồn vay vốn, dự án còn hướng dẫn tổ chức hoạt đông tập huấn/chia sẻ kinh nghiệm về hoạt động tăng thu nhập nhằm nâng cao khả năng thực hành phát triển sản xuất của các thành viên được vay vốn. Hoạt động này đã thu hút đông đảo thành viên tham gia.

Kết quả khảo sát cuối kỳ cho thấy, các thành viên Câu lạc bộ rất nhiệt tình tham gia hoạt động này. Về tập huấn, hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm có 3.294 (chiếm 94,5%) thành viên trả lời có tham gia, chỉ có một số ít cho biết không tham gia (2,8% không tham gia, và 2,6% trả lời không nhớ). Về tập huấn, giới thiệu về mô hình tín dụng tiết kiệm (vốn vay, cơ chế vay, hoàn trả lãi, gửi tiết kiệm,...): có 3.332 (chiếm 95,6%) thành viên Câu lạc bộ cho biết có tham gia hoạt động này, chỉ có 2,0% thành viên trả lời không tham gia, 2,2% thành viên trả lời không nhớ.

Phải thấy rằng, hoạt động tập huấn, chia sẻ kinh nghiệm liên quan đến vấn đề vay vốn tăng thu nhập của dự án đã thu hút sự quan tâm của thành viên. Cùng với hoạt động vay vốn, hoạt động này đã làm thay đổi phương thức sản xuất, hiệu quả kinh doanh của hộ gia đình yếu thế trong các cộng đồng hưởng lợi dự án.

Sử dụng vốn vay và hiệu quả kinh tế

Khi thành viên câu lạc bộ được tiếp cận với nguồn vốn và tham gia tập huấn, chia sẻ về hoạt động tăng thu nhập thì việc họ sử dụng vốn vay vào hoạt động kinh tế sau khi tham gia tập huấn như thế nào là vấn đề được dự án rất quan tâm. Kết quả khảo sát cho thấy, có 1.202 (chiếm 53%) thành viên trong mẫu khảo sát trả lời sử dụng vốn vay để kinh doanh, buôn bán nhỏ. Hơn 1/3 (37,5%) số thành viên trong mẫu khảo sát cho biết sử dụng vốn vay để chăn nuôi, 319 (chiếm 14,1%) thành viên cho biết sử dụng vốn vay để phát triển trồng trọt, 80 (3,5%) cho biết sử dụng vốn để sản xuất hàng thủ công, chỉ có 231 (chiếm 10,2%) thanh viên cho biết sử dụng vốn vay vào việc khác. Như vậy, người vay vốn sử dụng vốn vay rất đa dạng. Nhưng hầu hết thành viên câu lạc bộ đã sử dụng vốn đúng mục đích và mong đợi của thiết kế dự án là tập trung vào các hoạt động phát triển kinh tế, nhằm tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho hộ gia đình.

Hiệu quả kinh tế đã thấy rõ. Hầu hết thành viên trong mẫu khảo sát (96,2% thành viên vay vốn) của dự án cho biết, khoản vay đó có giúp tăng thêm thu nhập của gia đình, trong khi đó chỉ còn một số tỷ lệ rất nhỏ (2,9%) cho biết không tăng thu nhập của gia đình, và 0,1% trả lời thu nhập giảm đi so với trước.

Như vậy, số liệu cho thấy một kết quả rất đáng mừng là hầu hết thu nhập của thành viên Câu lạc bộ tăng lên do được vay vốn từ dự án, và chỉ còn một tỷ lệ không đáng kể thành viên được vay vốn phát triển sản xuất nhưng thu nhập không tăng hoặc giảm đi. Tìm hiểu nguyên nhân, lý do không phát huy hiệu quả nguồn vốn vay của một số hộ gia đình, chủ yếu là do khoản vay ít hoặc do đầu tư không đúng mục đích, hoặc do dịch bệnh, thiên tai... Có 94,0% thành viên trong mẫu khảo sát cho biết khoản được vay quá ít, 31,3% trả lời do không đầu tư đúng hoạt động, 22,4% cho biết do dịch bệnh, thiên tai, 20,9% cho biết không biết cách làm, 20,9% cho biết do lý do khác.

Hiệu quả kinh tế của quỹ tín dụng vi mô đối với gia đình  nhóm yếu thế ở các địa phương dự án triển khai cùng được phản ánh trong các số liệu định tính. (Xem hộp 1)

Có thể nói, thành công của quỹ tín dụng vi mô của dự án là bên cạnh việc giúp thành viên tiếp cận nguồn vốn vay, dự án còn tập huấn, hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm về các hoạt động tăng thu nhập, nhằm nâng cao khả năng thực hành phát triển sản xuất của các thành viên được vay vốn. Điều kiện vay và quy chế hoàn trả vốn và trả lãi của quỹ tín dụng dự án có nhiều ưu thế xã hội hơn điều kiện và quy chế hoàn vốn của các ngân hàng nhà nước. Chính những ưu thế này đã góp phần vào thành công của hoạt động vay vốn. Đây là mô hình vay vốn có hiệu quả, phần lớn thành viên trong câu lạc bộ vay vốn được phỏng vấn đều biết áp dụng kiến thức từ khóa tập huấn và phát triển kinh tế gia đình.

Thay đổi cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình

Khi mức thu nhập của hộ gia đình thành viên trong Câu lạc bộ được nâng cao do hiệu quả của sử dụng vốn vay phát triển sản xuất kinh doanh, thì tất yếu dẫn đến những sự thay đổi trong cơ cấu và hành vi chi tiêu. Kết quả khảo sát cuối dự án cho thấy, cơ cấu và hành vi chi tiêu của gia đình thành viên trong câu lạc bộ rất đa dạng, tuy nhiên, các khoản chi phí lại tập trung chủ yếu cho việc ăn uống, thuốc thang chăm sóc sức khoẻ và học hành. Có 94,8% thành viên trong mẫu khảo sát cho biết chi cho việc mua lương thực, thức ăn, 91,5% thành viên trả lời chi cho chăm sóc sức khoẻ, mua thuốc, 38,3% cho biết chi cho học tập của các thành viên gia đình; 53,9% cho biết đưa vào nguồn thu nhập chung và sử dụng chung trong gia đình; 34,0% đầu tư tiếp cho sản xuất, kinh doanh; 23,9% mua sắm các tài sản, vật dụng trong gia đình. Phải nói rằng, cơ cấu và tỉ lệ chi tiêu cho các khoản này đã thay đổi và nâng lên hơn nhiều so với thời điểm khảo sát cơ bản ban đầu của dự án.

Kết quả trên tiếp tục chứng minh rằng, việc sử dụng nguồn thu nhập vào các hoạt động chi tiêu của các thành viên Câu lạc bộ đúng mong đợi dự án đưa ra ban đầu là hiệu quả của thu nhập sẽ nâng mức chi cho việc ăn uống, tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ xã hội như thuốc thang, chăm sóc sức khoẻ và học hành. Các thay đổi về thu nhập và chi tiêu trước và sau dự án của hộ gia đình có thành viên vay vốn từ quỹ tín dụng vi mô của dự án cũng được thể hiện trong số liệu định tính. (Xem hộp 2)

Có thể khẳng định, hiệu quả của sử dụng vốn vay đến tăng thu nhập đã trực tiếp tác động đến cơ cấu và hành vi chi tiêu của hộ gia đình thành viên trong Câu lạc bộ đồng cảm. Điều đáng quan tâm là việc cải thiện thu nhập đã giúp gia đình thành viên Câu lạc bộ tiếp cận tốt hơn đến các dịch vụ xã hội. Nếu trước dự án, do thu nhập thấp nên hoạt động chi tiêu của hộ gia đình cho các khoản hầu như không có gì... nhưng khi nguồn vốn vay của dự án chuyển đến câu lạc bộ, thu nhập của hộ gia đình thành viên câu lạc bộ tăng lên và đã cơ cấu chi tiêu vào rất nhiều khoản. Từ mua lương thực, thực phẩm, thuốc men chữa bệnh, các khoản chi khác thấp hơn như chi cho học tập của các thành viên gia đình, đưa vào nguồn thu nhập chung và sử dụng chung trong gia đình, đầu tư tiếp cho sản xuất, kinh doanh, mua sắm các tài sản, vật dụng trong gia đình. Đây là những kết quả tốt của dự án, đúng như mong đợi ban đầu của dự án.            

3. Một số nhận xét và bàn luận

Những dẫn chứng và phân tích trên là bằng chứng rõ nét về tác động của qũy tín dụng vi mô đến việc cải thiện đời sống kinh tế cho nhóm xã hội yếu thế ở các địa phương trong vùng dự án. Các hoạt động của quỹ tín dụng vi mô của dự án đã có đóng góp không nhỏ vào quá trình giảm nghèo ở cộng đồng và giúp nhóm xã hội yếu thế hòa nhập xã hội.

Phải thấy rằng, các hoạt động của mô hình quỹ tín dụng vi mô của dự án không chỉ giúp nhóm xã hội yếu thế (ở đây là phụ nữ cao tuổi, hoàn cảnh khó khăn có thân nhân bị nhiễm HIV/AIDS) tiếp cận nguồn vốn vay của dự án, mà còn mở rộng tiếp cận tốt hơn đến các nguồn vốn khác ở địa phương.

Quỹ tín dụng vi mô, bên cạnh việc cung cấp vốn vay, tạo điều kiện thuận lợi khi vay, quy chế hoàn trả vốn và trả lãi, còn tổ chức các hoạt động tập huấn, hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm về tăng thu nhập nhằm nâng cao khả năng thực hành phát triển sản xuất của các thành viên được vay vốn. Chính những ưu thế này nổi bật này đã góp phần quan trọng vào thành công và hiệu quả kinh tế của gia đình nhóm yếu thế hưởng lợi vốn vay dự án.

Sau bốn năm dự án triển khai, những thành viên yếu thế trong cộng đồng được vay và sử dụng vốn vay đã thay đổi phương thức sản xuất kinh doanh phù hợp với điều kiện hoàn cảnh gia đình. Hiệu quả từ nguồn vốn vay đó đã giúp họ mở rộng cơ cấu thu nhập, chi tiêu của hộ gia đình. Nhiều hộ gia đình nhóm yếu thế trong cộng đồng không chỉ giảm, thoát nghèo mà còn tiếp cận tốt hơn đến các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục.

Ở một khía cạnh nào đó, chính sự thay đổi đời sống gia đình yếu thế thông qua tiếp cận nguồn vốn quỹ tín dụng vi mô đã giúp họ khẳng định vị thế của họ hơn, hòa nhập vào cộng đồng. Chính điều này có thể tác động đến nhận thức và nhìn nhận của các cấp chính quyền về khả năng và năng lực hòa nhập xã hội của các nhóm yếu thế, để từ đó có các chính sách xã hội phù hợp hơn. Mặt khác, nó cũng có tác động đến các định chế tài chính ở cơ sở (hệ thống ngân hàng, quỹ tín dụng) cũng cần cải thiện hơn các quy chế vay, hoàn trả vốn sao cho phù hợp với điều kiện của các nhóm xã hội yếu thế ở cộng đồng hiện nay. 

Có thể nói, hoạt động vay vốn của dự án không chỉ đem lại những lợi ích trước mắt mà còn mang lại nhiều kết quả thiết thực, lâu dài cho nhóm xã hội yếu thế trong các cộng đồng hưởng lợi dự án. Hoạt động này sẽ và tiếp tục phát huy hiệu quả tại các địa phương hưởng lợi dự án, cho dù dự án đã rút và không còn nguồn tài trợ. Mô hình tín dụng vi mô theo kiểu này rất đáng tham khảo để nhân rộng ra các địa phương, vùng miền trên phạm vi cả nước.

TS. Nguyễn Đức Chiện - Viện Xã hội học.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Các tiêu chí nền kinh tế thị trường trong thương mại quốc tế (15/05/2012)
Vai trò, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền làm chủ (04/05/2012)
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng phẩm chất cán bộ ngành tư pháp (18/04/2012)
Kiến nghị giải pháp phát triển vững chắc các khu kinh tế (30/03/2012)
Hạn chế của công tác xóa đói giảm nghèo và giải pháp đổi mới (05/03/2012)
Một số vấn đề pháp lý về hợp nhất các ngân hàng thương mại cổ phần (13/02/2012)
Triển vọng kinh tế Việt Nam và khu vực tiền tệ - ngân hàng trong năm 2012 (01/02/2012)
Một số vấn đề pháp lý về hợp nhất các ngân hàng thương mại cổ phần (13/02/2012)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân