|
Thêm một cơ sở khoa học để rèn luyện kỹ năng đại biểu Quốc hội
|
||
|
Trong bài viết “Lựa chọn nhà lập pháp”, chúng tôi đã bàn đến những tố chất cần có của một nhà lập pháp mà trước khi bỏ phiếu, cử tri phải cân nhắc xem ứng cử viên có các tố chất đó không. Theo đó, những tố chất của một nhà lập pháp là: người hay nghĩ, người đa văn quảng kiến, người có trí tuệ siêu việt, người có tài hùng biện.
Trong bài viết “Lựa chọn nhà lập pháp”, chúng tôi đã bàn đến những tố chất cần có của một nhà lập pháp mà trước khi bỏ phiếu, cử tri phải cân nhắc xem ứng cử viên có các tố chất đó không. Theo đó, những tố chất của một nhà lập pháp là: người hay nghĩ, người đa văn quảng kiến, người có trí tuệ siêu việt, người có tài hùng biện. Chúng tôi cũng không quên gợi mở rằng, những tố chất đó không thể có được sau năm năm hoạt động nghị trường nhưng có một số kỹ năng có thể hoàn thiện được khi ứng cử viên đã trúng cử. Trong bài viết này, chúng tôi bàn về các kỹ năng có thể hoàn thiện được trong nhiệm kỳ của một đại biểu Quốc hội và trình bày thêm một cơ sở khoa học để rèn luyện kỹ năng. Từ trước tới nay, chúng ta đã có những khoá bồi dưỡng kỹ năng cho đại biểu Quốc hội. Trong đó, ngoài việc bồi dưỡng kiến thức pháp luật, người đại biểu nhân dân còn được bồi dưỡng các kỹ năng như kỹ năng thuyết trình, kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng giao tiếp xã hội. Chúng tôi cho rằng, kỹ năng của đại biểu phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và nhấn mạnh một số kỹ năng cần thiết với đại biểu Quốc hội. Các kỹ năng của đại biểu Quốc hội xuất phát từ chính công việc mà người đại biểu đảm nhiệm. Những công việc tổng quát là lập pháp, giám sát, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Ngoài các kiến thức về pháp luật, để làm tốt các công việc của mình, người đại biểu Quốc hội còn phải có những kỹ năng mà các kỹ năng này có thể được hoàn thiện trong quá trình làm nhiệm vụ đại biểu: Đọc. Khi làm nhiệm vụ, đại biểu Quốc hội phải đọc rất nhiều loại tài liệu khác nhau với một số lượng khổng lồ: từ các báo cáo, dự thảo, đến các nguồn tài liệu làm cơ sở cho hoạt động lập pháp, chất vấn như sách, báo, tạp chí … Nếu không có kỹ năng đọc, người đại biểu Quốc hội sẽ không thể xử lý được một khối lượng văn bản khổng lồ và do đó, sẽ hoạt động một cách hình thức. Ghi. Công việc đại biểu Quốc hội đòi hỏi người đại biểu phải ghi chép trong các quá trình nghe báo cáo, nghe trả lời chất vấn, nghe các đại biểu khác phát biểu về dự thảo luật … Đại biểu sẽ không thể phát biểu một cách hiệu quả nếu trong tay mình không ghi chép được khi nghe. Với những phương pháp ghi chép truyền thống, đại biểu không thể xử lý khối lượng thông tin nghe được một cách hiệu quả. Điều này đòi hỏi người nghị sĩ phải có được kỹ năng ghi chép hiệu quả. Nhớ. Không những chỉ đọc và ghi chép, người đại biểu còn phải nhớ những thông tin cơ bản trong quá trình đọc, trong quá trình nghe để phát biểu trước nghị trường. Những điều mà người đại biểu Quốc hội phải nhớ rất nhiều. Do đó, nếu không có kỹ năng nhớ, thông tin sẽ không đọng lại trong trí não, người đại biểu không thể hành động một cách hiệu quả. Điều này đòi hỏi người đại biểu phải rèn luyện kỹ năng nhớ. Tổ chức công việc cá nhân. Công việc của đại biểu Quốc hội rất nhiều: phải đọc nhiều, đi nhiều, nói nhiều, họp nhiều … Nhất là khi trong đa số các đại biểu Quốc hội của ta đang hoạt động kiêm nhiệm thì công việc của người đại biểu lại càng ngập đầu. Đại biểu chỉ có 24h/1 ngày để xử lý một khối lượng công việc khổng lồ đó. Nếu không có kỹ năng tổ chức công việc cá nhân một cách khoa học, đại biểu không thể giải quyết công việc một cách hiệu quả. Tương tác xã hội. Đại biểu Quốc hội phải tương tác với các đại biểu khác, với người hoạt động trong các ngành hành pháp, tư pháp và với nhân dân. Điều này đòi hỏi đại biểu Quốc hội phải có kỹ năng tương tác xã hội để giao tiếp một cách hiệu quả. Người nào cũng có thể trả lời được một vài điều khi ta hỏi họ làm sao để đọc, ghi chép, nhớ, tổ chức công việc, giao tiếp cho hiệu quả. Tuy nhiên, phần lớn đều nói dựa trên kinh nghiệm hoặc dựa trên những kiến thức phổ thông, đại loại như phải đọc ý chính, phải lập dàn ý, phải tập trung, phải tiết kiệm thời gian, phải niềm nở …Việc bồi dưỡng kỹ năng cho đại biểu có thể sẽ không đi đến kết quả gì, nếu việc này cũng lại làm dựa trên những kinh nghiệm hay những kiến thức phổ thông. Các kỹ năng đại biểu Quốc hội đòi hỏi người đại biểu phải sử dụng một cách hiệu quả bộ não của mình. Vì vậy, việc bồi dưỡng kỹ năng đại biểu Quốc hội phải dựa trên những nghiên cứu khoa học hiện đại, các phát hiện mới về nhận thức, về não người và ứng dụng của các kiến thức khoa học đó vào việc phát triển kỹ năng con người. Năm 1990, Tổng thống Mỹ đã tuyên bố thập kỷ 90 là “thập kỉ của trí óc” và khuyến khích những nghiên cứu mới về khoa học nhận thức. Có một cuộc cách mạng về khoa học nhận thức cũng giống như có một cuộc cách mạng về khoa học công nghệ. Phương Tây đã có nhiều khám phá mới về nhận thức làm đảo lộn các quan niệm truyền thống về nhận thức. Chẳng hạn thuyết đa loại hình thông minh của Gardner và những nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc của Daniel Goleman đã thay đổi cách nhìn của người ta về chỉ số IQ. Theo đó, trí tuệ con người và khả năng thành công của con người không thể chỉ được đo bởi chỉ số IQ, vì con người còn có những loại hình thông minh khác mà chỉ số IQ không đánh giá được, như trí thông minh âm nhạc, vận động cơ thể, tương tác cá nhân, trí thông minh nội tâm. Tương tự như vậy, đã có những phát hiện mới của khoa học nhận thức về khả năng và phương pháp đọc, nhớ, ghi chép... của con người và những phát hiện này đã làm thay đổi đáng kể quá trình hoàn thiện kỹ năng con người. Những nghiên cứu mới này về nhận thức đặc biệt có ý nghĩa đối với việc hoàn thiện kỹ năng của đại biểu Quốc hội. Tony Buzan đã phát triển một hệ thống đọc mà ông ta gọi là “hệ thống đọc siêu tốc”. Cách đọc truyền thống của chúng ta chỉ khai thác được công năng của bán cầu não trái; vừa chậm vừa không tiếp thu được thông tin một cách hiệu quả. Hệ thống đọc siêu tốc của Tony Buzan gồm năm bước, giúp con người phát huy được cả bán cầu não phải và bán cầu não trái trong quá trình đọc. Hệ thống đọc này vừa “siêu tốc”, vừa hiệu quả vì phát huy cả bộ não của con người trong quá trình đọc. Ông đưa ví dụ chứng minh, một luật sư sau khi đọc siêu tốc trong ba phút đã đọc hết một cuốn sách dày 300 trang và nắm bắt được những thông tin cần thiết. Và những thông tin này đã giúp cho anh ta thắng trong một vụ kiện. Những nghiên cứu mới về trí nhớ thật kinh ngạc nhưng đây mới chỉ là quá trình phôi thai. Người ta ước tính, mỗi tháng có khoảng hơn 80 nghiên cứu mới về trí nhớ được công bố trên các tạp chí nghiên cứu lớn của thế giới. Trong khi chờ những phát hiện mới, nhưng phương pháp ghi nhớ như hệ thống Link &Peg, hệ thống ghi nhớ kiểu căn phòng, hệ thống ghi nhớ Skipnum (do Heinz Norden phát triển), hệ thống ghi nhớ thông tin chủ yếu (lần đầu tiên được Stanislaus Mink Von Wesnnsshein đưa ra vào thế kỷ 17 và cải thiện bởi Richard Grey vào thế kỷ 18)… cũng sẽ có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát triển khả năng ký ức của con người. Tony Buzan cũng đã phát triển một hệ thống độc đáo mà ông ta gọi là Mind Map (Sơ đồ tư duy), một phương pháp đơn giản, dễ hiểu, dễ ứng dụng và đã được ứng dụng bởi các công ty hàng đầu thế giới như Microsoft, IBM, HP…Thông qua việc vẽ các sơ đồ tư duy với hình ảnh, màu sắc đa dạng, phương pháp này giúp tư duy bằng cả hai bán cầu não. Phương pháp này không chỉ có tác dụng trong ghi chép mà còn rất hữu ích trong phát triển trí nhớ, hỗ trợ quá trình đọc nhanh, tổ chức công việc một cách khoa học, chuẩn bị bài nói một cách hiệu quả… Các nghiên cứu về đa loại hình thông minh giúp con người khai thác một cách toàn diện hơn tiềm năng của mình: trí thông minh ngôn ngữ, âm nhạc, vận động cơ thể, không gian, logic, tương tác cá nhân, thông minh nội tâm. Và còn nhiều loại hình thông minh khác đang được tiếp tục khám phá. Các nghiên cứu về trí tuệ xúc cảm giúp con người xúc cảm một cách thông minh và biến xúc cảm thành trí tuệ. Đặc biệt nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc rất có ý nghĩa trong việc phát triển kỹ năng tương tác xã hội của con người. Đang có một cuộc cách mạng trong khoa học về nhận thức§, nhưng người ta không dễ nhận thấy như trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin. Và cuộc cách mạng khoa học về nhận thức này cũng đem lại những tiện ích cho con người không kém gì cuộc cách mạng khoa học công nghệ thông tin. Nếu đại biểu Quốc hội đã sử dụng đến những chiếc điện thoại di động hiện đại, những laptop tối tân thì không có lý gì lại không sử dụng đến hệ thống “đọc siêu tốc”, hệ thống “sơ đồ tư duy”, hệ thống Link &Peg, hệ thống Skipnum, thuyết đa loại hình thông minh, trí tuệ xúc cảm …để đọc nhanh hơn, nhớ lâu hơn, ghi chép hiệu quả hơn, sáng tạo hơn, giao tiếp trí tuệ hơn và do đó, ích nước, lợi dân hơn. Như vậy, có những cơ sở khoa học cho việc phát triển kỹ năng đại biểu Quốc hội. Vấn đề là ứng dụng những cơ sở khoa học này như thế nào và ai là người tổ chức công tác ứng dụng, ngoài việc đại biểu Quốc hội có thể chủ động tiếp cận và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học nói trên. Nên có những khoá tập huấn, bồi dưỡng cho đại biểu về những kết quả khoa học đó và cách thức ứng dụng như thế nào. Khóa tập huấn, bồi dưỡng này phải được tiến hành bởi những người am hiểu về các thành tựu của khoa học về nhận thức. Các đại biểu Quốc hội nên tham khảo các tài liệu sau đây của Tony Buzan và Paul Scheele về Luyện đọc siêu tốc; của Tony Buzan: Trí nhớ siêu tốc; Bản đồ tư duy ứng dụng trong công việc; của Daniel Goleman: Trí tuệ xúc cảm; Trí tuệ xúc cảm ứng dụng trong công việc; của Thomas Armstrong: Bảy loại hình thông minh; của Keren Nessbitt Shanor: Trí tuệ nổi trội...
|
|
||||||||||||
|
||||||||||||










