Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/07/2018, 22:55(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Thuốc lá Kẻ giết người hàng loạt

Sử dụng thuốc lá 

Việc sử dụng thuốc lá xuất hiện từ rất sớm, khoảng năm 5000-3000 trước Công nguyên1. Thuốc lá đã được đưa vào châu Âu vào cuối thế kỷ 16. Một người Pháp tên là Jean Nicot (tên chất nicotine có nguồn gốc từ đó) đem thuốc lá vào Pháp năm 1560, và sau đó lan sang Anh. Việc sử dụng thuốc lá bị chỉ trích ngay từ lần được nhập khẩu đầu tiên vào thế giới phương Tây, nhưng thói quen sử dụng thuốc lá đã ăn sâu vào một số tầng lớp xã hội sau đó trở thành thói quen phổ biến rộng rãi của nhiều người2.

Hút là hình thức sử dụng thuốc lá phổ biến nhất. Khi khói được hít vào và các hoạt chất được hấp thụ thông qua các phế nang phổi, các chất hoạt động kích hoạt phản ứng hóa học trong các dây thần kinh, nâng cao nhịp tim, sự tỉnh táo và tốc độ phản ứng3; dopamine, endorphin được phát tán, tạo cảm giác vui vẻ4.

Trong xã hội cổ xưa, thuốc lá đã từng được sử dụng như là thuốc. Với khả năng làm giảm đau, nó đã được sử dụng cho đau tai, đau răng và đôi khi là thuốc đắp lên chỗ sưng. Hút thuốc lá được người da đỏ trên sa mạc coi là một cách để chữa cảm lạnh, thuốc lá kết hợp với một vài loại lá hoặc rễ cây được dùng cho bệnh hen suyễn và bệnh lao5. Sau này, nhiều công trình nghiên cứu đã hé lộ những độc tính ghê gớm của thuốc lá, đặc biệt là khả năng gây ra nhiều bệnh ung thư.

Thuốc lá được sử dụng ở một số dạng cơ bản như: thuốc lá điếu (cigarettes), xì gà6, thuốc lá điện tử7, thuốc lá hít kiểu Pháp (French inhale)8, ống điếu (hookah)9, kretek10, hút thuốc lào (pipe smoking), thuốc lá cuộn (roll-your-own)11 và hút thuốc thụ động12.

Độc tính của thuốc lá

Thuốc lá là một loại cây có rất nhiều chất độc. Khói thuốc lá đã bị Cơ quan Quốc tế Nghiên cứu về Ung thư (International Agency for Research on Cancer - IARC) thuộc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xếp vào nhóm các chất gây ung thư bậc 1, bậc nguy hiểm nhất13. Đối với những chất được xếp trong nhóm này thì chỉ cần một khối lượng nhỏ cũng có thể gây ung thư, không chỉ đối với bản thân người sử dụng mà còn cho người khác. Khi hút thuốc, người hút thường thở ra hai luồng khói chính và phụ. 20% khói thuốc bị hít vào trong luồng chính, 80 % còn lại được gọi là luồng phụ. Luồng phụ nảy sinh giữa những lần hít vào và khi tắt thuốc. Luồng khói chính nảy sinh tại nhiệt độ 950°C còn khói phụ nảy sinh tại nhiệt độ 500°C, do đó luồng phụ tỏa ra nhiều chất độc hại hơn. Đó chính là lý do vì sao những người xung quanh sẽ chịu ảnh hưởng rất nặng nề từ môi trường có người hút thuốc. 

Khói thuốc cấu tạo từ một hỗn hợp khí và bụi. Trong khói thuốc có khoảng 4.700 chất hoá học, với nhiều chất độc hại, trong đó 43 chất là tác nhân gây ung thư, đặc biệt là nicotin, một trong những chất nguy hiểm nhất. Nicotin được nhà hoá học Thụy Sĩ tên là Picoto tìm ra năm 1825. Nicotin dưới dạng tinh khiết là một chất lỏng trong suốt, có mùi khó chịu và vị đắng, dễ tan trong nước và dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường miệng, hô hấp, thậm chí qua cả da. Chất này làm cho người hút thuốc lá rơi vào tình trạng nghiện. Các nhà khoa học đã chứng minh được rằng, lượng nicotin trong một điếu thuốc lá có thể làm chết một con chuột, chỉ ¼ giọt nicotin đủ giết một con thỏ, ½ giọt đủ giết một con chó14. Một liều nicôtin khoảng 50-75 mg (tương ứng lượng nicôtin có trong 20-25 điếu thuốc) đủ gây tử vong cho người15. Trong một cuộc thi hút thuốc lá ở Nice (Pháp), hai người thắng cuộc đã hút liền 60 điếu và bị nhiễm độc chết ngay tại chỗ, còn những người khác thì bị nhiễm độc nặng phải vào bệnh viện16.

Năm 1954, các nhà khoa học đã tìm ra chất benzopyrene (benzen) gây ung thư. Hoá chất này tác động lên tế bào bề mặt của đường hô hấp gây nên tình trạng viêm mạn tính, phá huỷ tổ chức, biến đổi tế bào dẫn đến dị sản, loạn sản rồi ác tính hoá. Năm 1974, người ta lại tìm ra chất crizen và hợp chất của metyl với hàm lượng gấp 5 lần chất benzen. Những chất này khiến động vật nhiễm phải đều mắc bệnh ung thư với tỷ lệ 100%. Năm 1977, lại tìm ra chất metyl hiđrazin gây bệnh ung thư với 0,15 miligam trong mỗi điếu thuốc17.

Phân tích quang phổ và nghiên cứu cho thấy trong khói thuốc lá còn nhiều chất gây ung thư khác, như polonium đồng vị phóng xạ, 2-naphthylamine, 2-tolunzin, aceton, formaldehyde, ammoniac, asenic, xyanua hydro…18

Gần đây, các nhà nghiên cứu Anh đã dẫn đầu dự án nghiên cứu quốc tế lớn, trong đó xác định 23.000 đột biến gen do hóa chất trong khói thuốc lá gây ra. Chính các chất gây ung thư có trong thuốc lá là thủ phạm chính dẫn đến sự đột biến DNA và những người hút thuốc bình quân 15 điếu thì DNA lại bị đột biến một lần19. Tất cả các bệnh ung thư được gây ra bởi những sai lầm trong mã di truyền đột biến trong DNA có thể được kích hoạt bởi các tác nhân môi trường.

Monoxide carbon (khí CO): là một loại khí không màu, không mùi, rất độc hại đối với tim, phổi và mạch máu. CO có nồng độ cao trong khói thuốc lá (vượt 600 lần cho phép)20. Khi được hấp thụ vào máu, nó sẽ phản ứng cộng hợp với hemoglobine trong hồng cầu với ái lực mạnh hơn 20 lần oxy, vì thế oxy sẽ bị thế chỗ và hồng cầu không thể chuyên chở oxy đến cơ thể. Với người hút trung bình một bao thuốc mỗi ngày thì hàm lượng hemoglobine khử có thể lên tới 7-8%, gây thiếu máu. Tim sẽ phải làm việc căng thẳng cộng thêm tác động của những chất độc trong khói thuốc sẽ dẫn đến bệnh tim. Ở những xã hội công nghiệp, bệnh tim và mạch máu do hút thuốc lá là nguyên nhân lớn nhất đưa đến cái chết sớm, làm nhiều người chết hơn cả ung thư phổi21,22.

Các phân tử nhỏ: Khói thuốc lá chứa nhiều chất kích thích dạng khí hoặc hạt nhỏ. Các chất kích thích này gây nên các thay đổi cấu trúc của niêm mạc phế quản dẫn đến tăng sinh các tuyến phế quản, các tế bào tiết nhày và làm mất các tế bào có lông chuyển. Các thay đổi này làm tăng tiết nhày và giảm hiệu quả thanh lọc của thảm nhày23.

Các ảnh hưởng của thuốc lá đến sức khỏe:

- Các bệnh lý của hệ tuần hoàn, hô hấp: Khi hút thuốc lá, khói thuốc qua phổi ngấm vào máu, tích lũy lâu ngày trở thành các điều kiện và nguyên nhân gây ra các bệnh về tim mạch như xơ vữa động mạch, bệnh động mạch vành, tắc động mạch, tai biến mạch máu não, cơn đau tim, các bệnh về phổi như tắc nghẽn phổi mãn tính (COPD), khí phế thủng, viêm mũi, viêm họng, viêm thanh quản, viêm phế quản mạn tính, hen suyễn, viêm phổi, giãn phế nang…

- Ung thư: thuốc lá có thể gây ra nhiều bệnh ung thư như ung thư phổi, ung thư xoang hàm, ung thư vòm họng, ung thư thanh quản, ung thư phế quản, ung thư tuyến tụy, ung thư thận… Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ của bệnh Crohn cũng như ở mức độ nghiêm trọng của quá trình của bệnh đó cũng là nguyên nhân số một của ung thư bàng quang24. 

Theo ước tính, nguyên nhân trực tiếp của 80-85% trường hợp ung thư phổi là hút thuốc25. Ung thư phổi xảy ra ở người không hút thuốc trong 3,4 trường hợp trên 100.000 dân. Đối với  người hút 0,5 bao thuốc lá một ngày, con số này tăng lên đến 51,4 trên 100.000 dân, hút 1-2 gói thì con số này lên đến 143,9 trên 100.000 dân và nếu cường độ của việc hút thuốc là 2 gói một ngày lên đến 217,3 trên 100.000 dân số26.

- Ảnh hưởng của thuốc lá với sức khỏe sinh sản: Thuốc lá cũng gây suy thoái giống nòi do làm giảm khả năng sinh sản ở cả nam và nữ. Đối với nam giới sẽ làm tăng bạch cầu trong tinh dịch, giảm số lượng và chất lượng tinh trùng, dễ dẫn đến vô sinh. Tỷ lệ mắc bệnh liệt dương tăng gấp đôi ở những người hút thuốc. Đối với phụ nữ, thuốc lá không chỉ làm tăng nguy cơ ung thư tử cung, rối loạn kinh nguyệt, ung thư vú, dị dạng thai nhi…, việc hút thuốc lá có thể làm suy giảm chất lượng các trứng27, giảm khả năng thụ thai (đến 40% - theo một nghiên cứu được Hiệp hội Y khoa Anh quốc công bố)28. Hút thuốc cũng làm tăng nồng độ của các hormon epinephrin, vasopressin, làm cho trứng đã thụ tinh vào tử cung sớm và dễ sảy thai. Độ tuổi sinh sản của phụ nữ  hút thuốc bị rút ngắn hơn so với phụ nữ hút thuốc vài ba năm29.

Tình trạng thai phụ hút thuốc trong khi mang thai sẽ gây ra nhiều mối hiểm họa cho thai nhi như lượng ôxy cung cấp thai nhi không đủ khiến gia tăng nhịp tim ở thai nhi, tăng nguy cơ thai nhi bị chết non; sinh non, nhẹ cân; thai nhi mắc các vấn đề về hô hấp. Các thai phụ thường xuyên hít phải khói thuốc thụ động có thể làm gia tăng nguy cơ phát triển bệnh ung thư phổi, bệnh tim, bệnh khí thủng, dị ứng, chàm bội nhiễm và một số các vấn đề về sức khỏe khác ở cả thai phụ lẫn thai nhi. Các bé được sinh ra bởi những bà mẹ này cũng có nguy cơ bị còi xương, trí tuệ chậm phát triển, suy dinh dưỡng do bị giảm tiết sữa ở người mẹ30.

Ở Hoa Kỳ, khói thuốc đã gây ra 3.400 ca tử vong do ung thư phổi và 46.000 ca tử vong vì bệnh tim một năm. Cũng do thuốc lá, ước tính mỗi năm có 430 trường hợp trẻ sơ sinh chết đột ngột, 24.500 trường hợp trọng lượng trẻ sơ sinh thấp, 71.900 trường hợp sinh non và 200.000 trường hợp bị bệnh hen suyễn ở trẻ em31. 

-  Các bệnh khác: Người hút thuốc lá và hít phải khói thuốc lá còn mắc các bệnh về răng, lợi, đồng thời tăng các yếu tố nguy cơ loãng xương gây đau nhức, khó ngủ và giảm thể lực. Hút thuốc lá có thể làm giảm số lượng các tế bào thần kinh trong não, gây những rối loạn về da, làm xuất hiện sớm các vết nhăn. Hút thuốc cũng làm chậm quá trình làm lành các vết thương…

WHO cảnh báo thuốc lá gây ra cái chết cho 1/3 đến một nửa số người sử dụng nó, trung bình trên 15 năm sớm hơn so với tuổi bình thường32. Ở thế kỷ 20, thuốc lá đã giết chết 100 triệu người trên toàn thế giới. Hiện tại, cứ mỗi năm có 5,4 triệu người chết vì thuốc lá. Mỗi sáu giây thì kẻ giết người thầm lặng này lại lấy đi mạng sống của một người và nếu không hành động ngăn chặn ngay thì trước năm 2030, sẽ có trên 8,3 triệu người chết mỗi năm, chiếm 10% số người chết trên toàn cầu trong cùng thời điểm33, trở thành nguyên nhân lớn nhất dẫn đến tử vong34. Sẽ có khoảng một tỷ người chết vì thuốc lá trong thế kỷ thứ 21, trong đó trên 80% ở các nước đang phát triển35.

Thiệt hại về kinh tế do thuốc lá

Mặc dù ngành công nghiệp thuốc lá tuyên bố nó tạo ra việc làm và doanh thu, giúp tăng cường nền kinh tế địa phương và quốc gia, song nó vẫn là ngành công nghiệp gieo rắc đau khổ, bệnh tật, cái chết, và thiệt hại kinh tế cho quốc gia, kể cả những quốc gia phát triển. Sử dụng thuốc lá hiện nay gây tổn phí của thế giới hàng trăm tỷ đô la mỗi năm. Tại Hoa Kỳ, chi phí chăm sóc sức khỏe liên quan đến thuốc lá là 81 tỷ USD/năm, ở Đức gần 7 tỷ USD và tại Úc là 1 tỷ USD36. Ở Hồng Kông, chi phí chăm sóc y tế trực tiếp, chăm sóc dài hạn và các tổn thất năng suất do tiếp xúc với khói thuốc lá hàng năm cũng khoảng 156 triệu USD37.

Sử dụng thuốc lá, đáng tiếc là lại phát triển nhanh nhất trong các quốc gia thu nhập thấp, do tăng trưởng dân số đồng hành với việc trở thành tiêu điểm để ngành công nghiệp thuốc lá nhắm vào, làm hàng triệu người trở thành nghiện ngập chết người trong mỗi năm. Như vậy mục tiêu kinh doanh của ngành công nghiệp thuốc lá là để có được nhiều khách hàng “nghiện ngập” hơn nhưng lại làm phương hại cuộc sống người nghèo một cách không tương xứng,  làm sâu sắc thêm tình trạng đói nghèo.

Với người nghèo, tiền bạc chi tiêu vào thuốc lá có nghĩa là tiền không chi cho các nhu cầu thiết yếu cơ bản như như thực phẩm, chỗ ở, giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Các hộ gia đình nghèo nhất ở Bangladesh chi tiêu cho giáo dục chỉ gần 10 lần so với chi cho thuốc lá38. Ở Indonesia, nơi mà hút thuốc là phổ biến nhất ở những người nghèo, các nhóm thu nhập thấp nhất dành 15% tổng chi tiêu cho thuốc lá39. Tại Ai Cập, hơn 10% chi tiêu của hộ gia đình thu nhập thấp là thuốc lá40. 20% hộ gia đình nghèo nhất ở Mexico dành gần 11% thu nhập hộ gia đình vào việc hút thuốc41. Chi phí y tế từ hút thuốc đã làm hoá nghèo hơn 50 triệu người ở Trung Quốc42. Người nghèo có nhiều khả năng bị bệnh và chết sớm vì các bệnh liên quan đến thuốc lá hơn người giàu. Điều này tạo ra khó khăn kinh tế lớn hơn và tiếp tục vòng tròn của đói nghèo và bệnh tật43.

Tử vong sớm đối với người có thu nhập chính thực sự là thảm họa cho các gia đình nghèo và cộng đồng. Khi một người đàn ông đứng đầu hộ gia đình có thu nhập thấp chết vì bệnh ung thư từ một thói quen hút thuốc, sự sống còn của gia đình ông ta thực sự bị đe dọa. Việc mất nguồn thu kinh tế làm cho vợ, con cái cùng những người phụ thuộc khác của ông ta chìm sâu hơn vào nghèo đói; xã hội sẽ phải hỗ trợ; đó là chưa kể đến sự ảnh hưởng của khói thuốc đối với người xung quanh cũng làm sa sút nghiêm trọng các nguồn tài nguyên kinh tế. WHO ước đoán, đến năm 2030, sẽ có hơn 80% ca tử vong liên quan đến thuốc lá rơi vào các nước có thu nhập thấp, 100 triệu đàn ông dưới 30 tuổi ở Trung Quốc hiện nay sẽ chết vì sử dụng thuốc lá. Tại Ấn Độ, cũng sẽ có khoảng 1/4 số đàn ông trung niên tử vong bởi hút thuốc lá44.

Tác hại với môi trường

Bên cạnh khói thuốc làm nhiễm bẩn nguồn không khí là hàng tỷ đầu thuốc sau khi hút vứt lại trong các công viên, trên đường đi và các khu vực công cộng. Hầu hết các đầu lọc thuốc lá không thể tái sinh được. 95% đầu lọc được làm bằng nhựa Cellulo-acetat phải mất nhiều năm mới phân hủy. Trong thuốc lá có khoảng 165 hóa chất mà chim hay các loài thú nhỏ cho là thức ăn của chúng. Tàn thuốc lá có thể là thủ phạm dẫn đến hoả hoạn khôn lường.

Thực trạng hút thuốc lá

Năm 2000, có khoảng 1,22 tỷ người hút thuốc lá. Trong số đó, khoảng 1 tỷ người ở các nước đang phát triển hoặc chuyển tiếp. Dự tính năm 2010 có khoảng 1,45 tỷ người hút thuốc và trước năm 2025 sẽ có từ 1,5 đến 1,9 tỷ người hút thuốc45. Số đàn ông hút thuốc cao gấp 5 lần so với nữ giới46.  Ở các nước phát triển, tỷ lệ hút thuốc đã chững lại hoặc giảm; tỷ lệ hút thuốc trong nam giới giảm, trong khi số người hút thuốc là nữ tiếp tục tăng lên47,48. Ở các nước đang  phát triển, trái lại, tiêu thụ thuốc lá vẫn tăng khoảng 3,4% mỗi năm49. Tại Đông Nam Á, tỷ lệ hút thuốc ở người trưởng thành nam giới cao hơn mười lần so với nữ giới50. Khoảng hai mươi phần trăm thanh thiếu niên trẻ tuổi (13-15) hút thuốc trên toàn thế giới. Từ 80.000 đến 100.000 trẻ em bắt đầu hút thuốc mỗi ngày và số này được dự đoán sẽ hút thuốc từ 15 đến 20 năm51.

Hút thuốc lá ở Việt Nam

Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới, Việt Nam hiện là một trong 15 quốc gia có số người sử dụng thuốc lá cao nhất thế giới52. Có đến 62% ca tử vong tại Việt Nam (khoảng 40.000 người/năm) liên quan đến thuốc lá, cao gấp 3 lần tử vong do tai nạn giao thông53,54. Việc tiếp xúc với khói thuốc lá của người khác (hút thuốc lá thụ động) cũng nghiêm trọng. Khoảng 2/3 số phụ nữ và 70% số trẻ em bị phơi nhiễm với khói thuốc, 33 triệu người trưởng thành thường xuyên hít phải khói thuốc tại nhà và hơn 5 triệu người trưởng thành thường xuyên hít phải khói thuốc tại nơi làm việc55. Ung thư phổi là dạng ung thư cao nhất ở nam giới và thứ tư ở nữ giới. 

 Một nửa số người thường xuyên hút thuốc sẽ chết sớm do các bệnh liên quan đến thuốc lá; và họ phải chấp nhận mất đi 12-25 năm tuổi thọ. Thuốc lá phải chịu trách nhiệm trong 87% tổng số ca ung thư phổi, 80-90% số ca bệnh COPD. Nó cũng làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch, ung thư lên 10-15 lần56.

Thuốc lá cũng gây thiệt hại kinh tế rất lớn cho xã hội. Mỗi năm, một người có hút thuốc ở Việt Nam chi gần 700.000 đồng cho thuốc lá. Với 12 triệu người hút, một năm khoảng 8.213 tỷ đồng được tiêu tốn cho mặt hàng này57. Số tiền đó đủ để mua lương thực nuôi sống 10,6 triệu người. Tiền chi cho thuốc lá chiếm một phần không nhỏ trong ngân quỹ vốn đã eo hẹp của người hút thuốc và ảnh hưởng đến các chi tiêu về quần áo, giáo dục, y tế. Một khảo sát gần đây cho thấy, chi tiêu cho thuốc lá ở Việt Nam cao gấp 3,6 lần phí tổn học hành, gấp 2,5 lần mức chi cho quần áo và gần gấp đôi mức chi cho khám chữa bệnh58.

Mặc dù thuốc lá gây tổn hại nghiêm trọng cho sức khỏe và kinh tế, hiện tại ngành thuốc lá vẫn đang tiếp tục phát triển. Tổng sản lượng tiêu thụ thuốc lá trên thị trường Việt Nam khoảng 95 tỷ điếu, với khoảng 850.000 điểm bán thuốc lá trên toàn quốc59. Thuốc lá đa dạng về mẫu mã, sản phẩm như: Vinataba, “555”, Craven A, White Horse… Đến hết tháng 8/2011, trên địa bàn cả nước có 6 Tổng công ty và các chi nhánh sản xuất thuốc lá60. Theo số liệu thống kê từ Bộ Công thương, sản phẩm thuốc lá từ 2006-2010 đạt 65.060,6 tỷ đồng, tốc độ bình quân tăng trưởng đạt khoảng 3%, sản phẩm thuốc lá phổ thông chiếm tỷ trọng 59%, sản phẩm trung cấp  là 9%, sản phẩm trung cao cấp và cao cấp là 32%61.

Việt Nam phải đối mặt với hàng loạt thách thức, do tỷ lệ hút thuốc cao ở nam giới và sự chấp nhận của xã hội chung sống hòa bình với khói thuốc còn khá phổ biến. Nội dung cảnh báo sức khỏe ghi trên các sản phẩm chưa đủ gây chú ý đối với cộng đồng; các dự án truyền thông phòng chống tác hại thuốc lá chưa sâu rộng. Mức thuế sản xuất và tiêu thụ thuốc lá của Việt Nam còn quá thấp so với khu vực, giá bán lẻ thuốc lá tại Việt Nam cũng quá rẻ so với các nước trong khu vực từ 2 đến 3 lần62... Đây được xem là một vài nguyên nhân làm gia tăng số người hút thuốc lá.

Khuyến nghị của WHO

Ngày 27/2/2005, Công ước khung về Kiểm soát thuốc lá của WHO có hiệu lực. Đây là hiệp ước y tế công cộng đầu tiên của thế giới. Các quốc gia ký kết Công ước cùng nhau đưa ra các mục tiêu chung, các tiêu chuẩn tối thiểu của chính sách kiểm soát thuốc lá và hợp tác để cùng đối phó với những thách thức xuyên biên giới như buôn lậu thuốc lá. Hiện tại, WHO tuyên bố 4 tỷ người sẽ được các hiệp ước điều chỉnh, trong đó bao gồm 168 nước ký Công ước (với 156 quốc gia là thành viên)63. Các quốc gia thành viên của Công ước cũng sẽ ban hành pháp luật để loại bỏ thuốc lá tại nơi làm việc, trên các phương tiện giao thông, trong  những nơi có sinh hoạt công cộng khác.

WHO đánh giá, vẫn có đến quá nửa số quốc gia không có hệ thống thông tin giám sát việc hút thuốc lá ở mức tối thiểu, mới có 5% dân số thế giới được luật chống hút thuốc lá điều chỉnh đầy đủ; ít người nghiện hút thuốc lá nhận được sự giúp đỡ để bỏ thuốc; ít quốc gia có hệ thống cảnh báo đầy đủ về sự nguy hiểm của thuốc lá; ít quốc gia thi hành lệnh cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ của thuốc lá; kinh phí toàn cầu cho việc kiểm soát thuốc lá cũng chưa đủ, nhưng quốc gia cũng có thể cứu vãn cuộc sống con người bằng cách nâng thuế thuốc lá64.

WHO kêu gọi hành động ngay bao gồm: i) Tăng cường công tác đánh giá thực trạng sử dụng và tác động của thuốc lá; ii) Bảo vệ người dân khỏi khói thuốc lá, cung cấp trợ giúp để bỏ thuốc lá; iii) Cảnh báo toàn diện về sự nguy hiểm của thuốc lá, đáp ứng các tiêu chuẩn cao nhất cho các cảnh báo trên bao gói thuốc lá; iv) Tăng thuế thuốc lá. Đó là cách hiệu quả nhất để giảm sử dụng thuốc lá, đặc biệt là để ngăn cản những người trẻ tuổi sử dụng thuốc lá. Thuế cũng sẽ là nguồn kinh phí để quốc gia thực hiện và thực thi chính sách kiểm soát thuốc lá và có thể thanh toán chi phí y tế công cộng khác và các chương trình xã hội.

Tháng 12/2004, Việt Nam đã phê chuẩn Công ước khung của WHO về Kiểm soát thuốc lá. Việt Nam cũng đã có những cam kết mạnh mẽ trong việc phòng chống hút thuốc như đã đưa ra Chính sách Kiểm soát thuốc lá quốc gia và thành lập Ủy ban Liên bộ chuyên trách về Thuốc lá và Sức khỏe Việt Nam năm 2001. Việt Nam đang xúc tiến thành lập quỹ Phòng, chống tác hại của thuốc lá và dự kiến ban hành Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá vào năm 2012. Với những nỗ lực mới của Nhà nước Việt Nam, có thể hy vọng nhận thức của người dân về thuốc lá được nâng lên một bước; cuộc chiến chống khói thuốc lá ở Việt Nam sẽ thu được những kết quả khả quan, góp phần tích cực vào việc bảo vệ sức khoẻ cộng đồng và đẩy lùi tình trạng đói nghèo.

[1] Gately, Iain (2004), Tobacco: A Cultural History of How an Exotic Plant Seduced Civilization,  Diane. các trang 3–7. ISBN 0-80213-960-4.

2 Lloyd, John; Mitchinson, John (2008), The Book of General Ignorance. Harmony Books. ISBN 0307394913; Cũng xem: West, Robert and Shiffman, Saul (2007). Fast Facts: Smoking Cessation. Health Press Ltd.. trang 28

3 Gilman, Sander L.; Xun, Zhou (2004-08-15). Smoke: A Global History of Smoking, Reaktion Books, các trang 318, 320, 321

Cũng xem: Parkin, C.; Fairweather, D. B.; Shamsi, Z.; Stanley, N.; Hindmarch, I. (1998). "The effects of cigarette smoking on overnight performance". Psychopharmacology 136 (2), các trang 172–178.

4 Gilman, Sander L.; Xun, Zhou (2004-08-15). Smoke: A Global History of Smoking, Reaktion Books, các trang 318, 320, 321

5 Balls, Edward K. (1962-10-01). Early Uses of California Plants. University of California Press, các trang 81–85. 

6 Được cuộn chặt bằng lá sấy khô và lên men, đốt cháy để khói có thể tự vào miệng người hút thuốc.

7 Thuốc lá điện tử là một thay thế cho hút thuốc lá, là một thiết bị chạy bằng pin cung cấp liều hít của nicotin bằng cách cung cấp một lượng propylene glycol/nicotine hoặc glycerin thực vật/nicotine bốc hơi. Hầu hết thuốc lá điện tử được thiết kế để trông giống như thực hiện hút thuốc lá thật tương tự như thuốc lá điếu, xì gà, nhưng nhiều khi dưới hình thức bút bi hoặc tua-vít để thực hiện một số chức năng khác liên quan.

8 Đây là hành động hút thuốc lá thực hiện bằng cách nhả khói từ miệng và hít vào qua mũi.

9 Là phương tiện hút có đường ống nối với bình nước để khói thuốc đi qua bình lọc trước khi được hút vào. Ống điếu có nguồn gốc từ Ấn Độ. Nó có thể được sử dụng để hút thuốc lá hoặc cần sa.

10 Là thuốc lá được thực hiện với một sự pha trộn phức tạp của thuốc lá, đinh hương và hương liệu, xut hiện lần đầu tiên vào những năm 1880 ở Kudus, Java.

11 Thuốc lá cuộn hoặc cán tay, rất phổ biến, đặc biệt là ở các nước châu Âu. Thuốc lá, giấy cuộn thuốc lá, và bộ lọc được mua riêng rẽ. Thuốc lá cuộn rẻ hơn nhiều so với thuốc lá làm sẵn.

[1]2 Hút thuốc thụ động là việc hít khói thuốc lá không tự nguyện trong môi trường có khói thuốc lá hoặc khói thuốc vẫn còn sau khi thuốc lá đã được dập tắt.

[1]3 Hiển Mai, 2010, Thuốc lá và những điều cần biết, www.nguoicham.com/forums/index.php?topic=635.0

[1]4 What are the dangers of smoking? (2011), http://bestsmokelesscigarettesreviews.com/what-are-the-dangers-of-smoking

[1]5 WHO report on the global tobacco epidemic, 2008

[1]6What are the dangers of smoking? (2011), http://bestsmokelesscigarettesreviews.com/what-are-the-dangers-of-smoking

[1]7 Những ống khói di động giết người, Việt báo, http://vietbao.vn/Trang-ban-doc/Nhung-ong-khoi-di-dong-giet-nguoi/75250653/477/

[1]8 Causes of lung cancer, http://allcancertreatment.com/blog/causes_of_lung_cancer/2011-04-16-66

[1]9 Theo: Daily Mail Reporter, (2009), Smoking just 15 cigarettes harms your DNA, finds cancer study on gene mutation, http://www.dailymail.co.uk/health/article-1236597/Smoking-just-15-cigarettes-harms-DNA-finds-cancer-study-gene-mutation.html#ixzz1qO1VKZoA

20 Minh Lan, (2011), 70 chất gây ung thư trong khói thuốc lá, Sức khoẻ & Đời sống, 14/6/2011

2[1] Thành phần, độc tính của thuốc lá, Trang thông tin của Chương trình PCTH thuốc lá quốc gia. http://vinacosh.gov.vn/?mPage=11N80K01T119

22 Hiển Mai, (2009), Thuốc lá, những điều cần biết, www.nguoicham.com/forums/index.php?topic=635.0

23 Thành phần, độc tính của thuốc lá, Theo trang thông tin của Chương trình Phòng chống tác hại thuốc lá quốc gia. http://vinacosh.gov.vn/?mPage=11N80K01T119

24 Inflamm Bowel Dis. May 2009, P. Seksik, I Nion-Larmurier

25 Mortality Rates Related to somoking, (2010), http://www.articlesbase.com/health-articles/mortality-rates-related-to-smoking-2213360.html

26 Causes of lung cancer, http://allcancertreatment.com/blog/causes_of_lung_cancer/2011-04-16-66

27 Chất nicotin ngăn cản sự hình thành những hạt nhỏ trên vỏ trứng. Đó là các bọc đặc biệt gần bề mặt của trứng, sẽ co lại sau khi trứng đã thụ tinh, ngăn chặn không cho tinh trùng khác vào trong trứng. Thiếu các bọc nhỏ này sẽ dẫn đến đa thụ tinh (thụ tinh nhiều tinh trùng), làm cho phôi không trở thành thai nhi được.

28Tác hại của thuốc lá với sản phụ và thai nhi, theo trang thông tin của Viện Pháp y Quốc gia, 2012, http://www.nifm.org.vn/vi-vn/news/p/1363/0/Tac-hai-cua-thuoc-la-voi-san-phu-va-thai-nhi.aspx

29 Nguồn như trên

30 Tác hại của hút thuốc lá, theo trang thông tin của Hội Chữ thập đỏ TP Hồ Chí Minh, 2011, http://chuthapdotphcm.org.vn/BanIn.aspx?id=1430

3[1] WHO report on the global tobacco epidemic, 2008

32 WHO report on the global tobacco epidemic, 2008

33 WHO (2008) (PDF). The Global Burden of Disease 2004 Update, ISBN 978-92-4-156371-0.

34 WHO (2008) (PDF). The Global Burden of Disease 2004 Update, ISBN 978-92-4-156371-0.

WHO Report on the Global Tobacco Epidemic, 2008

"WHO/WPRO-Tobacco Fact sheet. World Health Organization Regional Office for the Western Pacific. 2007-05-29. http://www.wpro.who.int/media_centre/fact_sheets/fs_20070529.htm.

35 WHO report on the global tobacco epidemic, 2008

36 U.S. Centers for Disease Control and Prevention. Annual smoking-attributable mortality, years of potential life lost, and productivity losses – United States, 1997–2001. Morbidity and Mortality Weekly Report, 2005,  54(25):625–628. Cũng xen: Guindon GE et al. The cost attributable to tobacco use: a critical review of the literature. Geneva, WHO, 2006.

37 McGhee SM et al. (2006), Cost of tobacco-related diseases, including passive smoking, in Hong Kong. Tobacco Control, 2006, 15(2):125–130.

38 Efroymson D et al. Hungry for tobacco: an analysis of the economic impact of tobacco consumption on the poor in Bangladesh. Tobacco Control, 2001, 10(3):212–217.

39 de Beyer J, Lovelace C, Yürekli A. Poverty and tobacco. Tobacco Control, 2001, 10(3):210–211.

40 Nassar H, (2003), The economics of tobacco in Egypt, a new analysis of demand. Washington, DC, World Bank.

41 Sesma-Vázquez S et al. El comportamiento de la demanda de tabaco en México: 1992–1998, Trends of tobacco demand in México: 1992–1998,. Salud Publica de Mexico, 2002, 44(Suppl. 1):S82–S92.

42 Liu Y et al. (2006),Cigarette smoking and poverty in China. Social Science & Medicine,  63(11):2784–2790.

43 WHO, (2004), World no tobacco day 2004 materials. Geneva, 2004

44 WHO report on the global tobacco epidemic, 2008

45 Guindon, G. Emmanuel; Boisclair, David (2003) (PDF). Past, current and future trends in tobacco use, Washington DC: The International Bank for Reconstruction and Development / The World Bank. các trang 13–16.

46 Nguồn như trên

47Centers for Disease Control and Prevention (CDC) (2009), "Cigarette smoking among adults and trends in smoking cessation - United States, 2008"

48 Peto, Richard; Lopez, Alan D; Boreham, Jillian; Thun, Michael (2006), (PDF). Mortality from Smoking in Developed Countries 1950-2000: indirect estimates from national vital statistics, Oxford University Press. trang 9.

49 "WHO/WPRO-“Smoking Statistics", World Health Organization Regional Office for the Western Pacific. 2002-05-28.

50 WHO report on the global tobacco epidemic, 2008

5[1] "WHO/WPRO-“Smoking Statistics", World Health Organization Regional Office for the Western Pacific. 2002-05-28.

52Khánh An, (2011), Việt Nam thuộc nhóm hút thuốc lá nhiều nhất, Theo Tiền phong online 30/5/2011

53 Thông tin được đưa ra tại Hội thảo góp ý báo cáo nghiên cứu “Đánh giá năng lực về phòng chống tác hại của thuốc lá của Việt Nam”, do Bộ Y tế Việt Nam và Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam tổ chức chiều 22/8

54 Nhật Minh, (2012), 62% ca tử vong ở Việt Nam liên quan hút thuốc lá, http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View_Detail.aspx?ItemID=48

55 N.Anh, (2011), Những sự thật kinh hoàng về thuốc lá, Theo tinmoi, http://www.tinmoi.vn/Nhung-su-that-kinh-hoang-ve-thuoc-la-03530398.html

56 Thanh Nhàn, 2004, Thuốc lá, bạn đồng hành của bệnh tật và nghèo đói, http://vnexpress.net/gl/suc-khoe/2004/05/3b9d3047/

57 Quang Phương, 2011, Mỗi năm tốn đến 8.213 tỷ đồng để... hút thuốc lá, theo VTC news ngày 26/11/2007.

Thanh Nhàn, (2004), Thuốc lá - Bạn đồng hành của bệnh tật và ngèo đói, Theo vnexpress, http://vnexpress.net/gl/suc-khoe/2004/05/3b9d3047/

58 Nguồn như trên

59 Tuệ Chi, (2011), Khoảng 40.000 người tử vong vì thuốc lá mỗi năm, Theo Báo Lao động ngày 12/10/2011

60 Nguồn như trên

6[1] Nguồn như trên

62 Thanh Ngọc, (2011), Tử vong do hút thuốc lá cao gấp 3 lần tai nạn giao thông, Petrotimes 23/8/2011

63 Updated status of the WHO Framework Convention on Tobacco Control, Sep.17, 2011

64 WHO report on the global tobacco epidemic, 2008

TS. Hoàng Thị Minh - Giảng viên Khoa Pháp luật Kinh tế - Đại học Luật Hà Nội
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bất cập của pháp luật hiện hành về phân loại đô thị (12/06/2014)
Góp ý Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (17/01/2014)
Bảo đảm quyền của người đồng tính, người chuyển giới trong tư pháp hình sự (30/10/2013)
Luật Thủ đô trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật (12/12/2012)
Chuyển biện pháp xử lý người nghiện ma túy từ pháp luật xử lý vi phạm hành chính sang pháp luật phòng, chống ma túy (21/06/2012)
Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư (12/06/2012)
Góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (12/06/2012)
Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư (12/06/2012)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Khai mạc Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân