Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ ba, 06/01/2009, 12:02(GMT+7)
Chính sách

Điều kiện thu hút sự tham gia của các nhà khoa học vào hoạt động xây dựng pháp luật
Nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là những trụ cột cơ bản để tổ chức một xã hội dân chủ, văn minh, hiện đại. Trong một xã hội dân chủ, mọi quan tâm, cố gắng của các nhánh quyền lực nhà nước, suy cho cùng, đều phải vì nguyện vọng, lợi ích của người dân, vì mọi quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân.

I. Yêu cầu và khả năng tham gia của các chuyên gia vào hoạt động xây dựng pháp luật

Nền kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là những trụ cột cơ bản để tổ chức một xã hội dân chủ, văn minh, hiện đại. Trong một xã hội dân chủ, mọi quan tâm, cố gắng của các nhánh quyền lực nhà nước, suy cho cùng, đều phải vì nguyện vọng, lợi ích của người dân, vì mọi quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân. Đã từ lâu, chế độ đại nghị và dân chủ đại diện không còn là phương thức duy nhất đúng và phù hợp trong việc tổ chức một xã hội văn minh, hiện đại. Càng ngày, việc tham gia một cách trực tiếp của người dân nói chung và của các nhà hoạt động chuyên nghiệp nói riêng vào quá trình hình thành chính sách và pháp luật càng trở nên cần thiết và có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong việc tạo tiền đề để thực thi chính sách và pháp luật.

Việt Nam, những thành công và thất bại trong phương diện thiết lập và thực thi chính sách, pháp luật trong thời gian qua, ít nhiều đều có dấu ấn của việc tổ chức và thực hiện sự tham gia của công chúng vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách và pháp luật. Tính không chuyên nghiệp về pháp lý, về nghề nghiệp của các chính khách Việt Nam (các nhà làm luật, các nghị sĩ) cũng đặt ra thêm nhu cầu về sự thu hút trí tuệ của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là của các chuyên gia vào quá trình làm luật, làm chính sách.

Nắm vững nguyên lý đó, lực lượng chính trị nòng cốt ở Việt Nam đã ghi nhận điều này trong cương lĩnh của mình là: “Nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi người đều có thể phát huy hết tài năng, tham gia vào quá trình phát triển… đồng thời nâng cao trách nhiệm của mỗi người góp sức thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, và “tăng cường quản lý nhà nước đi đôi với nâng cao ý thức trách nhiệm của mọi người dân”[1]. Đây chính là tư tưởng lớn về vai trò của nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội; về ý nghĩa quyết định thắng lợi của sự tham gia của nhân dân trong các nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới.

Là bộ phận ưu tú trong nhân dân, các nhà khoa học có khả năng đặc biệt trong việc tham gia vào các hoạt động hình thành chính sách và ban hành pháp luật. Nhận thức được điều đó, Nghị quyết của Đảng còn nhấn mạnh: “Đổi mới phương thức và quy trình xây dựng thể chế, cải tiến sự phối hợp giữa các ngành, các cấp có liên quan, coi trọng sử dụng các chuyên gia liên ngành[2] và dành vai trò rất quan trọng cho tiếng nói của nhân dân, của doanh nghiệp. Đặc biệt tăng cường việc chỉ đạo, kiểm tra, nâng cao kỷ luật và hiệu lực thi hành pháp luật trong bộ máy nhà nước và xã hội”[3].

Liên quan tới công tác xây dựng luật, phần viết về định hướng cơ chế, chính sách và các giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch năm năm 2001 - 2005; trong đó có giải pháp tăng cường hiệu lực của các công cụ chính sách quản lý vĩ mô, hoàn thiện hệ thống pháp luật đã chỉ rõ định hướng “đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng luật, ban hành và thực thi pháp luật, trong đó chú trọng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật và tổ chức thi hành luật một cách nghiêm minh”[4].

Các tư tưởng trên đây trong Báo cáo chính trị và Nghị quyết của Đại hội Đảng X tựu trung đề cập đến vai trò của chiến lược tổ chức và thực hiện tư tưởng "nhà nước của dân, do dân, vì dân" thông qua sự kết hợp hợp lý giữa hiệu quả của dân chủ đại diện và phát huy sáng kiến, đóng góp của nhân dân qua khuyến khích hình thức dân chủ trực tiếp - sự tham gia của nhân dân vào quản lý nhà nước và xã hội; trong đó có sự tham gia của nhân dân vào quy trình xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật. Xa hơn nữa, và rất gần với lý thuyết về sự tham gia hiện nay của nhân dân vào công việc này ở một số nước phát triển[5], thì Văn kiện Đại hội Đảng X đã chỉ rõ đích đến của sự tham gia không phải là khai thác dân trí mà là sự đoàn kết toàn dân, sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội.

Như vậy, vấn đề của ngày hôm nay không chỉ dừng lại ở việc “lấy ý kiến nhân dân” vào một số luật và pháp lệnh và đi vào tìm hiểu các hình thức và biện pháp phát huy sự tham gia gia của nhân dân một cách thực chất. Đó là cách đặt vấn đề nghiên cứu về sự tham gia của nhân dân vào quy trình xây dựng và thực thi pháp luật để phân tích lý luận và thực tiễn xây dựng một mô hình thích hợp, nhằm hoàn thiện cơ chế tổ chức để nhân dân tham gia chủ động vào quy trình xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật trong một xã hội quản lý theo nguyên tắc nhà nước pháp quyền với sự tham gia tích cực của các cộng đồng xã hội. Sự tham gia này trước hết phải được đặt trên nền tảng minh bạch hoá các chính sách và pháp luật mà không chỉ dừng lại ở cách làm huy động những đợt lấy ý kiến rầm rộ mà chưa chắc đã đem lại hiệu quả cao và mức tham gia phổ cập ở bề rộng. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (LBHVBQPPL) sửa đổi năm 2002 đã bước đầu đặt nền móng cho sự công khai này.

Trong quá trình đổi mới cơ chế làm luật, bên cạnh nhu cầu cần phải đổi mới về quy trình, cách thức soạn thảo và thông qua luật, một đòi hỏi hết sức quan trọng đối với công tác xây dựng pháp luật mà thông qua đó tạo diễn đàn để các nhà chuyên môn tham gia đó là yêu cầu về tính minh bạch của pháp luật. Đây cũng được coi là những yêu cầu, điều kiện và cơ hội để các chuyên gia, các nhà khoa học tham gia vào quá trình xây dựng các văn bản pháp luật.

Có nhiều quan điểm khác nhau về "minh bạch hoá pháp luật" trong khoa học pháp lý hiện nay. Có quan điểm cho rằng, “minh bạch hoá pháp luật” chính là những yêu cầu về tính đúng đắn, tính tường minh của “chính sách pháp luật”. Bởi vì suy cho cùng, “chính sách pháp luật” là linh hồn của cả hệ thống pháp luật. Chính sách pháp luật với tính cách là bộ phận cấu thành vĩ mô những yếu tố của đời sống pháp lý thì sự tường minh của một chính sách pháp luật có ảnh hưởng rất lớn tới hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia.

Theo nghĩa rộng, có thể hiểu "tính minh bạch của pháp luật" là tính rõ ràng, thông suốt, tính đúng đắn của cả hệ thống pháp luật và rộng hơn là đời sống pháp lý. Điều đó thể hiện ở:

1. Bắt đầu từ sáng kiến lập pháp phải dựa trên những nhu cầu và cơ sở thực tế của đời sống kinh tế, chính trị nhất định;

2. Các quy phạm pháp luật phải mang tính hệ thống, nhất quán, chặt chẽ, tránh trùng lắp và mâu thuẫn;

3. Pháp luật phải tạo ra hành lang pháp lý bình đẳng cho các chủ thể khi họ hội tụ đầy đủ các yếu tố luật định tham gia vào các quan hệ pháp lý mà rộng hơn là đời sống pháp lý;

4. Việc truyền đạt các nội dung pháp lý đến đối tượng thi hành phải kịp thời và đúng thủ tục;

5. Các cơ quan thi hành pháp luật phải được tổ chức một cách khoa học cũng như các cán bộ, công chức tiến hành các hoạt động áp dụng pháp luật phải được trao những quyền năng độc lập;

6. Các phán quyết của toà án phải được công bố công khai trong quần chúng;

7. Pháp luật phải thực sự đi vào cuộc sống của nhân dân, tạo niềm tin đối với nhân dân, từng bước nâng cao ý thức pháp luật trong quần chúng.

Trong tất cả những yêu cầu nêu trên, trước hết, chúng tôi thấy tựu trung lại có những nội dung đáng lưu ý như sau:

1) Pháp luật phải nhất quán

Bản thân hệ thống pháp luật là một cơ thể sống hoàn chỉnh, bao gồm các yếu tố logic; chặt chẽ; không thể mâu thuẫn, chồng chéo lẫn nhau. Yêu cầu này được đặt ra với cả hệ thống pháp luật, đối với từng lĩnh vực luật và ngay cả đối với từng văn bản pháp luật hoặc quy phạm pháp luật. Trong pháp luật kinh doanh ở Việt Nam, tính không nhất quán có thể thấy rất rõ.

Để pháp luật ngày càng nhất quán§, nhất thiết phải xem xét lại cách thức làm việc của cơ quan dân cử (Quốc hội), bởi vì đây là cơ quan có quyền lập pháp duy nhất và pháp luật phải tạo ra cho nó một trình tự lập pháp ngày càng nghiêm ngặt. Đồng thời, hạn chế đến mức tối đa việc ban hành các văn bản pháp quy của các cơ quan hành pháp.

Trong quá trình hình thành tính nhất quán của pháp luật, vai trò của các nhà lập pháp là vô cùng quan trọng. Họ phải nghiên cứu, đánh giá và nhận dạng được hết những "sản phẩm" của mình cùng với chất lượng của chúng. Tuy nhiên, như đã trình bày, các nhà lập pháp của Việt Nam, về số đông vẫn chỉ là những người làm luật "kiêm nhiệm", ít có thời gian và điều kiện để nghiên cứu, nhận biết được nhu cầu này. Tuy không chính thức song khi bàn về nguyên nhân yếu kém của hệ thống pháp luật, đã có quan niệm nêu một trong những nguyên nhân của nó là do tỷ lệ các luật gia rất thấp trong cơ cấu nhân sự Quốc hội ở nước ta. Chúng tôi không đồng tình quan niệm này vì các đại biểu Quốc hội có "nghề nghiệp" là chính khách chứ không phải là làm nghề luật. Các đại biểu Quốc hội cùng nhau quyết định những vấn đề chính sách, thể hiện trong các quy định pháp luật và vì vậy, họ không nhất thiết phải là các nhà khoa học pháp lý. Vấn đề là ở chỗ, cần có cơ chế làm sao để các nhà chính trị có thể quyết định đúng đắn những vấn đề pháp lý. Đây chính là mảnh đất để các chuyên gia pháp lý thể hiện tài năng và sứ mệnh của mình.

Chúng tôi cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, các chuyên gia pháp lý sẽ có thể có vai trò quan trọng trong việc khắc phục  tình trạng:

a, Nhận thức chưa chuẩn xác về quan niệm luật chung - luật chuyên ngành mà gần đây thường được ghi nhận trong các Điều 2 của các đạo luật;

b, Tính chất cát cứ và cục bộ trong việc soạn thảo (rồi ban hành) của các văn bản pháp luật nói chung;

c, Sự thấp kém về tính khoa học pháp lý trong các văn bản pháp luật, đặc biệt là những sai sót về khoa học pháp lý cơ bản;

d, Thiếu một cơ chế hữu hiệu để giám sát tính hợp hiến của các đạo luật và hợp pháp của các văn bản dưới luật; thiếu khả năng để đề cao trách nhiệm (cố nhiên không phải là trách nhiệm vật chất hay hành chính) cho việc ban hành quy định sai, thậm chí có hại cho nền kinh tế và đời sống xã hội.

2) Pháp luật phải công khai, dễ truy cập đối với người dân

Việc xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật phải được tiến hành công khai, tạo điều kiện cho mọi lực lượng trong xã hội bảo vệ và cân bằng lợi ích của mình. Sau khi được ban hành, luật của quốc gia phải được công bố trên công báo, văn bản hành chính của các cơ quan hành pháp phải được công bố bởi các phương tiện thông tin dễ dàng truy cập đối với người dân.

Thêm nữa, để đời sống pháp lý theo nghĩa rộng ngày càng trở nên dân chủ, thì các bản án được tuyên bởi các toà án cũng cần được công bố, chí ít là các bản án đã có hiệu lực của toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao. Đây là một truyền thống đã được người Pháp (không phải vì họ là tư bản chủ nghĩa) du nhập vào Việt Nam, song cho đến nay đã không được duy trì.

Về nguyên tắc, chỉ coi tất cả những quy phạm pháp luật, những tập quán pháp luật và những án lệ (nếu ở Việt Nam được thừa nhận) là có giá trị áp dụng nếu như chúng được công bố công khai một cách chính thức. Để đáp ứng yêu cầu này, cần phải cải tiến cách công bố văn bản pháp luật hiện nay. Không thể có những văn bản được coi vào loại “mật” mà không đăng công báo. Hơn thế nữa, cần có những hướng dẫn chính thức về giá trị áp dụng (tùy nghi, lựa chọn) của những thông lệ thương mại đang tồn tại trên thế giới (thí dụ: incoterms).

Để đáp ứng nhu cầu này, các chuyên gia pháp lý, đặc biệt là các nhà khoa học sẽ có công lớn trong việc truyền tải các nội dung và tinh thần của pháp luật đến với công chúng. Họ là những "tuyên truyền viên cao cấp" trong việc phổ biến những tri thức pháp lý cho quảng đại những người áp dụng và thi hành pháp luật. Để và có thể làm được như vậy, các chuyên gia pháp lý cần có những điều kiện và khả năng thuận lợi trong việc tham gia, quan sát và theo dõi toàn bộ quá trình ban hành từng văn bản pháp luật.

3) Pháp luật phải  tin cậy được và dự đoán trước được

Một đặc tính của pháp luật là tính công bằng, do đó, pháp luật phải đáng tin cậy, phải là những đại lượng tượng trưng cho lẽ phải. Bởi vì an toàn pháp lý là một dịch vụ công cộng mà người dân chờ đợi ở nhà nước. Nếu pháp luật không đáng tin cậy thì thực sự là một điều nguy hiểm. Khi đó, người dân có thể đang sống trong “rừng luật” nhưng họ lại xử sự với nhau bằng một thứ “luật rừng”. Điều đó đồng nghĩa với việc nhà nước không thể hiện được vai trò và quyền lực của mình. Muốn tránh được những điều này thì việc xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật không được gây ra những cú sốc, ngạc nhiên, bất ngờ cho đối tượng bị áp dụng. Việc sửa đổi, bổ sung pháp luật phải được thông báo công khai trước một thời hạn hợp lý để người dân có thời gian chuẩn bị. Điều này ngày càng có ý nghĩa trong việc tạo môi trường ổn định trong kinh doanh.

Hơn thế nữa, để có thể lường trước được, trong chừng mực nhất định, những đối tượng xã hội có liên quan đến một văn bản mới sắp được ban hành cần được tạo điều kiện để họ có ý kiến về nội dung của pháp luật. Quả thực thì trong thời gian gần đây, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã có nhiều cố gắng tổ chức các hoạt động này nhân dịp có những văn bản pháp luật mới về kinh tế, song vẫn có thể khẳng định rằng, việc lấy ý kiến này vẫn chưa tỏ ra là thực chất và đặc biệt đáng buồn là những ý kiến khách quan và phù hợp, đôi khi không được các ban soạn thảo tham khảo một cách nghiêm túc.

Gần đây, việc lấy ý kiến về các dự thảo văn bản pháp luật có được tổ chức rầm rộ và đều khắp hơn, song trong quy trình soạn thảo và ban hành văn bản pháp luật vẫn chưa có một quy định và sự khẳng định một cách rõ ràng về giá trị tham khảo của các loại ý kiến của các chính giới - điều lẽ ra cần quy định trong luật về trình tự, thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật.

Bên cạnh đó, sự tham gia của các chuyên gia pháp lý còn ở mức khá khiêm tốn. Những người có ý kiến tham gia với các dự thảo luật nhiều khi chưa phải là các chuyên gia và chuyên gia trong lĩnh vực thuộc đối tượng điều chỉnh của văn bản luật. Thêm vào đó, sự tham khảo các ý kiến nghiệp vụ, khoa học của chuyên gia từ phía các Ban soạn thảo còn bị ngăn cản bởi những chỉ đạo, định hướng từ phía quyền lực chính trị. Vì vậy, hình thức tham gia của các chuyên gia vào quá trình xây dựng, ban hành pháp luật còn hạn chế.

Tính có thể dự đoán được của pháp luật không chỉ dừng lại ở việc chuẩn bị cho nhận thức về nội dung của pháp luật và tinh thần sẵn sàng áp dụng pháp luật.

Một văn bản pháp luật ra đời nếu được áp dụng sẽ gây tác động đến đời sống xã hội. Những tác động đó có thể ở hướng tích cực và tiêu cực đối với những đối tượng khác nhau; ở dạng tinh thần và vật chất của việc đưa pháp luật trở thành hiện thực thực tế. Những sự gia tăng hay giảm bớt các chi phí về sức người, sức của khi một văn bản ra đời và đi vào cuộc sống được gọi là giá (hay giá thành) của một đạo luật và việc tính toán (dự toán) đó phải được coi là nhiệm vụ tiên liệu của những người chuẩn bị, ban hành pháp luật. Đáng tiếc là chưa thấy một tờ trình nào đề cập vấn đề này, có chăng chỉ là tranh cãi về cơ quan chủ quản, chủ trì thi hành luật.

Tính có thể dự đoán được của luật còn bao gồm cả vấn đề mà trong hoạt động tố tụng, các cơ quan áp dụng pháp luật phải lấy lẽ công bằng là một nguyên lý cho hoạt động của mình. Nếu người dân nhờ đến toà án giải quyết những tranh chấp mà pháp luật chưa quy định, thì thẩm phán phải lấy lẽ công bằng mà phán xét, chứ không phải trả lại đơn chỉ vì thiếu văn bản quy định. Để làm được việc này, pháp luật phải trả lại cho tòa án cái quyền mà đáng ra từ trước đến nay nó không được phép mất: đó là “quyền giải thích pháp luật”. Đặc biệt trong lĩnh vực luật tư cần thiết phải thực hiện nguyên tắc “áp dụng tươngtự”.

Về những vấn đề này, các chuyên gia pháp lý của Việt Nam đã có không ít những cố gắng chứng minh và thuyết phục trên tinh thần khoa học, song đáng tiếc là những nguyên lý, phương pháp tư duy này chưa làm lay chuyển được suy nghĩ của những người "bấm nút" thông qua luật để từ đó có thể có những chính sách, phương pháp tư duy pháp lý phù hợp cần được thể hiện trong các văn bản pháp luật.

II. Những điều kiện cần thiết để thu hút chuyên gia vào xây dựng pháp luật

1. Những điều kiện khách quan

Điều kiện khách quan để thu hút sự tham gia của các chuyên gia pháp lý (những người hoạt động trên thực tiễn và những nhà khoa học) vào các hoạt động xây dựng pháp luật là những điều kiện chung về kinh tế - xã hội và chính trị của đất nước. Đó là những điều kiện liên quan đến bối cảnh tồn tại và hoạt động của các chuyên gia trong một xã hội hiện đại.

Như trên đã trình bầy, xã hội hiện đại và văn minh là xã hội của kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân (xã hội dân sự).

Nếu như kinh tế thị trường dường như chưa liên quan trực tiếp và mạnh mẽ đến bối cảnh tồn tại, hoạt động của các chuyên gia thì nhà nước pháp quyền và xã hội công dân là những điều kiện khách quan trực tiếp liên quan đến việc tham gia của các chuyên gia vào hoạt động xây dựng pháp luật.

Trước hết, nhà nước pháp quyền đặt ra yêu cầu về sự  định hình và minh bạch của một khuôn khổ, trình tự lập pháp. Theo đó, dưới ánh sáng của nhà nước pháp quyền, mọi người, trong đó có các chuyên gia biết được về biên giới và phạm vi của quyền lực lập pháp; về sự ràng buộc và lệ thuộc của quyền lập pháp với Hiến pháp và pháp luật; về nhu cầu của tính thống nhất và minh bạch của pháp luật - bắt đầu ngay từ giai đoạn hình thành chính sách và soạn thảo văn bản pháp luật. Bên cạnh đó, nhà nước pháp quyền cũng đặt ra một loạt những yêu cầu liên quan đến trình tự làm luật và "chất lượng" của các đạo luật… Tất cả những tiêu chí này sẽ là thước đo, là tiêu chuẩn để các chuyên gia có thể tham gia tích cực vào quá trình làm luật. Một xã hội với nhà nước cảnh sát, nơi mà quyền lập pháp và trình tự ban hành pháp luật không được định hình, kiểm soát và giám sát và vì thế, được coi là vô tận của những chuyên quyền thì rõ ràng, không ai có thể tham gia, có điều kiện tham gia vào những công việc này.

Điều kiện gần gũi hơn nữa là điều kiện về xã hội: xã hội công dân. Xã hội công dân là một xã hội dân chủ mà ở đó, quyền lực trong xã hội được phân vai theo thể chế Hiến pháp. Theo đó, mọi công dân và những giai tầng, những thiết chế xã hội của họ đều có vị trí xứng đáng và rõ ràng trong khế ước xã hội. Trong một xã hội công dân, các chuyên gia, các nhà khoa học sẽ được nhìn nhận, được đánh giá đúng như giá trị xã hội của họ. Tại đây, các nhà khoa học có các quyền về phương diện xã hội:

- Quyền được phát biểu công khai, tự do về những nhận thức, cảm nhận khoa học của mình;

- Quyền được yêu cầu xã hội phải quan tâm và lắng nghe, chú ý đến những ý kiến mang tính xây dựng của họ, bất luận đó là ý kiến thuộc thiểu số hay đa số; phù hợp hay không phù hợp với quan điểm chính thống trong xã hội;

- Quyền buộc xã hội và chính giới phải xem xét ý kiến của họ vì mục tiêu cải tiến, thay đổi hiện thực xã hội.

Nếu các nhà khoa học không thực hiện được những quyền như vậy, họ sẽ không còn là các nhà khoa học theo đúng nghĩa. Lúc đó, họ dễ trở thành những phát ngôn viên của các chính khách. C. Mác đã phê phán những nhà khoa học không chân chính ở chỗ họ chỉ "giải thích thế giới" mà quên rằng "vấn đề là ở chỗ phải cải tạo nó". Bản lĩnh của giới trí thức, của các chuyên gia, các nhà khoa học chính là ở chỗ luôn có tinh thần và khả năng nghi ngờ mọi hiện tượng thực tiễn. Trong khi đó, sự "an toàn" của họ sẽ được đảm bảo bằng chính cơ chế nhà nước pháp quyền mà ở đó, quyền con người, quyền tự do cơ bản của công dân (ít nhất là quyền tự do ngôn luận) được Hiến pháp thừa nhận và bảo hộ. Mọi sự truy bức, nô dịch về chính trị, tinh thần và khoa học trái pháp luật sẽ không có chỗ đứng trong trật tự nhà nước pháp quyền.

2. Những điều kiện chủ quan của các chuyên gia

Để được xã hội, chính giới tôn trọng và thừa nhận các giá trị xã hội của mình, các chuyên gia cũng cần đáp ứng một số điều kiện nhất định.

- Điều kiện tiên quyết của các chuyên gia phải là bản lĩnh và phẩm chất của những "chiến sĩ" trên mặt trận khoa học; dám, biết đấu tranh vì chân lý, vì khoa học chân chính. Ngày nay, không thể buộc các nhà khoa học đều phải có số phận như Galilê hay Brunô, song sẽ là không thể có khoa học thực sự nếu như những người được coi là nhà khoa học mà chỉ biết nói, viết theo một lối mòn đã được định trước từ phía chính trị. Ai cũng biết rằng, suy cho cùng, khoa học phải phục vụ chính trị, phục sự sự phát triển và tiến bộ xã hội, song vì khoa học phải khách quan nên các nhà khoa học phải có tiếng nói khá độc lập, có thể nói là trung lập trong xã hội.

Chúng tôi cho rằng, các nhà khoa học, các chuyên gia pháp lý ở Việt Nam, trong những năm qua, đã có nhiều tiếng nói độc lập trong khoa học pháp lý, góp phần quan trọng vào quá trình nâng cao chất lượng hoạch định chính sách và hoạt động xây dựng pháp luật của nhà nước. Tuy nhiên, vẫn phải thừa nhận rằng, những tiếng nói khoa học, độc lập và mang tính phản biện đường lối, chính sách pháp lý và hoạt động xây dựng pháp luật còn khá lạc lõng. Tại các diễn đàn khoa học, sự e ngại và thiếu bản lĩnh của các chuyên gia vẫn là không khí "khoa học" thường thấy. Những hiện tượng này đặc biệt xuất hiện ở những chuyên gia đang có một vị trí nhất định trong bộ máy quản lý nhà nước hay trong bộ máy lập pháp. Có lẽ vì những lý do cơm áo, gạo tiền và động cơ thăng tiến mà đôi khi, họ không dám có cái tôi trong những tranh luận khoa học. Đây cũng là bối cảnh để xem xét xác định thế nào là chuyên gia, là nhà khoa học được coi là đối tượng để "huy động" vào việc tham gia xây dựng pháp luật với tính cách là chuyên gia độc lập.

Bản lĩnh khoa học không chỉ là yêu cầu đặt ra đối với từng chuyên gia mà còn là yêu cầu và đòi hỏi với cả giới, với từng diễn đàn khoa học. Chúng tôi cho rằng, bên cạnh những bản lĩnh chưa đạt được mức cần thiết của từng nhà khoa học mà dẫn đến khả năng hạn chế của họ khi tham vào các hoạt động lập pháp, thì cộng đồng khoa học cũng tham dự vào tình trạng này. Việt Nam có một Hội đồng học hàm ngành luật học, song lại không có một hội đồng khoa học pháp lý toàn quốc. Các cơ sở đào tạo và nghiên cứu cũng như một số cơ quan nhà nước thuộc hệ thống tư pháp đều tồn tại những hội đồng khoa học, song những diễn đàn này hoặc là không bàn chuyện khoa học của một dự luật, hoặc là được "lãnh đạo" bởi các nhà khoa học "quan chức", nên lợi ích cục bộ của cơ quan mình là trên hết khi phải có ý kiến khoa học về một dự luật. Ngày nay, đằng sau mỗi văn bản luật sắp ban hành đôi khi lại xuất hiện câu chuyện phân chia quyền lực giữa các ngành trong quá trình chuẩn bị, ban hành rồi đặc biệt là khi thi hành luật.

Trong thời gian qua, mỗi dự án luật quả thực đã tiêu tốn không ít các hội thảo khoa học. Đến dự các hội thảo này lại không chỉ là các chuyên gia trong lĩnh vực của dự luật. Điều này không hệ trọng bằng việc khi các hội thảo đều được kết thúc "thành công tốt đẹp" thì kết quả của chúng không trở thành những kiến nghị chính thức về mặt khoa học của diễn đàn khoa học, được công bố rộng rãi để các ban soạn thảo, giới pháp lý phải xem xét và tham khảo một cách nghiêm túc. Trước tình hình như vậy, "sức mạnh" của giới pháp lý Việt Nam không thể trở thành sức mạnh tổng hợp. Nhiều vấn đề khoa học đã được bàn cãi, tranh luận đã được coi là thống nhất trong giới chuyên môn, song chúng lại không được kết luận và tuyên bố trên những diễn đàn có sức mạnh mà buộc các nhà làm luật phải tham khảo, nên nhiều văn bản pháp luật vẫn chứa đựng những sơ xuất, thậm chí rất sơ đẳng về khoa học pháp lý mà như trên đã ngầm khẳng định, những người bấm nút không thể làm thay các giáo sư luật.

- Bên cạnh bản lĩnh khoa học, trình độ chuyên môn của các chuyên gia pháp lý hiện nay cũng là một trong nhiều điều kiện (chủ quan) để họ có thể tham gia vào các hoạt động xây dựng pháp luật. Đây cũng là vấn đề thuộc về thách thức đối với giới luật trong bối cảnh hiện nay.

Lịch sử đã để lại cho Việt Nam (mới) một nền pháp lý khá bất cập và lạc hậu. Sự lạc hậu này thể hiện trong nhiều phương diện, trong đó bao gồm cả pháp lý đại cương (đào tạo luật) và pháp lý chuyên ngành (đào tạo, phát triển chuyên gia). Cùng với chính sách, cơ chế sử dụng chuyên môn chưa thực sự phù hợp và sự thay đổi nhanh chóng của các quan hệ xã hội, kéo theo nhu cầu cao và mới về tri thức pháp lý… hệ thống các chuyên gia pháp lý của Việt Nam, nhìn chung còn đang tỏ ra là còn có hạn chế về năng lực và trình độ trước yêu cầu của tình hình mới. Thời đại ngày nay là thời đại chuyên sâu của khoa học và kỹ thuật. Các chuyên gia, các nhà khoa học (kể cả các nhà khoa học lớn) cũng chỉ có thể tường tận trong một phạm vi hẹp và sâu của tri thức pháp lý. Trong khi đó, do có bất cập về hệ thống đào tạo, tổ chức nghiên cứu; do số lượng các chuyên gia còn hạn chế và đứng trước các nhu cầu nghiên cứu rộng lớn trong xã hội mà họ phải bươn trải trên nhiều lĩnh vực nên độ chuyên sâu của hệ thống các chuyên gia còn khá hạn chế.

Nhân đây cũng cần bàn thêm là, chuyên gia (các nhà hoạt động thực tiễn hay các nhà khoa học) về một lĩnh vực pháp lý nào đó được nói đến ở đây không luôn đồng nghĩa với những người có bằng cấp, học vị hay học hàm hoặc có thâm niên công tác trong lĩnh vực cụ thể. Thực tế cho thấy là, có những người có bằng cấp do được đào tạo ở cấp độ cao về lĩnh vực này nhưng trên thực tế, công việc hàng ngày và mối quan tâm công tác của họ lại ở lĩnh vực khác. Lại có nhiều nhà khoa học đột nhiên trở thành cán bộ cấp cao, quản lý một ngành trong khối nội chính và công việc của họ lại là quản lý, tiếng nói của họ là tiếng nói của ngành, mang lợi ích cục bộ của ngành. Lúc đó, họ khó có thể có tiếng nói trung thực, khách quan nhân danh một nhà khoa học.

3. Những điều kiện từ phía cơ quan lập pháp

- Yêu cầu quan trọng nhất đặt ra đối với các cơ quan soạn thảo và ban hành pháp luật là phải có chiến lược và kế hoạch lập pháp. Ngay từ quá trình này đã phải để cho các nhà khoa học, các nhà hoạt động thực tiễn được tham gia một cách rất tích cực. Nhu cầu làm luật, định hướng phát triển pháp luật không thể từ trên trời rơi xuống đầu một hay một nhóm người có thế lực trong xã hội. Nó phải là kết quả của sự nắm bắt và nghiên cứu sự phát triển khách quan của các quan hệ xã hội có nhu cầu được điều chỉnh bằng pháp luật. Mặc dù, nhà chính trị sẽ quyết định chính sách pháp luật, nhưng linh hồn của chúng phải do các nhà khoa học tham gia xây dựng và chí ít họ cũng phải được phản biện độc lập trong khuôn khổ của một xã hội dân sự. Nếu để cho các chuyên gia, những người quan tâm đến những hoạt động "làm kế hoạch" này thì đây sẽ là tiền đề đầu tiên để họ định hướng nghiên cứu và phát huy những sáng tạo của họ phục vụ cho hoạt động xây dựng pháp luật. Bởi vì, một chiến lược và chương trình lập pháp không mang tính khoa học (vì không có bóng dáng của tinh thần khoa học), thì một mặt, nó sẽ đổ vỡ trong quá trình thực hiện, hoặc có chăng nó sẽ không tạo tính hiệu quả của pháp luật; mặt khác sẽ không khơi dậy được sự quan tâm, say mê nghiên cứu của những kẻ sĩ.

- Điều kiện tiếp theo để các chuyên gia (thực tiễn và lý luận) tham gia tốt vào quá trình xây dựng pháp luật là họ, với tính cách là một giới, phải được huy động mạnh mẽ trong cơ cấu của các ban soạn thảo văn bản pháp luật. Kinh nghiệm cho thấy rằng, dự án luật nào mà ban soạn thảo có tinh thần cầu thị, tạo cho các chuyên gia, các nhà khoa học một vị trí xứng đáng trong bộ máy làm việc của mình, thì rõ ràng là chất lượng của các dự luật sẽ được nâng cao và ít có những trục trặc lớn trong quá trình thông qua. Ngược lại, khi tại dự án luật nào mà các nhà khoa học, các chuyên gia chỉ được coi là những người bên ngoài hàng rào, viết thuê để chỉ có được nhắc đến trong Tờ trình thì rõ ràng là chất lượng của dự luật là không cao và sẽ gặp nhiều khó khăn khi thảo luận tại Quốc hội. Theo chúng tôi, một kinh nghiệm cần tham khảo là gần đây, có Ban soạn thảo đã "thuê" chuyên gia biên soạn trực tiếp một hay một số điều của dự thảo luật. Như vậy, rõ ràng là, trong hoạt đông xây dựng pháp luật, chúng ta đã không dừng lại ở mức độ là chỉ "lấy ý kiến" nhân dân hay các chuyên gia.

- Điều kiện tiếp theo để nhân dân nói chung, các chuyên gia nói riêng tham gia vào xây dựng pháp luật là việc công khai hóa tất cả tài liệu, sản phẩm công tác lập pháp, từ đề cương tư tưởng cho đến các dự thảo văn bản luật. Điều này không những góp phần vào việc đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao về tính minh bạch của pháp luật trong quá trình hội nhập, về những yêu cầu của Luật BHCVBQPPL mà đối với các chuyên gia, đây được coi là kênh thông tin chính thức và rộng rãi để họ có điều kiện thuận lợi trong việc nghiên cứu và tham gia. Trong thời đại bùng nổ thông tin và tự do báo chí, những tài liệu này không thể coi là mật hay sử dụng nội bộ. Có như vậy, các nhà khoa học, dù có thu thập bằng cách nào cũng không bị coi là phát tán hay làm lộ bí mật quốc gia.

Việc công khai hóa những tài liệu này quả thực là phát sinh vấn đề tài chính và ngân sách. Tuy nhiên, với sự trợ giúp của công nghệ thông tin và tiến trình hình thành chính phủ điện tử, những chi phí của hoạt động này sẽ được giảm đi rất nhiều. Kinh nghiệm của những Ban soạn thảo một số luật gần đây cho thấy, hiệu quả của việc đưa dự thảo luật lên mạng để mọi người góp ý là rất đáng được ghi nhận và kinh nghiệm này đáng được nhân rộng. Đáng tiếc là, các Ban soạn thảo dường như chỉ công bố những dự thảo cuối cùng.

- Bên cạnh việc công bố các thông tin về tiến trình, thực trạng xây dựng văn bản, việc tổ chức các diễn đàn, hội nghị khoa học về các dự luật cũng được coi là cơ hội tốt để các nhà khoa học tham gia vào hoạt động xây dựng văn bản pháp luật. Xuất phát từ quan niệm "tham gia" chứ không chỉ là "lấy ý kiến", khi tổ chức những diễn đàn này cần chú ý mấy vấn đề:

Một là: Người tổ chức các cuộc thảo luận vì mục tiêu để các chuyên gia tham gia vào xây dựng, chỉnh lý dự luật cố gắng không phải là Ban soạn thảo. Nếu Ban soạn thảo tổ chức các cuộc thảo luận khoa học này thì cuối cùng tính chất của các diễn đàn khoa học lại trở thành "lấy ý kiến" trên cơ sở đường lối và quan điểm "định sẵn" của Ban soạn thảo. Hệ quả cuối cùng, nếu có "rất thành công", dường như cũng chỉ là sự bảo vệ thành quả của các tác giả của dự thảo trước các chuyên gia, các nhà khoa học. Điều không hay thậm chí còn diễn ra là tại các diễn đàn này là đại diện của các Ban soạn thảo thường lấy ý kiến chỉ đạo về mặt chính trị từ bên trên để áp đảo một số ý kiến của các nhà khoa học (chân chính và có tinh thần xây dựng) không nằm trong luồng suy nghĩ thường trực là lối mòn của Ban soạn thảo. Qua đó, tính chuyên môn và khoa học của các diễn đàn như vậy sẽ không được đề cao. Trong những năm gần đây, việc VCCI thường đứng ra tổ chức những diễn đàn khoa học và chuyên môn về một số luật có liên quan đến đời sống kinh tế là cách làm khá phù hợp và được coi là có kết quả.

Hai là: xác định đối tượng tham gia. Đây là vấn đề về chất lượng chuyên gia cần được ban tổ chức diễn đàn khoa học lựa chọn. Như đã trình bày trên đây, thời đại ngày nay không có nhiều các chuyên gia đa năng, trong khi mỗi dự luật lại bàn về một vấn đề rất chuyên sâu. Có một tình trạng thực tế là, có lẽ người ta nghĩ rằng, trí tuệ tập thể luôn là mạnh mẽ, sáng suốt và quên không tính đến chất lượng vốn có của tập thể nên nhiều diễn đàn đã được tổ chức với số lượng người tham gia rất đông đảo. Kết quả là, bên cạnh việc chi phí tốn kém thì diễn đàn lại là nơi nhiều người giãi bày, tố khổ theo nguyên lý "thấy cây mà không thấy rừng" hoặc cung cấp cho hội nghị những thông tin hay ý kiến không cần cho dự luật và thậm chí có người chỉ đến để lấy tài liệu.

Trên tinh thần đó, khi không phủ nhận vai trò của những diễn đàn rộng lớn để lấy thanh thế và tạo dư luận, chúng tôi chủ trương cần tăng cường những hội nghị chuyên gia nhỏ gọn. Tại đây, có sự tham gia của các chuyên gia thực thụ và các nhà lập pháp cầu thị cũng như ban tổ chức cần chuẩn bị cho họ những điều kiện làm việc đặc biệt hơn, cung cấp cho họ cả những nguồn thông tin lân cận, chưa công bố công khai để các chuyên gia nghiên cứu.

Ba là: Phương thức xem xét và đánh giá kết quả. Tổng hợp, đánh giá kết quả và hình thành hệ thống các giá trị tham khảo là giai đoạn rất quan trọng. Tại đây, người tổng hợp (ban tổ chức, ban soạn thảo) cần phải rất thận trọng và nghiêm túc xem xét đánh giá các ý kiến khác nhau; trân trọng từng ý kiến, đặc biệt là thiểu số. Để làm được điều này, người tổng hợp phải có đủ trình độ về dự án luật để hiểu được những vấn đề mà các chuyên gia trình bày. Bên cạnh đó, cần có một hệ thống các tiêu chí để đánh giá và hình thành kết luận, quan điểm để hoàn thiện các dự thảo. Công đoạn này vẫn đang là yếu điểm trong tiến trình lập pháp.

Bốn là: Phản hồi và tiếp thu của Ban soạn thảo. Là chuyên gia, nhà khoa học, khi đã thể hiện mình, ai cũng có nhu cầu và mong muốn được phục vụ và được thông tin về khả năng, mức độ đóng góp của mình vào các dự luật. Đây chính là phần thưởng, là giá trị được khẳng định đối với họ. Vì vậy, trách nhiệm của những cơ quan, tổ chức hưởng thụ giá trị khoa học của các chuyên gia phải công bố sự tiếp thu, chỉnh lý các hoạt động xây dựng pháp luật của mình trên cơ sở những đóng góp của các chuyên gia. Ngược lại, nếu không thể tiếp thu, việc giải trình cũng rất cần thiết, ít nhất cũng để các bên hiểu nhau hơn. Việc phản hồi về những đóng góp khoa học cho các dự án luật có thể thực hiện bằng nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, đến nay, trong quy trình lập pháp ở Việt Nam vẫn chưa có một trình tự cụ thể và rõ ràng về vấn đề này. Việc giải trình và phản hồi chỉ diễn ra tại diễn đàn Quốc hội sau khi có các ý kiến của các Đại biểu thảo luận về dự luật. Chúng tôi cho rằng, ngay cả đến giai đoạn này, ý kiến phản biện độc lập của các nhà khoa học, cung cấp công khai cho các đại biểu trước khi bấm nút cũng rất quan trọng và cần thiết. Đáng tiếc là khả năng này, chỉ các nhà khoa học pháp lý Việt Nam là không có.

4. Những điều kiện về vật chất và tinh thần

Sẽ là kém cao thượng khi các nhà khoa học đặt vấn đề quyền lợi. Tuy nhiên, ngày nay, ai cũng thừa nhận rằng chất xám là có giá. Như đâu đó trong kinh điển người ta đã viết, người ta muốn làm khoa học trước hết phải tồn tại. Việt Nam, chất xám nói chung và chất xám được dùng vì mục tiêu xây dựng chính thể (được chi trả từ nguồn ngân sách nhà nước) là tương đối rẻ. Vì vậy, sự chảy máu chất xám ngay trong lòng quốc gia hay nhà nước là hiện tượng khó tránh khỏi. một đất nước nghèo, các nhà khoa học Việt Nam không thể so bì với ở các quốc gia châu Âu mà ở đó, mỗi trang phản biện độc lập viết cho Chính phủ có giá 1.000 EU, song dù sao, sự trả công (chính ngạch) cho các sản phẩm khoa học ở Việt Nam là không tương xứng. Khó có thể đánh giá được giá trị cụ thể của một ý kiến hay công trình khoa học để từ đó "xác định giá" của chúng, song qua khảo sát sơ bộ, chúng tôi không thấy sự hài lòng của các nhà khoa học về sự đãi ngộ từ phía nhà nước. Chính vì vậy, có một hiện tượng kém cao thượng của nhiều nhà khoa học là họ sẽ tích cực tham gia vào hoạt động xây dựng pháp luật hơn nếu như ở đó, có dự án tài trợ từ phía nước ngoài.

Bên cạnh đó, sự công bằng trong đóng góp và hưởng thụ đối với các nhà khoa học cũng là vấn đề cần tính đến. Ít ai dám nghĩ, tiến hành một cuộc khảo cứu xem mỗi dự án luật tốn bao nhiêu tiền và tỷ lệ thực tế (chứ không ở các phiếu chi) được dành cho những hoạt động nghiên cứu và đóng góp trực tiếp của những người làm việc thực sự là bao nhiêu. Chúng tôi cho rằng, nếu có một cuộc điều tra nghiêm túc, chúng ta sẽ có những thông tin ngạc nhiên.

Người Việt Nam ta có câu, “miếng ăn là miếng nhục” mà coi sự thanh tao của con người hình như ở sử sách hay bia đá, "một miếng ngoài làng" mới là quan trọng. Cái danh luôn đứng trước cái lợi trong trật tự ngôn ngữ. y vậy mà trong khi tham gia cống hiến bằng hình thức khoa học vào hoạt động lập pháp, xã hội và các thiết chế khoa học không có cơ chế rõ ràng về "ghi công" cho họ. Biên niên sử lập pháp ở Việt Nam không có, không có chỗ cho việc ghi nhận tiến trình ra đời của một đạo luật ra sao và trong đó, ai là những người có công (không chỉ là nhà khoa học) như thế nào? Quả tình là cũng đã có những chuyên gia, nhà khoa học được khen riêng tư, khi họ khước từ tác quyền của mình và hóa thân vào những phát biểu hay tham luận của các thủ trưởng khi những người này phát biểu trước những diễn đàn lập pháp.

[1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.163, 164, và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ  X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 36, 99, 119.

[2] Chúng tôi nhấn mạnh.

[3] Sđd. tr. 216

[4] Sđd. tr.330

[5] Lý thuyết này cho rằng: muốn thử xem một phương thức có phải là “sự tham gia” hay không, hãy trả lời câu hỏi mục đích của phương thức này là gì: tìm kiếm sự góp ý hay tìm kiếm sự tự nguyện dự phần. Nếu đồng ý với mục đích thứ nhất thì không phải là “sự tham gia”. Tham khảo tài liệu: Lý thuyết về sự tham gia của công chúng trong sinh hoạt chính trị -xã hội, tài liệu của Nhóm Perspective, Hiệp hội quốc tế về sự tham gia của công chúng: International Public Participation Principles and Practice, www.theperspectives group.com, International Association for Public Participation.

Nguyễn Như Phát
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Phòng ngừa tham nhũng liên quan đến doanh nghiệp (02/01/2009)
Chi trả dịch vụ hệ sinh thái - giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học (23/12/2008)
ODA và cuộc chiến chống tham nhũng - nhìn từ góc độ nhà nước và thể chế (12/12/2008)
Tác động và bài học từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ (24/11/2008)
Triển vọng thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội Việt Nam 2008 (06/11/2008)
Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam - mối liên hệ với phát triển bền vững và biến đổi khí hậu (17/10/2008)
Ưu tiên hoàn thiện pháp luật phù hợp với chức năng quản lý nhà nước về kinh tế trong điều kiện vận hành của cơ chế kinh tế thị trường (02/10/2008)
Bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam - mối liên hệ với phát triển bền vững và biến đổi khí hậu (17/10/2008)