Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ bảy, 11/02/2012, 12:37(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Một số vấn đề về Dự thảo Luật Bảo hiểm y tế
Một số vấn đề về Dự thảo Luật Bảo hiểm y tế
Bệnh nhân chờ đăng ký khám bệnh theo bảo hiểm y tế
Sau gần 15 năm triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm y tế (tính từ khi Điều lệ bảo hiểm y tế đầu tiên được ban hành năm 1992 đến nay), bên cạnh những kết quả đạt được như số lượng người tham gia bảo hiểm y tế tăng[2]; phạm vi quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế được mở rộng[3]...

 

 

Sau gần 15 năm triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm y tế (tính từ khi Điều lệ bảo hiểm y tế đầu tiên được ban hành năm 1992 đến nay), bên cạnh những kết quả đạt được như số lượng người tham gia bảo hiểm y tế tăng[2]; phạm vi quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế được mở rộng[3]; các cơ sở y tế công lập và ngoài công lập đủ điều kiện đều được ký hợp đồng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế; người tham gia bảo hiểm y tế được lựa chọn nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu..., thì còn nhiều vấn đề nảy sinh cần được giải quyết, như: thủ tục khám, chữa bệnh phức tạp; việc tạm ứng thanh, quyết toán chi phí đối với cơ sở khám, chữa bệnh chưa kịp thời; tình trạng mất cân đối Quỹ bảo hiểm y tế gia tăng[4]; thiếu sự phối hợp giữa cơ quan bảo hiểm xã hội với các cơ sở y tế; chưa có biện pháp chế tài nghiêm khắc trong quản lý, giám sát các doanh nghiệp có trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế; cơ chế, chính sách chưa tạo sức hút đối với người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện; chưa  bảo đảm về tính thống nhất, đồng bộ trong các quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế....

Để góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế, chúng tôi cùng bàn về một số vấn đề cơ bản sau:

1. Mô hình bảo hiểm y tế

Thực tiễn đang đặt ra vấn đề: thực hiện ngay mô hình bắt buộc toàn dân tham gia bảo hiểm y tế hay thực hiện mô hình vừa bảo hiểm y tế toàn dân, vừa bảo hiểm y tế tự nguyện như hiện nay? 

Mô hình bảo hiểm y tế toàn dân là mô hình lý tưởng để mọi người dân đều thuộc diện đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và được hưởng dịch vụ bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ bình đẳng; bảo đảm nguyên tắc của bảo hiểm y tế mang tính xã hội "lấy số đông bù số ít" và thể hiện bản chất tốt đẹp và tính nhân văn của Nhà nước ta. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay (lao động chính quy còn thấp, nông dân chiếm tới 70% dân số; cơ sở dịch vụ y tế chưa được bao phủ rộng khắp, chỉ tập trung ở những thành phố lớn, đồng bằng; cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong khám bệnh và chữa bệnh còn nhiều bất cập và hạn chế....), việc áp dụng ngay mô hình bảo hiểm y tế bắt buộc toàn dân tham gia là khó bảo đảm khả thi. Chỉ nên coi mô hình này là mục tiêu chiến lược để tiến tới thực hiện khi điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước đã phát triển ở mức độ cao hơn. Trước mắt, Dự thảo luật Bảo hiểm y tế vẫn nên quy định hai hình thức bảo hiểm y tế: “bắt buộc” và “tự nguyện” là phù hợp và bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn.

2. Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế có ý nghĩa xã hội sâu sắc, là quyền hiến định của công dân; đồng thời thể hiện rõ nét truyền thống tương thân tương ái, giúp đỡ nhau lúc ốm đau, bệnh tật trong cộng đồng xã hội Việt Nam. Nét đặc thù cơ bản của bảo hiểm y tế là không chỉ những người làm việc trong các khu vực có lương ổn định tham gia bảo hiểm y tế mà bảo hiểm y tế còn mở rộng diện bao phủ đến mọi thành phần trong xã hội. Hay có thể nói, đối tượng phục vụ của bảo hiểm y tế là toàn dân. Mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế chính là hướng đến việc bảo đảm chăm sóc sức khoẻ toàn dân, phù hợp với nguyên tắc của bảo hiểm y tế là lấy số đông bù số ít, chia sẻ cộng đồng và góp phần vào việc bảo đảm khả năng cân đối Quỹ BHYT.

2.1. Đối với việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc

Để thực hiện mục tiêu mở rộng diện tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc, ngoài việc quy định cụ thể các đối tượng đang thực hiện theo quy định tại Điều 3 Điều lệ Bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ, Dự thảo luật Bảo hiểm y tế còn bổ sung thêm các đối tượng được quy định trong các luật, pháp lệnh và nghị định khác liên quan hoặc những đối tượng cần phải bổ sung để phù hợp với thực tiễn. Ví dụ:

 - Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp;

- Người dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn;

- Thân nhân sĩ quan và quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân đang tại ngũ; thân nhân sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân; thân nhân sĩ quan đang làm công tác cơ yếu tại Ban Cơ yếu Chính phủ và thân nhân người đang làm công tác cơ yếu hưởng lương theo bảng lương cấp bậc quân hàm sĩ quan quân đội nhân dân;

- Trẻ em dưới 6 tuổi;

- Người đã hiến mô, bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật về hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác;

- Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam; người thuộc hộ gia đình cận nghèo;

- Học sinh, sinh viên;

- Thân nhân thuộc hộ gia đình của người lao động quy định tại khoản 1 Điều 12 Dự thảo Luật;

- Xã viên hợp tác xã, người thuộc hộ kinh doanh cá thể, người thuộc hộ gia đình làm nghề nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp ....

Việc liệt kê cụ thể các đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế trong Dự thảo Luật là chưa phù hợp với kỹ thuật lập pháp. Để tránh trùng lặp, chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời tạo thuận lợi cho việc nghiên cứu, triển khai trong thực tiễn, Dự thảo luật nên quy định theo cách dẫn chiếu trong trường hợp đối tượng đã được quy định tại các văn bản luật, pháp lệnh khác. Theo đó, Luật Bảo hiểm y tế cũng như các văn bản pháp luật khác giữ được tính ổn định và không gây ảnh hưởng đến nhau khi một trong các văn bản quy định về cùng một vấn đề phải sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thực tiễn.

Việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc là cần thiết để tăng diện bao phủ đối với người tham gia BHYT, góp phần cân đối và duy trì Quỹ bảo hiểm y tế, đồng thời thực hiện tốt mục tiêu bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tuy nhiên, dù số lượng người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc đã tăng lên đáng kể, nhưng theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tính đến tháng 12 năm 2006, nhóm người làm công ăn lương tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc mới khoảng 6, 2 triệu người trong tổng số 13, 5 triệu người, chiếm tỷ lệ 46% (còn 7, 3 triệu người chưa tham gia, trong đó chủ yếu là nhóm người lao động ở khu vực tư nhân); nhóm người được Nhà nước mua thẻ bảo hiểm y tế tham gia khoảng 3, 9 triệu người trong tổng số 6, 8 triệu người, chiếm tỷ lệ 58% (còn 2, 9 triệu người chưa được mua thẻ bảo hiểm y tế); nhóm người nghèo tham gia khoảng 15, 2 triệu người trong tổng số 18, 3 triệu người, chiếm tỷ lệ 83% (còn 3, 1 triệu người)... Việc chưa khai thác hết các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc nói trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do tính tự giác tham gia BHYT của người sử dụng lao động, người lao động chưa cao; cơ chế và việc thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát bảo hiểm y tế còn nhiều hạn chế, bất cập[5]. Vì vậy, cùng với việc quy định bổ sung thêm các đối tượng bảo hiểm y tế bắt buộc, Dự thảo luật BHYT cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ trong thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện bảo hiểm y tế, nhất là có cơ chế kiểm tra việc đóng bảo hiểm y tế cho người lao động ở khu vực tư nhân.

Ngoài ra, Dự thảo luật quy định lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế bắt buộc cho các đối tượng: học sinh, sinh viên sẽ thực hiện từ năm 2010; thân nhân thuộc hộ gia đình người lao động sẽ thực hiện từ 2012; Xã viên hợp tác xã, người thuộc hộ kinh doanh cá thể, người thuộc hộ gia đình làm nghề nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp ... thực hiện từ năm 2015.  Việc quy định cụ thể lộ trình để thực hiện đối với các đối tượng là học sinh, sinh viên; hộ gia đình cận nghèo; thân nhân người lao động trong Dự thảo luật làm ảnh hưởng đến tính chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo điều hành của Chính phủ, có khả năng đẩy Chính phủ vào thế bị động hoặc " vi phạm pháp luật " khi điều kiện và khả năng ngân sách nhà nước không đủ để hỗ trợ và làm ảnh hưởng đến khả năng cân đối Quỹ. Vì vậy, không nên quy định lộ trình cụ thể về việc tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc đối với các đối tượng nêu trên. Dự thảo luật chỉ nên quy định nguyên tắc theo hướng: "Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, Chính phủ quyết định bổ sung đối tượng là học sinh, sinh viên, hộ gia đình cận nghèo và thân nhân người lao động tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc".

2.2. Về đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện

Trong những năm qua, cùng với việc mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc, Nhà nước đang từng bước đổi mới chính sách bảo hiểm y tế tự nguyện theo nguyên tắc: tất cả các đối tượng ngoài diện tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc đều có thể tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện trên cơ sở đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Quy định hiện hành về bảo hiểm y tế tự nguyện đã tạo điều kiện cho số người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện tăng lên tương đối[6], trong đó số tham gia chủ yếu là người già, người bệnh chữa trị dài ngày với chi phí lớn, học sinh, sinh viên (số học sinh, sinh viên tham gia bảo hiểm y tế khoảng 7, 5 triệu người, chiếm 73% tổng số người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện). Song, thực tế cho thấy, mặc dù sự tham gia trên danh nghĩa là tự nguyện, nhưng ở hầu hết các trường học, phụ huynh học sinh thường mua bảo hiểm y tế cho con em mình theo tinh thần bắt buộc tự nguyện[7]; còn ở cộng đồng, đoàn thể, thì người dân mua theo tinh thần tự nguyện với sự lựa chọn    lợi cho bản thân và thân nhân của người đó, không có tính chia sẻ cộng đồng. Do đó, nhiều ý kiến cho rằng quy định hiện hành về bảo hiểm y tế tự nguyện tạo điều kiện cho sự lựa chọn "ngược", bất lợi cho Quỹ BHYT và thu hẹp đối tượng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện.

Có thể khẳng định rằng chính sách bảo hiểm y tế tự nguyện chỉ có thể thành công khi có đông đảo người dân tham gia và quyền lợi của các bên được bảo đảm. Thực tế vừa qua, nhiều người dân chỉ mua bảo hiểm y tế tự nguyện khi dự tính chi phí khám chữa bệnh của bản thân hoặc gia đình phải lớn hơn số tiền đóng bảo hiểm y tế, hoặc đưa người ốm, người mắc bệnh mãn tính, bệnh nan y vào doanh nghiệp, tổ chức để mua bảo hiểm y tế bắt buộc. Trường hợp này được các nhà nghiên cứu gọi là lựa chọn bất lợi. Do đó, để hạn chế tình trạng lựa chọn bất lợi, bảo đảm tính cân bằng của Quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện, Dự thảo Luật cần quy định các điều kiện đối với trường hợp tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện. Tuy nhiên, giữa khái niệm tự nguyện và tự nguyện có điều kiện là một vấn đề cần được cân nhắc. Điều kiện mà Dự thảo luật đặt ra phải bảo đảm nguyên tắc vừa khắc phục sự lựa chọn bất lợi cho Quỹ BHYT vừa phù hợp với khả năng đóng góp của người tham gia BHYT tự nguyện. Có như vậy BHYT tự nguyện mới thu hút được sự tham gia của người dân. Ngoài ra, để thu hút được người dân tham gia mua bảo hiểm y tế tự nguyện, thì bên cạnh việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động sâu rộng trong nhân dân, quy định của Dự thảo luật phải bảo đảm bình đẳng về quyền lợi giữa người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc và người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện; củng cố, hoàn thiện, nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng diện bao phủ các cơ sở y tế, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo...; đồng thời, tăng mức viện phí dịch vụ ở các cơ sở khám, chữa bệnh trên cả nước theo cơ chế thị trường trên cơ sở nguyên tắc tính đúng, tính đủ nhằm tạo ra sức ép buộc mọi người dân phải tham gia bảo hiểm y tế nếu không sẽ phải chi trả viện phí với giá cao. Bên cạnh đó, để khuyến khích đối tượng cận nghèo (nông dân, những người không có nguồn thu nhập ổn định) tham gia bảo hiểm y tế, Nhà nước cần hỗ trợ một phần mức đóng (ít nhất là 50%). Nguồn kinh phí hỗ trợ này nên lấy từ nguồn ngân sách nhà nước cấp cho ngành y tế thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

3. Mức đóng bảo hiểm y tế

Đóng bảo hiểm y tế không chỉ là khoản đóng trước cho việc khám, chữa bệnh của bản thân mỗi người mà nó còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc - đó là sự chia sẻ với cộng đồng, đồng thời là khoản dự phòng lúc ốm đau, bệnh tật.

3.1 Mức đóng Bảo hiểm y tế bắt buộc

Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, mức đóng bình quân của đối tượng bảo hiểm y tế bắt buộc còn rất thấp. Năm 2005, mức đóng bình quân theo đầu người là 287.000 đồng /người /năm, năm 2006 là 302.000 đồng /người /năm, năm 2007 là 362.000 đồng /người /năm. Đối với nhóm đối tượng người nghèo được Nhà nước mua bảo hiểm y tế, tiền mua bảo hiểm y tế cũng được điều chỉnh hàng năm: năm 2005 là 50.000 đồng /người /năm, năm 2006 là 60.000 đồng /người /năm, năm 2007 là 80.000 đồng /người /năm. Mức điều chỉnh nói trên vẫn chưa tương ứng khi mức độ gia tăng chi phí khám, chữa bệnh hàng năm cao hơn nhiều so với mức độ tăng của số người tham gia bảo hiểm y tế. Năm 2006, thu gần 4.900 tỉ đồng, chi tới 6.400 tỉ, mức thâm hụt chi tiêu năm 2006 gần 1.400 tỉ đồng[8].

Để khắc phục tình trạng mất cân đối trong thu - chi khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế, bảo đảm tính linh hoạt, chủ động của Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành chính sách BHYT, Điều 14 Dự thảo Luật nên quy định nguyên tắc về mức trần cao nhất 6% trên mức tiền lương, tiền công tháng, tiền lương tối thiểu, tiền lương hưu, tiền trợ cấp mất sức, tiền trợ cấp thất nghiệp, mức học bổng... tương ứng với từng nhóm đối tượng và giao Chính phủ quy định mức đóng cụ thể của từng nhóm đối tượng trên nguyên tắc bảo đảm khả năng cân đối Quỹ BHYT, khả năng cân đối nguồn từ ngân sách nước đối với một số nhóm đối tượng được Nhà nước hỗ trợ và khả năng tham gia BHYT của từng nhóm đối tượng. Tuy nhiên, trong quá trình hoàn thiện Dự thảo luật vẫn có quan điểm cần quy định cụ thể mức đóng của các đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc để bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả các quy định của Luật trong thực tiễn.

3.2. Mức đóng Bảo hiểm y tế tự nguyện

Hiện nay, mức đóng bảo hiểm y tế tự nguyện không được quy định cụ thể trong Điều lệ bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ mà được giao cho Bộ Y tế và Bộ Tài chính quy định.

Dự thảo Luật Bảo hiểm y tế quy định có tính nguyên tắc về mức đóng trần cao nhất là 6%  mức lương tối thiểu chung và giao cho Chính phủ quy định theo hướng: có nhiều mức đóng cụ thể để người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện có thể lựa chọn mức đóng phù hợp với điều kiện và khả năng thu nhập của bản thân. Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng, Dự thảo luật cần quy định bảo hiểm y tế bổ sung là một trong những loại hình của BHYT tự nguyện và phạm vi quyền lợi mức hưởng được xác định trên cơ sở mức đóng. Nếu quy định theo hướng này, Dự thảo Luật có xu hướng thương mại hoá bảo hiểm y tế tự nguyện. Đây cũng là một vấn đề cần làm rõ: bảo hiểm y tế tự nguyện  mang tính xã hội hay tính thương mại? Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân là mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta. Bảo hiểm y tế là một trong các chính sách an sinh xã hội, thể hiện nguyên tắc chia sẻ cộng đồng "lấy số đông bù số ít, người giàu chia sẻ với người nghèo, người khoẻ chia sẻ với người yếu". Quy định theo hướng quyền lợi của việc khám bệnh, chữa bệnh y tế tự nguyện trên cơ sở mức đóng bảo hiểm y tế là không phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước trong thực hiện bảo hiểm xã hội về y tế, nhất là không bảo đảm nguyên tắc mức hưởng trên cơ sở mức độ bệnh tật bảo đảm mục tiêu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, giảm khoảng cách giàu - nghèo.

Chính sách bảo hiểm y tế tự nguyện mới được triển khai, chưa ổn định, đang trong quá trình vừa tổ chức thực hiện vừa đúc rút kinh nghiệm, Vì vậy, quy định cứng mức đóng cụ thể bảo hiểm y tế tự nguyện trong Luật sẽ tạo ra cơ chế khô cứng, không bảo đảm tính linh hoạt, kịp thời của Chính phủ trong việc điều chỉnh mức phí đóng bảo hiểm y tế cho phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ, đặc biệt trong cơ chế thị trường, các yếu tố tác động đến thị trường luôn có sự biến đổi thường xuyên, liên tục và nhanh chóng. Mặt khác, việc sửa đổi các quy định của Luật với nhiều thủ tục phức tạp, thời gian kéo dài không đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Từ những vấn đề nêu trên, Dự thảo luật nên quy định theo hướng: Căn cứ vào khả năng thu nhập của từng nhóm đối tượng, Chính phủ quy định các mức đóng khác nhau nhưng quyền lợi trong khám, chữa bệnh và được Quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện chi trả như nhau. Có như vậy mới thu hút được nhóm đối tượng cận nghèo tham gia vào bảo hiểm y tế tự nguyện và bảo đảm được mục tiêu thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.

4. Quỹ bảo hiểm y tế

Dự thảo Luật quy định, Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất để có thể điều tiết chung nguồn Quỹ trên phạm vi toàn quốc, đồng thời phân cấp BHYT theo hệ thống dọc. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, cần phân cấp quản lý Quỹ BHYT cho UBND cấp tỉnh, cấp huyện.

Việc phân cấp quản lý Quỹ cho chính quyền địa phương phù hợp với định hướng phân cấp của Luật Ngân sách. Hơn nữa, việc phân cấp quản lý Quỹ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và sự chủ động của chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế trên địa bàn như: đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về bảo hiểm y tế; động viên khuyến khích người dân trên địa bàn tham gia bảo hiểm y tế, nhất là đối với bảo hiểm y tế tự nguyện; bảo vệ quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm y tế; ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, việc phân cấp Quỹ BHYT cho chính quyền địa phương cấp tỉnh, cấp huyện sẽ dẫn đến tình trạng Quỹ BHYT bị phân tán, nhỏ lẻ, không bảo đảm tính linh hoạt, chủ động trong việc điều tiết nguồn Quỹ giữa các địa phương hoặc giữa địa phương và trung ương khi cần thiết, tính chia sẻ cộng đồng bị hạn chế trong phạm vi hẹp dễ dẫn đến tình trạng không bình đẳng về quyền lợi của người tham gia BHYT giữa các địa phương, không phù hợp với tinh thần cải cách hành chính. Vì vậy, trong giai đoạn hiện nay, Dự thảo Luật quy định Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất và công khai, gồm 2 quỹ thành phần: quỹ bảo hiểm y tế bắt buộc và Quỹ bảo hiểm y tế tự nguyện, có sự liên thông để điều tiết nhằm bảo đảm cân đối thu, chi là phù hợp với yêu cầu quản lý và thực tiễn

Để khắc phục những hạn chế, bất cập của mô hình Quỹ BHYT quản lý tập trung, thống nhất (không phân cấp cho chính quyền địa phương), đồng thời nâng cao tinh thần trách nhiệm của chính quyền địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế trên địa bàn thì cần xây dựng cơ chế trích một phần từ Quỹ bảo hiểm y tế để chính quyền địa phương thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo hiểm y tế; vận động nhân dân tham gia bảo hiểm y tế; phát hiện và xử lý các vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế. Ngoài ra, để khắc phục tình trạng hạn chế về chuyên môn và phối hợp trong hoạt động giám định của BHXH về hoạt động khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y tế, Dự thảo Luật nên xây dựng mô hình Hội đồng chuyên môn về y, dược giúp Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam và Giám đốc BHXH cấp tỉnh, cấp huyện trong việc kiểm soát và giải quyết khiếu kiện về chuyên môn y tế./.

[1] Dự thảo Luật Bảo hiểm y tế trình Quốc hội ngày 03/4/2008.

[2] Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tổng số người tham gia bảo hiểm y tế ước tính đến tháng 12 năm 2006 có 36,5 triệu người, tương đương với 43,4% dân số (tăng gần 10 triệu người so với năm 2005), trong đó có hơn 25 triệu người trong diện bảo hiểm y tế bắt buộc và 11,1 triệu người trong diện bảo hiểm y tế tự nguyện. Tổng số người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện năm 2006 ước tính tăng gần gấp 2 lần so với năm 2003, trong đó số học sinh, sinh viên tham gia bảo hiểm y tế khoảng 8 triệu người, chiếm 73% trong tổng số người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện.

[3] Tất cả người bệnh không phải thực hiện cùng chi trả 20% chi phí khám, chữa bệnh; đối với một số đối tượng ưu đãi được Quỹ bao rhiểm y tế thanh toán chi phí các dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí chuyển viện; học sinh, sinh viên được chăm sóc sức khỏe ban đầu tại Nhà trường và hưởng trợ cấp mai táng phí khi tử vong…

[4] Theo ước tính của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, năm 2006, Quỹ bảo hiểm y tế bội chi tới 1348 tỷ đồng.

[5] Báo cáo đánh giá chính sách và tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế ở Việt Nam của Viện chiến lược và chính sách y tế - Bộ Y tế cho biết: các doanh nghiệp tư nhân thường lẩn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm y tế cho người lao động như không khai báo, ký hợp đồng ngắn hạn… hoặc nếu có mua cũng chỉ mua cho số ít người lao động, ví dụ chỉ mua cho người lao động làm việc với doanh nghiệp trên một năm hoặc trường hợp thấy người lao động cần phải gắn trách nhiệm lâu dài với doanh nghiệp.

[6] Theo báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam, tổng số người tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện năm 2006 ước tính tăng gần gấp 2 lần so với năm 2003

[7] Theo “Báo cáo đánh giá chính sách và tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế ở Việt Nam” của Viện chiến lược và chính sách y tế - Bộ Y tế.

[8]. Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Trương Hồng Dương
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Một số nội dung cơ bản của Dự thảo Luật Giáo dục đại học (29/12/2011)
Đại học tư thục "khoác áo" doanh nghiệp - vài suy nghĩ về dự thảo Luật giáo dục đại học (02/11/2011)
Về cách thức tiếp cận và một số nội dung của Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (23/09/2011)
Luật Nhà giáo - cơ sở pháp lý cho việc xây dựng và quản lý đội ngũ nhà giáo (23/06/2011)
Ban hành Luật phổ biến, giáo dục pháp luật - biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật trong nhà trường (10/06/2011)
Dự thảo Luật Giáo dục đại học Việt Nam: Bàn về tự chủ đại học (09/05/2011)
Dự thảo Luật Thủ đô: Tính hợp hiến và hợp pháp trong quy định HĐND TP Hà Nội có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật (15/03/2011)
Dự thảo Luật Giáo dục đại học Việt Nam: Bàn về tự chủ đại học (09/05/2011)
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân