Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
Thứ tư, 07/01/2009, 02:05(GMT+7)
Bên hành lang Lập pháp

Âm nhạc và Quốc hội
Bài viết “Nói tại kỳ họp” đăng trên Hiến kế Lập pháp số 29 (110) tháng 11/2007 đã đề cập đến một thực tế. Qua lời tâm sự của một nữ đại biểu, ai cũng đồng tình với tình trạng dễ buồn ngủ khi tham dự một kỳ họp dài ngày và chỉ nghe nhiều hơn nói. Buồn ngủ tại phiên họp là một thực tế. Chúng tôi chợt nghĩ ra một giải pháp, không những có thể xua tan không khi tẻ nhạt, buồn ngủ mà còn kích thích sự sáng tạo của các đại biểu tại phiên họp của Quốc hội: Tạo ra một không gian âm nhạc cho hoạt động của Quốc hội.

 

Bài viết “Nói tại kỳ họp” đăng trên Hiến kế Lập pháp số 29 (110) tháng 11/2007 đã đề cập đến một thực tế. Qua lời tâm sự của một nữ đại biểu, ai cũng đồng tình với tình trạng dễ buồn ngủ khi tham dự một kỳ họp dài ngày và chỉ nghe nhiều hơn nói. Buồn ngủ tại phiên họp là một thực tế. Chúng tôi chợt nghĩ ra một giải pháp, không những có thể xua tan không khi tẻ nhạt, buồn ngủ mà còn kích thích sự sáng tạo của các đại biểu tại phiên họp của Quốc hội: Tạo ra một không gian âm nhạc cho hoạt động của Quốc hội. 

Người Trung Quốc cổ sớm tìm thấy mối liên hệ giữa âm nhạc và hoạt động chính trị. Chính vì vậy, trong việc đào tạo ra người quân tử (ở đây là người cầm quyền), nhạc được coi là một trong lục nghệ (thi, thư, lễ, nhạc, xạ, ngự). Người quân tử phải học nhạc. Đúng ra, Nho giáo có lục kinh (Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Nhạc, Kinh Xuân Thu) nhưng Kinh Nhạc bị thất truyền, chỉ còn lại một phần nên được gộp chung vào Kinh Lễ (phần Nhạc ký trong Kinh Lễ), nên Nho giáo chỉ còn Ngũ Kinh. Nhạc ký có câu: “Thanh âm chi đạo, dĩ chính thống hỹ”  (Đạo của âm thanh có liên quan tới chính trị vậy).

Khổng tử rất coi trọng âm nhạc vì ông nhận thấy nhạc không những có công dụng di dưỡng tinh thần con người mà còn có công dụng “hoà”: hoà hợp các giai cấp, sang hèn, người lớn người nhỏ; điều hoà tình cảm, vui không quá lưu đãng, buồn không quá thương tổn (lạc nhi bất dâm, ai nhi bất thương).

Trong số các Nho gia, người bàn về nhạc nhiều nhất có lẽ là Tuân tử. Tuân tử viết hẳn một thiên “Nhạc luận”. Ông đề cao vai trò của âm nhạc đối với chính trị: “Nhạc là cái thánh nhân lấy làm vui, nó có thể cải thiện được tâm tính dân chúng vì sức cảm hoá lòng người của nó sâu xa, nó có thể di phong dịch tục dễ dàng. Tiên vương dẫn dắt dân bằng lễ nhạc mà dân hoà mục. Có người dân nào mà chả có tính ưa ghét, nếu không khéo khơi dậy niềm mừng vui, nỗi tức giận để thuận ứng những tình cảm đó thì tất sẽ hỗn loạn. Tiên vương ghét sự hỗn loạn, cho nên sửa hạnh cho tốt đẹp, sửa nhạc cho nghiêm chỉnh để thiên hạ thuận tòng”. Chế nhạc một cách có ý thức để dẫn dắt dân chúng là một biện pháp chính trị đem lại thái bình cho đất nước: “Âm nhạc mà trung chính thì dân hoà nhã mà không buông thả quá trớn, âm nhạc nghiêm trang thì dân có kỷ luật mà không hỗn loạn. Dân mà hoà nhã, trật tự thì binh mạnh, thành bền; nước địch không dám xúc phạm, thì trăm họ vui sống ở dưới, trong cảnh xóm làng, vua quan vui trị ở trên, mà sau thanh danh được sáng tỏ, binh quang được rực rỡ…”

Việc các nhà nho đề cao vai trò của âm nhạc trong hoạt động quyền lực có những cơ sở của nó. Lĩnh vực quyền lực là lĩnh vực diễn ra những mâu thuẫn, những xung đột. Chính âm nhạc có công năng điều tiết các mâu thuẫn, các xung đột đó. Âm nhạc có công năng điều hoà quyền lực giữa những người cầm quyền với nhau và giữa nhà cầm quyền với dân chúng.

Gần đây, người ta còn phát hiện ra rằng, âm nhạc có công năng kích thích sự sáng tạo của con người, làm cho con người trở nên thông minh hơn. Theo truyền thống, chỉ số IQ là một tiêu chí để đánh giá sự thông minh của con người. Nhà tâm lý học Howard Garnder đã đưa ra thuyết trí thông minh đa dạng, một học thuyết đã thách thức các thành tích cũ về trí thông minh. Theo ông, có ít nhất 7 loại hình thông minh (trí thông minh ngôn ngữ, tri thông minh âm nhạc, trí thông minh logic, trí thông minh không gian, trí thông minh cơ thể, trí thông minh tương tác cá nhân và trí thông minh nội tâm). Theo lý thuyết về trí thông minh đa dạng, trí thông minh âm nhạc là một loại hình thông minh quan trọng. Trí thông minh này có khả năng kích hoạt các trí thông minh khác. Tư duy ngôn ngữ, tư duy logic, tư duy về không gian… của con người sẽ phát triển tốt hơn nếu có sự tác động của âm nhạc.

Trong suốt thời trung cổ, các tu viện đã sử dụng âm nhạc để giúp các thầy tu học thuộc lòng kinh thánh. Theo cách tương tự, gần đây các nhà sư phạm đã sử dụng âm nhạc cổ điển để kích thích trí tuệ, giúp hấp thụ tri thức dễ dàng hơn. Một phương pháp khác dựa trên công trình nghiên cứu của chuyên gia tâm thần học người Bungari, Georgi Lozanov, liên quan đến việc nghe một bản nhạc phù hợp (nhịp 4/4 được coi là tối ưu) trong khi nhắc lại tài liệu cần học theo nhịp nhạc. Nhiều cá nhân kiệt xuất đã sử dụng âm nhạc để kích thích tài năng của họ. Nhà vật lý hạt nhân Edward Teller đã làm cho các đồng nghiệp tại phòng thí nghiệm Los Alamos tỉnh táo vào ban đêm bằng cách chơi những bản nhạc của Beethoven bằng cây đàn piano đặt trong phòng điều hành của ông. Albert Einstein thường chơi violon, còn Albert Schweiter chơi organ. Âm nhạc đã nuôi dưỡng niềm đam mê khoa học và chủ nghĩa nhân văn trong tâm hồn họ. Thomas Armstrong đã viết: “Âm nhạc có thể đóng vai trò như một chất kích thích mỗi khi bạn cần nâng cao sức sáng tạo của mình trong cuộc sống. Nếu bạn cần học một khối lượng kiến thức hoặc chính bạn bị căng thẳng trong công việc, hãy coi âm nhạc như một cách để loại bỏ những bế tắc. Âm nhạc hoạt động như một sự cân bằng giữa các công việc cần đến tư duy ngôn ngữ và tư duy logic mà chúng ta đã thực hiện trong suốt cả ngày. Nó tạo ra một sự chuyển dịch mới mẻ giữa các lĩnh vực khác nhau và nó cho chúng ta một con đường giúp mở ra những triển vọng mới trong cuộc sống” (Xem: Bảy loại hình thông minh. NXB Lao động, H, 2007, tr 103 -110).

Như vậy, âm nhạc không những có công dụng điều hoà quan hệ giữa con người với nhau mà còn có công dụng kích thích sự sáng tạo của con người. Cả hai công dụng này đều rất có ý nghĩa đối với hoạt động của Quốc hội. Trong phiên họp, những hoạt động không thể thiếu của Quốc hội là đọc, phát biểu, thảo luận, tranh luận. Đọc nhiều quá có thể làm cho các đại biểu buồn ngủ. Tranh luận nhiều quá có thể làm cho không khí của Quốc hội trở nên căng thẳng. Trong bối cảnh đó, âm nhạc là cần thiết. Quốc hội có thể tiến hành đọc, phát biểu, thảo luận, tranh luận sau khi nghe các bản nhạc cổ điển, nhất là nhạc của Mozart, Beethoven, Bach, Vivaldi. Nhiều người đã chứng minh loại âm nhạc có điển này có ý nghĩa đặc biệt trong việc kích thích hoạt động của não bộ. Quốc hội có thể nhờ các nhạc sĩ chuyên nghiệp về nhạc cổ điển chọn những đoạn nhạc thích hợp của các tác giả nói trên để làm nền cho các hoạt động của Quốc hội.

Với một nền nhạc cổ điển, việc đọc sẽ không những không làm các đại biểu buồn ngủ mà còn giúp các đại biểu tiếp thu thông tin được hiệu quả hơn. Giai điệu của âm nhạc cổ điển sẽ kích thích não bộ, làm cho các đại biểu tỉnh táo hơn, sáng tạo hơn. Như các chuyên gia của lý thuyết bảy loại hình thông minh đã phân tích, âm nhạc có thể kích thích hoạt động sáng tạo liên quan đến ngôn ngữ và tư duy logic. Trong khi đó, hoạt động của Quốc hội chủ yếu là liên quan đến hai loại tư duy này. Một nền âm nhạc cổ điển trong hội trường Quốc hội có thể kích thích các đại biểu tư duy sáng tạo hơn.

Trong mối tương quan với chính trị, âm nhạc có công năng điều hoà quyền lực. Điều này rất có ý nghĩa đối với Quốc hội - một diễn đàn tranh luận để đưa ra những giải pháp dung hoà được những lợi ích trong xã hội. Khi Quốc hội thảo luận tại hội trường, ở tổ, hay ở các Uỷ ban, không thể tránh khỏi không khí căng thẳng, gay gắt. Nếu sự tranh luận đó được tiến hành trên một nền nhạc cổ điển, sự căng thẳng, sự gay gắt có thể được làm dịu đi, các đại biểu có thể bình tĩnh hơn, sáng suốt hơn.

Âm nhạc và hoạt động quyền lực thực sự có mối liên hệ mật thiết. Âm nhạc có công dụng điều hoà và kích thích tư duy logíc, tư duy ngôn ngữ trong khi Quốc hội là nơi điều hoà lợi ích bằng tư duy logic và tư duy ngôn ngữ. Do đó, tạo lập một không gian âm nhạc cho hoạt động của Quốc hội là cần thiết. Và, đây là một đề tài cần được triển khai nghiên cứu, áp dụng trên một bình diện rộng hơn.

 

 

Bùi Ngọc Sơn
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
Số 21 ((137) tháng 12/2008) 20/12/2008
Số 02 ((118) T3/2008) 07/01/2009
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 

Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp điện tử được hoàn thành với sự giúp đỡ của Dự án Danida
    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08048487•Fax: 08048486•Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân