Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 24/10/2014, 19:40(GMT+7)
 
Chính sách

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực và trách nhiệm của nhà nước trong lĩnh vực đào tạo nghề
Với tư cách là thành viên của WTO, thành viên của ASEAN, Việt Nam đang thực hiện quá trình hội nhập mạnh mẽ vào đời sống kinh tế quốc tế. Sự hội nhập ấy tạo cho Việt Nam một “thế” thuận lợi. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải có “lực” thực sự mới có thể giữ vững “thế” đó và phát triển. Liên quan đến tạo “lực”, một trong những bài toán đang đặt ra là nhân lực.

1. Chiến lược phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam trong giai đoạn mới

1.1. Sự cần thiết của việc phát triển nguồn nhân lực

  Với tư cách là thành viên của WTO, thành viên của ASEAN, Việt Nam đang thực hiện quá trình hội nhập mạnh mẽ vào đời sống kinh tế quốc tế. Sự hội nhập ấy tạo cho Việt Nam một “thế” thuận lợi. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải có “lực” thực sự mới có thể giữ vững “thế” đó và phát triển. Liên quan đến tạo “lực”, một trong những bài toán đang đặt ra là nhân lực. Có thể nói, không có nhân lực, không có con người, lực lượng lao động với tay nghề, phẩm chất cần thiết thì không thể vận hành nền kinh tế - xã hội.

Không chỉ các nhà đầu tưK, các doanh nghiệp nước ngoài mà ngay cả các nhà đầu tư, các đơn vị sử dụng lao động của Việt Nam cũng rất cần nhân lực, với số lượng lớn và chất lượng cao. Thị trường sản xuất, dịch vụ ngày càng đòi hỏi ở người lao động những phẩm chất đặc dụng của nghề nghiệp, những phẩm chất có tính chuyên nghiệp cho một nền công nghiệp hiện đại và có tính toàn cầu.

Tầm quan trọng của nguồn nhân lực

Nhân lực là vấn đề hết sức quan trọng và là một trong những điểm mấu chốt của lực lượng sản xuất. Nhân lực là sự quyết định mang tính nền tảng bởi nó trả lời cho câu hỏi: Ai là người chế tạo và vận hành máy móc, công nghệ? Ai tạo ra sản phẩm, các giá trị? Khi kinh tế càng phát triển, tốc độ đầu tư, tốc độ kinh doanh càng quay nhanh, công nghệ càng hiện đại, phương thức sản xuất càng đổi mới, trình độ sản xuất của xã hội càng tiến nhanh từ nền kinh tế tự động hoá tới nền kinh tế tri thức thì sự đòi hỏi đối với lực lượng lao động càng cao. Nhân lực không chỉ đáp ứng vấn đề số lượng mà còn đảm bảo vấn đề chất lượng của lực lượng sản xuất. Và bản thân nhân lực còn có thể tự thân vận động và làm phát triển nó bên cạnh việc phát triển sản xuất.

Trình độ lao động và những đòi hỏi của thị trường /nhà đầu tư/ người sử dụng lao động

Thực trạng lao động của Việt Nam hiện nay đang bộc lộ sự mất cân đối. Nếu như trước kia Việt Nam thiếu vốn trầm trọng thì nay lại bị thiếu nhân lực ở mức đáng báo động. Hàng ngàn dự án đầu tư đang trong giai đoạn triển khai hoặc sắp được triển khai có nguy cơ phải dừng lại hoặc phải kéo dài, thậm chí có thể bị huỷ bỏ vì thị trường lao động của Việt Nam không đáp ứng nổi nhu cầu nhân lực do thiếu lao động có tay nghề cao, thiếu thợ lành nghề, thiếu lực lượng lao động có tác phong công nghiệp dù Việt Nam đang “sở hữu” lực lượng lao động hùng hậu với trên 50 triệu người trong độ tuổi lao động. Điều đó cho thấy, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực hiện nay bức thiết đến mức nào.

Cung ứng nhân lực cho thị trường lao động quốc tế

Một trong những mục tiêu chiến lược của Việt Nam trong những năm tới là đưa được số lượng lớn người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Việc đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài không chỉ nhằm giải quyết việc làm cho người lao động mà còn hướng tới mục tiêu tăng thu nhập và thu hút ngoại tệ; dồng thời góp phần rèn luyện tay nghề, kỹ năng, tác phong của người lao động. Giữa hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và hoạt động thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam có mối liên hệ khá mật thiết và bổ sung, nâng đỡ cho nhau. Cho nên, ở khía cạnh nào đó, việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng góp phần thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

1.2. Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực và những vấn đề đặt ra đối với việc hoạch định và triển khai chiến lược phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam

- Vấn đề lý luận thuần tuý hay là một quan điểm phát triển?

Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực được hiểu là phương châm và biện pháp mang tính toàn diện về việc đào tạo lực lượng lao động bao gồm những người lao động với những kỹ năng, kỹ thuật và trình độ nhất định để họ có thể tiếp cận với công việc trong hệ thống kinh tế - xã hội. Mỗi thời kỳ phát triển xã hội có một chiến lược đào tạo nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu của thời kỳ đó. Và thêm nữa, chiến lược đào tạo nguồn nhân lực của một quốc gia còn phụ thuộc vào quan điểm của các nhà lãnh đạo, của Chính phủ đứng ra chỉ huy và vận hành nền kinh tế xã hội.

Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực là phương châm có tính ổn định trong một thời gian dài và phải phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vì xét cho cùng, việc đào tạo nguồn nhân lực chính là nhằm đảm bảo cho nhu cầu nhân lực của các ngành kinh tế quốc dân. Không thể tồn tại một chiến lược đào tạo nguồn nhân lực nằm ngoài không gian kinh tế - xã hội của quốc gia.

Chiến lược đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề có tính định hướng. Sự định hướng không phải tập trung ở việc xác định số lượng mà còn tập trung ở chủng loại và chất lượng lao động. Toàn bộ nền kinh tế, mỗi ngành kinh tế quốc dân, mỗi địa phương, mỗi tập đoàn, thậm chí mỗi doanh nghiệp đều có chiến lược đào tạo nguồn nhân lực của riêng mình. Sở dĩ có hiện tượng này là do mỗi khu vực kinh tế đều có quy hoạch riêng và mục tiêu phát triển riêng mà nguồn nhân lực là một trong những điều kiện không thể thiếu bên cạnh những điều kiện khác như: tài chính, thị trường, công nghệ…

Bên cạnh đó, chiến lược đào tạo nguồn nhân lực luôn đi kèm với các biện pháp hay giải pháp thực thi. Các giải pháp được đề ra luôn phải phù hợp với phương châm và năng lực đào tạo. Tuy nhiên, giải pháp đào tạo nghề có thể được xây dựng vượt trên khả năng đào tạo hiện có nhưng có tính khả thi nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.

Câu hỏi đặt ra là, chúng ta đã có chiến lược phát triển nguồn nhân lực hay chưa? Để giải đáp cho câu hỏi trên phải xem xét ở nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, có thể nói, ở bất cứ giai đoạn nào của sự phát triển xã hội, việc xây dựng, duy trì và cung ứng một lực lượng lao động giàu kỹ năng, có tinh thần trách nhiệm và có tác phong lao động tốt là yêu cầu luôn luôn được đặt ra. Nguồn nhân lực có chất lượng cao càng là đòi hỏi của nền sản xuất xã hội. Bởi lẽ, ngày nay, trong tương lai gần, và trong nhiều năm nữa, Việt Nam được coi là một trong những trung tâm thu hút đầu tư của khu vực và thế giới. Điều đó có nghĩa, việc chuẩn bị nguồn nhân lực đủ khả năng tiếp nhận được những thành tựu công nghệ, quản lý, luôn là vấn đề được quan tâm sâu sắc. Vì thế, muốn xác định được sự hiện diện của một chiến lược nguồn nhân lực thì điều đơn giản nhất phải cắt nghĩa là đã có hay chưa một định hướng, một quy hoạch hoặc một kế hoạch rõ ràng, ổn định trong một thời gian nhằm tạo ra, phát triển lực lượng lao động cho các hoạt động kinh tế - xã hội. Những hoạch định dài hơi và có tầm bao quát về lực lượng lao động đó có giá trị khá vững vàng và có quan hệ với tất cả các ngành kinh tế quốc dân, vừa là điều kiện để phát triển kinh tế, cải tạo xã hội, mặt khác, vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế.

- Vấn đề chất lượng và số lượng của nguồn nhân lực

Có thể nói, kỹ năng nghề, kỹ năng làm việc của người lao động luôn được coi là vấn đề quan trọng hàng đầu. Kỹ năng thực hành các hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh của người lao động thường được coi là thước đo có ý nghĩa quyết định của nguồn nhân lực. Trong thời đại công nghiệp hóa và toàn cầu hoá, kỹ năng lao động không còn là tài sản của nguồn nhân lực của một quốc gia. Đối với Việt Nam, cái thiếu lớn nhất hiện nay chính là chất lượng lao động. Với lực lượng lao động đông đảo, lại được bổ sung thường xuyên hàng năm, Việt Nam có một nguồn nhân lực dồi dào, thuộc loại hàng đầu của khu vực. Tuy nhiên, do sự mất cân đối trong đào tạo, tỷ lệ lao động kỹ thuật phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh chưa tương xứng. Số lượng lao động phổ thông chiếm tỷ lệ khá cao trong số người thuộc độ tuổi lao động. Nhưng, nói như vậy không có nghĩa là số lượng lao động không có vai trò trong hệ thống nguồn nhân lực. Mỗi ngành kinh tế đều cần một lực lượng lao động với nhiều loại lao động khác nhau. Vẫn có những vị trí, những khu vực kinh tế không đòi hỏi cao về trình độ của người lao động. Hơn nữa, nền kinh tế với sức phát triển mạnh mẽ cần có lực lượng lao động dự trữ, thay thế và bổ sung kịp thời cho thị trường lao động. Lực lượng lao động chưa đạt trình độ cao vẫn có cơ hội tạo nên năng lực lao động có trình độ cao do được dần dần tiếp cận thông tin, kỹ năng, tác phong lao động hiện đại trong xu hướng cạnh tranh việc làm và thu nhập.

- Vấn đề chuyển giao công nghệ trong làn sóng đầu tư

Phát biểu trong cuộc gặp các học viên của khoá đào tạo về Luật Dân sự và Thương mại theo chương trình do JICA (Nhật Bản) tổ chức tại trụ sở của tập đoàn Panasonic (Osaka, Nhật Bản đầu năm 2005), các nhà hoạch định chiến lược của Panasonic lo ngại rằng, chất lượng nguồn nhân công của Việt Nam chính là vấn đề ảnh hưởng đến chính sách đầu tư. Với những công nghệ tiên tiến được chuyển giao, các nhà đầu tư nước ngoài rất lo lắng vì hiện tại trình độ nhân công của Việt Nam chưa đủ khả năng tiếp nhận và sử dụng, vận hành. Sự lo lắng này đã được Thủ tướng Chính phủ của Việt Nam một lần nữa khẳng định trong hội nghị tổng kết thu hút đầu tư nước ngoài cuối năm 2007.

- Cung cách lao động mới hay là sự đối mặt với văn minh công nghiệp thực sự

Ngày nay, quá trình lao động, sản xuất đòi hỏi người lao động không chỉ có kỹ năng, kỹ thuật, tay nghề thực hành cao mà còn đòi hỏi họ có ý thức, tác phong và văn hoá khi tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh. Điều đó xuất phát từ yêu cầu của quá trình hợp tác, cạnh tranh nội bộ, và hơn nữa, của việc duy trì và phát triển các mối quan hệ với công chúng. Nếu lực lượng lao động có ý thức, tác phong chắc chắn sẽ tạo nên môi trường làm việc có văn hoá, có kỷ luật và dĩ nhiên là có điều kiện tạo ra và đạt được các mục tiêu năng suất, chất lượng, hiệu quả.

- Sự hạn chế về tính định hướng trong đào tạo nhân lực

Từ lâu, nhiều chuyên gia, doanh nhân và nhà quản lý đã cảnh báo tình trạng đáng báo động trong việc định hướng và xác định cơ cấu lao động trong hệ thống giáo dục - đào tạo của Việt Nam. Họ cho rằng, cơ cấu về trình độ của Việt Nam dường như đã thoát ly với điều này trên thế giới. Tỷ lệ lao động có nghề thực sự thấp hơn rất nhiều so với những người có bằng cấp ở bậc đại học, cao đẳng. Nói cách khác, cơ cấu lao động của nước ta mất cân đối nghiêm trọng[1]. Như vậy, định hướng đào tạo nhân lực chứng tỏ chưa bám sát với xu hướng đào tạo lao động phục vụ cho yêu cầu phát triển sản xuất trong thời đại công nghiệp và vì vậy, thực sự không thể đảm bảo cho việc tạo lập một lực lượng lao động với kỹ năng thích hợp và sẵn sàng vận hành nền sản xuất lớn đó.

- Sự lựa chọn cá nhân và những quan điểm lỗi thời

Người lao động có những lý do cá nhân để chọn nghề. Chọn nghề không chỉ tập trung vào loại nghề, loại công việc, mà còn biểu hiện ở việc lựa chọn trình độ để tiếp cận và tham gia quá trình đào tạo. Quan niệm phải có bằng cấp trình độ cao để tiếp cận với việc làm và đặc biệt là ước muốn có địa vị trong xã hội đã hướng lớp trẻ và nhiều người lao động tham gia vào quá trình đào tạo bậc cao tích cực hơn. Người lao động và các gia đình luôn thể hiện sự cố gắng tối đa để con em của họ vào học đại học và tiếp tục học lên hơn là sẵn sàng định hướng cho lớp trẻ tham gia các chương trình học nghề để kiếm sống. Và một trong những vấn đề đang hiện hữu ở Việt Nam có ảnh hưởng không nhỏ tới định hướng đào tạo và cơ cấu lực lượng lao động là quan niệm về tính ổn định về việc làm trong cơ quan công quyền - những nơi thường chủ yếu ưu tiên tuyển dụng lao động ở bậc cử nhân trở lên.

- Sự mâu thuẫn trong di chuyển lao động và đảm bảo quyền lao động rộng rãi của người lao động

Cùng một lúc, việc đào tạo nguồn nhân lực vừa nhằm mục tiêu phục vụ trực tiếp cho nội bộ nền kinh tế, vừa phục vụ cho hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, tức là vừa hội nhập kinh tế, vừa hợp tác quốc tế về lao động. Thực ra, việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài đã làm giảm sút số lượng người lao động tham gia vào các đơn vị sử dụng lao động nội địa. Nhưng, đó vẫn được coi là việc làm cần thiết vì quyền lao động của người lao động là một quyền rộng và tự do. Chính vì vừa phải đào tạo nhân lực phục vụ cho nhu cầu lao động trong nước, vừa phục vụ cho hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, nên yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực lại càng bức xúc. Bên cạnh đó, việc di chuyển lao động từ khu vực nông thôn ra thành thị, đặc biệt trong đó, số đông là những người nông dân bị thu hồi đất đai canh tác để xây dựng các khu kinh tế, khu nhà ở sang trọng, khu vui chơi giải trí… không có được trình độ nghề tổi thiểu để có thể tham gia nghiêm túc và đầy đủ vào thị trường lao động. Cái thiếu về trình độ tay nghề làm giảm sút khả năng di chuyển lao động và cơ hội việc làm của nhiều lao động nông thôn cho thấy vấn đề đào tạo càng trở nên bức bách.

- Đầu tư đào tạo nghề: những cái lợi trước mắt quá nhỏ so với tương lai (các cơ sở đào tạo chịu đựng thiệt thòi cho các công ty sử dụng thu lợi)

Hiện tại, nếu so sánh tương quan về đầu tư giữa các cơ sở đào tạo nghề độc lập với các doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân sử dụng lao động qua đào tạo nghề thì có thể thấy rõ những lợi thế của các nhà sử dụng lao động. Các nhà sử dụng lao động sử dụng nguồn nhân lực qua đào tạo của các cơ sở đào tạo công và tư. Họ không phải thực hiện các đơn đặt hàng cho các cơ sở đào tạo mà chủ yếu là tuyển dụng người lao động đã sẵn có trình độ, có kỹ năng. Chi phí ban đầu để đào tạo nghề, tạo nên nguồn nhân lực phục vụ cho các nhà tuyển dụng và cung ứng lao động cho nước ngoài hầu như do nhà nước và chính những người lao động bỏ ra. Đã có một số nhà tuyển dụng quan tâm đến quá trình đào tạo nguồn nhân lực, nhưng chủ yếu là dưới dạng đào tạo nội bộ và đào tạo lại (bồi dưỡng làm quen hoặc nâng cao). Tuy nhiên, xét cho cùng, trách nhiệm của xã hội là cung ứng lao động. Sự cung ứng “miễn phí” đó sẽ đổi lại những lợi ích lớn cho toàn bộ nền kinh tế và cho chính bản thân người lao động. Toàn bộ nền kinh tế được lợi do sự tăng trưởng qua việc nó đã góp phần đào tạo nguồn nhân lực, còn người lao động có được cơ hội làm việc, khả năng đảm bảo thu nhập và đời sống.

2. Trách nhiệm của nhà nước trong việc đào tạo nghề

2.1. Những khía cạnh mục tiêu

Mục tiêu tổng quát của chiến lược 10 năm 2001 – 2010 là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân; tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên thị trường quốc tế được nâng cao”[2]. Đồng thời, Việt Nam phải tập trung mọi nguồn lực để “nâng tỷ lệ người lao động được đào tạo nghề lên khoảng 40%”[3].

Theo nhận định chung, “đến năm 2010, nước ta có 56, 8 triệu người ở độ tuổi lao động, tăng gần 11 triệu người so với năm 2000”[4]. Đó là một lực lượng lao động hùng hậu về số lượng. Với định hướng “đến năm 2010, công nghiệp và xây dựng chiếm 40-41% DGP và sử dụng 23 - 24% lao động” cùng việc “đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn”[5] thì việc tập trung đào tạo nghề là vấn đề đang đặt ra cho nhà nước những thách thức rất lớn.

2.2. Phương châm và giải pháp cơ bản trong việc đào tạo nguồn nhân lực

Có thể nói, việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược đào tạo nghề là sự định đoạt thông minh, có ý nghĩa cho bài toán nhân lực trước thềm công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế. Nó cũng thể hiện trách nhiệm của nhà nước. Việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập và toàn cầu hoá kinh tế phải được thực hiện theo những phương châm căn bản sau:

-  Phải cơ cấu một cách hợp lý việc đào tạo nguồn nhân lực. Việc cơ cấu nguồn nhân lực phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững và hợp lý về tỷ lệ trình độ trong cơ cấu giáo dục và đào tạo. Muốn vậy, việc phê duyệt mở trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp, các trường dạy nghề phải được xem xét trong tổng thể các quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Cần chấm dứt hiện tượng cho phép mở các trường đại học, cao đẳng tràn lan, thậm chí cho cả những cơ sở không đủ năng lực mở trường đại học, cao đẳng. Cần tính toán nhu cầu lao động trong các ngành kinh tế quốc dân để quy hoạch mạng lưới các trường dạy nghề; đồng thời, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nghề.

- “Coi trọng đào tạo đội ngũ công nhân tay nghề cao, kỹ sư thực hành và nhà kinh doanh giỏi. Ưu tiên đào tạo nhân lực phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, miền núi, xuất khẩu lao động, một số ngành mũi nhọn”[6]. Đào tạo nguồn nhân lực không chỉ tập trung vào đào tạo các lao động ở trình độ cao mà cần tập trung nguồn lực cho việc đào tạo đội ngũ những người lao động có trình độ thực hành giỏi, trực tiếp tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cần tập trung nâng tỷ lệ công nhân kỹ thuật ở tất cả các ngành kinh tế quốc dân nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp.

- Cần thiết kế các chương trình mục tiêu quốc gia và tập trung các nguồn lực nhằm thực hiện tốt các chương trình đó. Chính phủ cần chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn lực trong tổng thể quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, địa phương. Điều đáng quan tâm nhưng chưa được chú trọng thực sự là việc quy hoạch, đầu tư và phát triển các cơ sở dạy nghề. Hiện tại, việc quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng đang được quan tâm và đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch. Còn việc quy hoạch mạng lưới các trường dạy nghề mới được đưa vào văn bản của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và xã hội nhưng chưa có nội dung rõ ràng[7].

2.3. Trách nhiệm của nhà nước trong lĩnh vực đào tạo nghề

- Chính phủ cần tập trung nghiên cứu thiết kế chương trình mục tiêu quốc gia với nội dung chủ yếu sau: nghiên cứu xây dựng và đầu tư cho các trường, cơ sở dạy nghề theo hướng hiện đại hoá, hội nhập và chuẩn hoá trình độ đào tạo; khuyến khích đầu tư dạy nghề doanh nghiệp, coi doanh nghiệp là địa chỉ dạy nghề mang tính thực tiễn, thích ứng và năng động; xây dựng cơ chế quan hệ doanh nghiệp - cơ sở đào tạo nghề một cách chặt chẽ, trong đó doanh nghiệp và cơ sở đào tạo nghề là các bạn hàng bình đẳng và có khả năng bổ sung cho nhau trong một hệ thống thống nhất về nhu cầu và cung ứng dịch vụ; chuẩn bị tài chính và cơ chế quản lý linh hoạt nhằm tổ chức tốt việc thực thi các hoạt động đầu tư, phát triển các cơ sở dạy nghề, các hoạt động đào tạo nghề trước mắt cũng như lâu dài. Cần xây dựng quỹ tài chính ổn định, đáp ứng yêu cầu: nhà nước cần tổ chức hỗ trợ tài chính dưới nhiều phương thức để xây dựng các cơ sở đào tạo nghề tầm cỡ khu vực và quốc tế, đồng thời có chính sách tài chính, thuế hợp lý đối với các cơ sở đào tạo nghề ngoài quốc doanh.

- Nhà nước cần nghiên cứu ban hành hệ thống luật pháp về đào tạo nghề. Tránh hiện tượng “vênh” giữa các quy định về đào tạo nhân lực và giáo dục quốc dân. Phải coi luật pháp về đào tạo nghề là một bộ phận của giáo dục quốc dân, trong đó đào tạo nghề được coi là khâu quan trọng trong chiến lược đào tạo nhân lực phục vụ cho nền kinh tế - xã hội.

- Cần có chính sách nhằm thu hút đào tạo nghề theo hình thức đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân nước ngoài có thể phối hợp hoặc tự mình mở các cơ sở đào tạo nghề hoặc chuyển giao công nghệ đào tạo nghề nhằm nâng cấp hoạt động đào tạo nghề của nước ta. Khuyến khích và cho phép các doanh nghiệp nước ngoài xây dựng các trường, trung tâm dạy nghề để sử dụng tại chỗ hoặc để công ty nước ngoài ký hợp đồng với người lao động để sử dụng họ.

- Bên cạnh việc xây dựng chính sách hiện đại hoá dạy nghề, cần khuyến khích các hoạt động đào tạo nghề truyền thống theo lối kèm cặp đối với các ngành nghề đặc trưng mang tính dân tộc như chạm, khảm, đan, thêu… nhằm giữ gìn và đẩy mạnh việc sản xuất các mặt hàng truyền thống phục vụ cho các hoạt động thương mại, quảng bá văn hoá…

- Muốn đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao thì phải đào tạo đội ngũ giáo viên dạy nghề giỏi lý thuyết và thực hành. Theo các ý kiến đưa ra tại cuộc hội thảo về đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ theo nhu cầu của doanh nghiệp được tổ chức tại Trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh ngày 28/10/2007 thì “số lượng giảng viên chưa đáp ứng được sự gia tăng về quy mô người học và còn nhiều hạn chế về năng lực chuyên môn, kỹ năng thực hành và khả năng sử dụng tiếng Anh”[8].

- Để thực hiện Chiến lược đào tạo nghề, nhà nước cần có chính sách đảm bảo tính liên thông giữa đào tạo nghề với hệ thống giáo dục quốc dân. Theo đó, cho phép và khuyến khích đồng thời có cơ chế thu hút học sinh tốt nghiệp các trường phổ thông cơ sở đến phổ thông trung học tham gia vào các chương trình đào tạo nghề. Đây là một trong những kinh nghiệm của Nhật Bản khi thiết kế hệ thống giáo dục quốc dân.

Bên cạnh những giải pháp thực hiện, cần tổ chức tuyên truyền sâu rộng và thường xuyên, đồng thời kiểm tra và chấn chỉnh hoạt động đào tạo nhân lực nhằm đảm bảo tối đa quyền lợi của người học và cơ sở đào tạo nghề.

[1] Hội thảo “Đào tạo - Việc làm: cơ hội và thách thức trong hội nhập quốc tế” do  Trường cao đẳng Nguyễn Tất Thành TP. Hồ Chí Minh tổ chức ngày 30/7/2007 đã chỉ ra những hạn chế trong lĩnh vực dạy nghề, huy động nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Theo các ý kiến được nêu ra tại hội thảo, thì cơ cấu lao động của Việt Nam là: 1 cử nhân – 1, 16 trung cấp chuyên nghiệp –0, 95 công nhân kỹ thuật; trong khi đó, tỷ lệ này ở các nước khác là: 1 cử nhân – 4 trung cấp chuyên nghiệp – 10 công nhân kỹ thuật.  

 [2]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001, tr.159.

[3] Sách đã dẫn, tr.160.

[4] Sách đã dẫn, tr. 210.

[5] Sách đã dẫn, tr. 175.

[6] Sách đã dẫn, tr. 203.

[7] Xem Quyết định số 06/2006/QĐ-BLĐTBXH ngày 2/8/2006 về sửa đổi, bổ sung một số điều trong Quy định về thủ tục thành lập và đăng ký hoạt động dạy nghề đối với trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề ban hành kèm theo Quyết định số 05/2006/QĐ-LĐTBXH ngày 10/7/2006 của Bộ trưởng Bộ Lao động -thương binh và xã hội.

[8]Diệu Hằng, Đào tạo nhân lực: cần kết hợp “ba nhà”, Báo điện tử Người Lao động ngày 29/10/2007, cập nhật 01h20: 31 GMT+7.

TS Lưu Bình Nhưỡng
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
IMG_8605.JPG
Đ/c Hoàng Văn Tú chúc mừng Tạp chí ngày 21-6-2013
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân