Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ bảy, 20/10/2018, 13:10(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Một số nội dung cơ bản của Dự thảo Luật Giáo dục đại học

Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2011, Chính phủ đang chuẩn bị trình Quốc hội xem xét cho ý kiến về Dự án Luật Giáo dục đại học (Luật GDĐH) tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XIII và sẽ thảo luận, thông qua Dự án Luật này tại kỳ họp thứ ba vào quý II năm 2012.

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: cần đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam nói chung trong đó có GDĐH theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là khâu then chốt. Sau 25 năm đổi mới của đất nước và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010, GDĐH nước ta đã từng bước phát triển về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo; cung cấp nguồn lao động chủ yếu có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, GDĐH cũng còn không ít hạn chế, yếu kém, phương pháp quản lý nhà nước đối với cơ sở GDĐH chậm được thay đổi, chưa bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống, chưa phát huy mạnh mẽ được sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và người học.

Luật Giáo dục là luật khung, quy định một số vấn đề chung của GDĐH, còn các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về GDĐH hiện còn quy định phân tán, hiệu lực pháp lý không cao. Nhiều vấn đề quan trọng của GDĐH được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành, cần được điều chỉnh bằng một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao, pháp điển hóa các quy định còn phân tán trong các văn bản dưới luật thành quy định của Luật GDĐH. Trong bối cảnh GDĐH Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng với hệ thống GDĐH trong khu vực và trên thế giới, việc ban hành Luật GDĐH là cần thiết để điều chỉnh các hoạt động GDĐH phù hợp với các cam kết quốc tế, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, quản lý tốt hơn hoạt động hợp tác, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực GDĐH. Việc ban hành Luật GDĐH là cần thiết, nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc, thống nhất cho sự phát triển của GDĐH và thực hiện các mục tiêu của GDĐH.

Nếu Luật Giáo dục điều chỉnh toàn bộ các cấp học và trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân, từ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và GDĐH thì Luật GDĐH là luật chuyên ngành đầu tiên quy định về tổ chức, hoạt động GDĐH, cụ thể hóa các quy định khung của Luật Giáo dục về GDĐH. Luật GDDH nâng các quy định tại các văn bản dưới luật đã được thực tiễn kiểm nghiệm và mang tính ổn định thành các nội dung của Luật. Vấn đề thành lập cơ sở GDĐH quy định tại Nghị quyết số 50/2010/QH12 ngày 19/6/2010 của Quốc hội khóa 12 về việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo đối với GDĐH đã được thể hiện tại khoản 3 Điều 10 Chương I của Dự thảo Luật, trong đó có ưu tiên thành lập cơ sở GDĐH tư thục có vốn đầu tư lớn, bảo đảm đầy đủ các điều kiện thành lập theo quy định. Vấn đề quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đã được thể hiện tại khoản 1 Điều 9 Chương I của Dự thảo Luật. Quy hoạch mạng lưới cơ sở GDĐH là sự phân bố, sắp xếp hệ thống các trường cao đẳng, trường đại học, học viện, đại học, đại học quốc gia với cơ cấu ngành nghề, trình độ đào tạo phù hợp với quy mô dân số, vị trí địa lý, vùng lãnh thổ trên toàn quốc và từng địa phương, cho từng thời kỳ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh của đất nước”. Nội dung về cơ cấu tổ chức cơ sở GDĐH quy định tại Điều 25 Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đã được thể hiện tại Điều 12, Điều 13 Chương II của Dự thảo Luật. Vấn đề nhiệm vụ và quyền hạn của trường đại học quy định tại Điều 5 Chương II Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ trường đại học đã được thể hiện tại Điều 24 Chương III của Dự thảo Luật. Các vấn đề bản về cơ sở GDĐH tự chủ xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch phát triển trường; triển khai hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng GDĐH; tổ chức bộ máy; tuyển dụng, quản lý, xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ; quản lý người học; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo và chịu sự giám sát, kiểm tra, thanh tra của các cơ quan có thẩm quyền; được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, cơ sở vật chất; được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật; được hợp tác với các tổ chức kinh tế, giáo dục, văn hóa, thể dục, thể thao, y tế, nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài... cũng đã được bao quát, xây dựng.

Vấn đề mở ngành đào tạo quy định tại Điều 9 Chương III Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ trường đại học đã được thể hiện tại Điều 29 Chương IV của Dự thảo Luật. Cơ sở GDĐH được phép mở ngành đào tạo trình độ cao đẳng, đại học; ngành, chuyên ngành đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ khi đáp ứng đủ các điều kiện về đội ngũ giảng viên, cán bộ khoa học cơ hữu; cơ sở vật chất, thiết bị, thư viện, giáo trình; chương trình đào tạo. Vấn đề tuyển sinh quy định tại Điều 11 Chương III Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ trường đại học đã được thể hiện tại Điều 30 Chương IV của Dự thảo: Cơ sở GDĐH tự chủ, tự chịu trách nhiệm xác định chỉ tiêu tuyển sinh, công bố công khai chỉ tiêu tuyển sinh, chất lượng đào tạo và các điều kiện bảo đảm chất lượng GDĐH. Cơ sở GDĐH tự chủ quyết định phương thức tuyển sinh và chịu trách nhiệm về công tác tuyển sinh.

Nhiệm vụ của giảng viên quy định tại Điều 25 và Quyền của giảng viên quy định tại Điều 26 Chương VI Quyết định số 58/2010/QĐ-TTg ngày 22/9/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ trường đại học đã được thể hiện tại Điều 49 Chương VIII của Dự thảo Luật. Giảng viên giảng dạy theo mục tiêu, chương trình đào tạo; nghiên cứu, phát triển ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ; học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy; tham gia quản lý và giám sát cơ sở GDĐH; tham gia công tác Đảng, đoàn thể và các công tác khác. Giảng viên được ký hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học với các cơ sở GDĐH, cơ sở nghiên cứu khoa học; được bổ nhiệm chức danh của giảng viên, được xét tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú; được khen thưởng theo quy định của pháp luật...

Một số nội dung quy định tại Luật Giáo dục được bổ sung tại Dự thảo Luật GDĐH. Điều 41 của Luật Giáo dục quy định về Chương trình khung, Dự thảo Luật GDĐH giao Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về chuẩn tối thiểu về kiến thức, kỹ năng mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; quy định các môn học bắt buộc trong chương trình đào tạo đối với các trình độ đào tạo của cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài; quy định việc biên soạn, lựa chọn, thẩm định, duyệt và sử dụng tài liệu giảng dạy, giáo trình GDĐH. Dự thảo Luật GDĐH bổ sung quy định về cách xác định chỉ tiêu tuyển sinh. Chỉ tiêu tuyển sinh được xác định trên cơ sở nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, phù hợp với các điều kiện về số lượng và chất lượng đội ngũ giảng viên; cơ sở vật chất và thiết bị.

Những vấn đề chưa được quy định hoặc quy định chưa rõ trong Luật Giáo dục đã được quy định mới và cụ thể hơn trong Luật GDĐH. Vai trò của Nhà nước về phát triển GDĐH, tăng ngân sách đầu tư cho GDĐH; đầu tư ngân sách có trọng điểm để hình thành một số cơ sở GDĐH chất lượng cao thuộc các ngành khoa học cơ bản, các ngành khoa học và công nghệ cao đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Khoản 3 Điều 10 của Dự thảo Luật quy định về chính sách xã hội hóa và hoạt động không vì lợi nhuận. Cơ sở GDĐH tư thục được cấp kinh phí khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng, gắn đào tạo với nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hợp tác giữa cơ sở GDĐH với cơ sở nghiên cứu khoa học và với doanh nghiệp. Luật GDDH cũng đã thực hiện phân tầng cơ sở GDĐH để có chính sách đầu tư, giao nhiệm vụ và quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phù hợp với vị trí, vai trò, năng lực bảo đảm chất lượng đào tạo của cơ sở GDĐH, có chính sách ưu tiên đối với đối tượng được hưởng chính sách xã hội; đối tượng ở vùng đồng bào dân tộc ít người, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đối tượng theo học các ngành đặc thù đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện bình đẳng giới trong GDĐH.

Dự thảo Luật thiết kế một điều riêng quy định về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của cơ sở GDĐH. Khoản 1 Điều 28 của Dự thảo Luật quy định 6 nội dung về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của cơ sở GDĐH, gồm tổ chức và nhân sự; tài chính và tài sản; hoạt động đào tạo; hoạt động khoa học và công nghệ, hoạt động hợp tác quốc tế và bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng GDĐH. Khoản 2 Điều 28 của Dự thảo Luật đã quy định 4 điều kiện để được giao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm: 1) vị trí, vai trò, nhiệm vụ; 2) năng lực thực hiện quyền tự chủ; 3) cam kết trách nhiệm khi thực hiện quyền tự chủ và 4) kết quả kiểm định chất lượng GDĐH. Khoản 3 Điều 28 của Dự thảo Luật quy định cơ sở GDĐH không còn đủ năng lực để thực hiện quyền tự chủ về đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế thì quyền tự chủ bị thu hồi; cơ sở GDĐH vi phạm khi thực hiện quyền tự chủ thì bị xử lý theo quy định của pháp luật.  Khoản 4 Điều 28 của Dự thảo Luật quy định Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan quy định cụ thể về điều kiện được tự chủ, tự chịu trách nhiệm; mức độ thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm; việc thu hồi quyền tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ được giao; xử lý các hành vi vi phạm.

Để ưu đãi, khuyến khích các cơ sở GDĐH tư thục và cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì mục đích lợi nhuận; khuyến khích đầu tư cho hoạt động giáo dục, Dự thảo Luật GDĐH khuyến khích các cơ sở GDĐH tư thục và cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì mục đích lợi nhuận; Cấm lợi dụng các hoạt động GDĐH vì mục đích vụ lợi. Phần tài chính chênh lệch giữa thu và chi từ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của cơ sở GDĐH tư thục phải được dành một phần hợp lý để đầu tư cho hoạt động giáo dục, xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, viên chức, cán bộ quản lý giáo dục, phục vụ cho hoạt động học tập và sinh hoạt của người học hoặc cho các mục đích từ thiện, thực hiện trách nhiệm xã hội. Phần này được miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Phần còn lại, nếu phân phối cho các nhà đầu tư và người lao động của cơ sở GDĐH, thì phải nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Để phần tài sản tích lũy trong quá trình hoạt động, tài sản được ủng hộ, hiến tặng, đất đai mà Nhà nước đã cho thuê hoặc giao cho cơ sở GDĐH không biến thành tài sản tư nhân, khoản 4, khoản 5 Điều 60 Dự thảo Luật Giáo dục đại học đã quy định giá trị tài sản tích lũy được trong quá trình hoạt động của cơ sở GDĐH tư thục và giá trị của các tài sản được tài trợ, ủng hộ, hiến tặng cho cơ sở GDĐH tư thục được quản lý theo nguyên tắc bảo toàn và phát triển. Tài sản và đất đai Nhà nước giao cho cơ sở GDĐH tư thục quản lý và tài sản cơ sở GDĐH tư thục được tài trợ, ủng hộ, hiến tặng phải sử dụng đúng mục đích, không chuyển đổi mục đích sử dụng và không được chuyển thành sở hữu tư nhân dưới bất cứ hình thức nào. Khoản 6 Điều 59 Dự thảo Luật GDĐH quy định cơ sở GDĐH thực hiện chương trình đào tạo chất lượng cao được thu học phí tương xứng với chất lượng đào tạo. Quy định này khuyến khích các cơ sở GDĐH cạnh tranh nâng cao chất lượng, đảm bảo hài hòa cơ cấu nhân lực, nâng cao tính cạnh tranh của sinh viên Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Dự thảo Luật GDĐH quy định chức danh giảng viên, gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư và giáo sư. Khoản 5 Điều 49 Dự thảo Luật quy định việc kéo dài thời gian làm việc của các giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư. Giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư công tác trong cơ sở GDĐH có thể kéo dài thời gian làm việc kể từ khi đủ tuổi nghỉ hưu để giảng dạy, nghiên cứu khoa học, nếu giảng viên có đủ sức khỏe, tự nguyện kéo dài thời gian công tác, đồng thời cơ sở GDĐH có nhu cầu.

Dự thảo Luật GDĐH có những nội dung quy định về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài gồm cơ sở GDĐH có 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; cơ sở GDĐH liên doanh giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể điều kiện và thủ tục thành lập hoặc cho phép thành lập, cho phép hoạt động đào tạo, đình chỉ hoạt động đào tạo, sáp nhập, chia, tách, giải thể trường đại học, học viện, đại học, đại học quốc gia và cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định cho phép hoạt động đào tạo, đình chỉ hoạt động đào tạo trường cao đẳng, trường đại học, học viện và cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài. Cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài xây dựng và thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giảng dạy, nghiên cứu khoa học; xây dựng đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, thiết bị, giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập; bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng GDĐH; tổ chức hoạt động đào tạo, cấp phát văn bằng, chứng chỉ theo quy định của pháp luật; tổ chức và hoạt động theo quyết định cho phép thành lập, cho phép hoạt động đào tạo; công khai cam kết chất lượng đào tạo, công khai về nguồn lực và tài chính. Cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo, định kỳ báo cáo về tình hình hoạt động và giải trình với Bộ Giáo dục và Đào tạo, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài đặt trụ sở và hoạt động; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người học, giảng viên và những người lao động khác trong trường hợp chấm dứt hoặc buộc phải chấm dứt hoạt động trước thời hạn; tôn trọng các phong tục, tập quán của Việt Nam, được Nhà nước Việt Nam bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Luật GDĐH sẽ là công cụ pháp lý quan trọng để đổi mới cơ bản và toàn diện GDĐH, bảo đảm quyền tự chủ và nâng cao chất lượng GDĐH, đổi mới và  nâng cao chất lượng quản lý GDĐH.

PGS, TS. Chu Hồng Thanh - Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Giáo dục và đào tạo.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bất cập của pháp luật hiện hành về phân loại đô thị (12/06/2014)
Góp ý Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (17/01/2014)
Bảo đảm quyền của người đồng tính, người chuyển giới trong tư pháp hình sự (30/10/2013)
Luật Thủ đô trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật (12/12/2012)
Chuyển biện pháp xử lý người nghiện ma túy từ pháp luật xử lý vi phạm hành chính sang pháp luật phòng, chống ma túy (21/06/2012)
Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư (12/06/2012)
Góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (12/06/2012)
Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư (12/06/2012)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ và một số nội dung Việt Nam có thể tiếp thu

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Chính sách ưu đãi thuế, tài chính, ngân hàng ở một số đặc khu thuộc Trung Quốc và kiến nghị cho các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt của Việt Nam

Sự hình thành luật tập quán quốc tế trước bối cảnh thay đổi cơ bản

Hoàn thiện các quy định của Luật Thuơng mại năm 2005 để đảm bảo sự thống nhất với Bộ Luật Dân sự năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân