|
Một số hướng lựa chọn khi xây dựng các quy định trong luật bảo hiểm y tế
|
||
|
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những loại hình bảo hiểm xã hội mang tính nhân đạo cao cả, tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. ở nước ta, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về BHYT là tiến tới mục tiêu BHYT toàn dân, quan điểm này đã được xác định từ Hiến pháp 1992[1] và luôn nhất quán trong các văn kiện của Đảng[2].
1. Sự cần thiết phải ban hành Luật bảo hiểm y tế Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những loại hình bảo hiểm xã hội mang tính nhân đạo cao cả, tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. ở nước ta, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về BHYT là tiến tới mục tiêu BHYT toàn dân, quan điểm này đã được xác định từ Hiến pháp 1992[1] và luôn nhất quán trong các văn kiện của Đảng[2]. BHYT hiện nay ở nước ta đang được triển khai thực hiện theo Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ. Sau hơn một năm thực hiện chính sách BHYT mới đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ: số người tham gia BHYT đã tăng nhanh và đạt được mục tiêu mở rộng các đối tượng tham gia BHYT[3]; khẳng định tính đúng đắn và phù hợp trong lựa chọn chính sách tài chính thông qua BHYT - một cơ chế bảo đảm tài chính y tế mang tính xã hội cao dựa trên nguyên tắc đoàn kết, tương trợ, chia sẻ rủi ro trong cộng đồng[4]; việc khám bệnh, chữa bệnh BHYT được mở rộng ở cả khu vực công lập và tư nhân, đặc biệt là việc tổ chức khám bệnh, chữa bệnh BHYT tại tuyến xã đã tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia BHYT trong việc tiếp cận, lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, góp phần củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khoẻ ban đầu và khám bệnh, chữa bệnh thông thường tại tuyến y tế cơ sở; cơ chế BHYT đã từng bước thúc đẩy các cơ sở y tế chuyển đổi cơ chế quản lý, sử dụng nguồn lực và nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh; chính sách BHYT đã góp phần xóa đói, giảm nghèo và thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Chính sách BHYT cũng đã góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân trong việc lựa chọn giải pháp tài chính để chăm lo cho sức khoẻ của bản thân, đồng thời góp phần hình thành và phát triển hệ thống an sinh xã hội ở nước ta. Những kết quả trên đây cho thấy, Nghị định số 63/2005/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn đã cơ bản khắc phục được những bất cập, hạn chế của các văn bản trước đây về BHYT, có tác động tích cực và thực sự đi vào cuộc sống với việc mở rộng đối tượng tham gia BHYT và phạm vi quyền lợi cho người tham gia BHYT. Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện chính sách BHYT theo quy định hiện hành cũng bộc lộ một số hạn chế: Thứ nhất, mặc dù đối tượng tham gia BHYT đã được mở rộng nhưng mức độ bao phủ BHYT trong dân số chưa cao, đối tượng tham gia BHYT hiện tại chủ yếu là diện bắt buộc. Tình trạng các doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể trốn đóng BHYT cho người lao động còn ở mức cao. Hiện nay mới chỉ khai thác được khoảng 50% đối tượng diện bắt buộc tham gia BHYT thuộc khối doanh nghiệp[5]. Thứ hai, chính sách BHYT tự nguyện chưa được nghiên cứu đầy đủ, chưa sát với thực tiễn, do đó, các quy định về BHYT tự nguyện chưa chặt chẽ, thiếu tính ổn định, nên chỉ những người thường xuyên ốm, người mắc bệnh mạn tính hoặc người điều trị bệnh có chi phí lớn tham gia. Thứ ba, mức đóng BHYT bắt buộc không thay đổi trong nhiều năm qua với mức quy định là 3% tiền lương, tiền công hoặc mức lương tối thiểu chung, đặc biệt mức đóng của nhóm người nghèo rất thấp (60.000 đồng /người /năm 2006 và 80.000 đồng /người /năm 2007). Đây là một trong những nguyên nhân chính làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bệnh nhân BHYT và các cơ sở khám chữa bệnh. Điều chỉnh từng bước mức phí BHYT phù hợp với nhu cầu chi phí khám chữa bệnh và khả năng đóng góp là giải pháp quan trọng tạo cơ sở mở rộng và phát triển BHYT, đặc biệt là khả năng tiếp cận các dịch vụ kỹ thuật cao. Thứ tư, thủ tục, giấy tờ khi đi khám chữa bệnh của người bệnh BHYT còn phức tạp và chưa thống nhất. Người bệnh BHYT vẫn phải chờ đợi lâu và phải xuất trình nhiều thủ tục, giấy tờ, gây phiền hà cho người bệnh, nhất là quy định xuất trình đăng ký tạm trú, tạm vắng đối với các trường hợp khám chữa bệnh ngoại tỉnh. Còn nhiều biểu mẫu thống kê, báo cáo đối với cơ sở y tế. Có sự trùng lặp trong việc theo dõi, quản lý người bệnh BHYT tại bệnh viện, làm chậm trễ, tốn thời gian chờ đợi của người bệnh và lãng phí nguồn lực. Thứ năm, sự gia tăng đột biến chi phí khám chữa bệnh đã tác động đến khả năng đảm bảo cân đối thu - chi của quỹ BHYT trong những năm tới. Sau khi Nghị định số 63/2005/NĐ-CP có hiệu lực, chi phí khám chữa bệnh BHYT tăng nhanh trên phạm vi cả nước cũng như ở mỗi bệnh viện. Quỹ BHYT có khả năng mất cân đối thu chi nếu không có biện pháp điều chỉnh kịp thời[6]. Thứ sáu, chính sách BHYT bắt buộc chưa có cơ sở pháp lý đầy đủ để tổ chức thực hiện một cách triệt để. Luật BHYT chưa được ban hành, Điều lệ BHYT hiện hành ban hành theo Nghị định của Chính phủ không có thiết chế đủ mạnh để các doanh nghiệp tư nhân tuân thủ việc thực hiện đóng BHYT cho người lao động. Chính vì vậy, nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân tìm cách trốn tránh không tham gia BHYT, số lao động trong khu vực lao động ngoài quốc doanh có BHYT đạt tỷ lệ chưa cao. Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính không mang lại hiệu quả mong muốn. Một số doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận nộp phạt hành chính một số tiền nhỏ để không đóng phí BHYT với số tiền lớn hơn nhiều lần. Thứ bảy, phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT hiện hành đang chứa đựng nguy cơ không an toàn cho quỹ. Theo các quy định hiện hành, quỹ BHYT thanh toán chi phí khám, chữa bệnh theo giá thu một phần viện phí. Về bản chất, đây là phương thức thanh toán theo phí dịch vụ (fee for service), một phương thức thanh toán có hệ quả không thể tránh khỏi là sự leo thang chi phí khám, chữa bệnh và sự tốn kém chi phí quản lý. Các nước thực hiện BHYT toàn dân đã từng bước loại bỏ phương thức thanh toán này. Vì vậy, cần xem xét, lựa chọn phương thức thanh toán phù hợp nhằm phát huy vai trò tích cực của cơ sở khám chữa bệnh trong quản lý, khuyến khích sử dụng quỹ BHYT có hiệu quả, tăng cường quyền lợi của bệnh nhân BHYT. Thứ tám, chi phí cho thuốc luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí chữa bệnh BHYT, nhưng thuốc ở nước ta chưa được coi là một mặt hàng đặc biệt, chưa được quản lý giá thống nhất như tại nhiều nước kinh tế thị trường phát triển khác. Do chưa có sự quản lý giá nên giá thuốc chênh lệch giữa các khu vực một cách không hợp lý, giá một số loại thuốc có thể thay đổi ngay trong ngày, tuỳ thuộc vào sự khan hiếm và hoàn toàn do nhà cung ứng quyết định. Thực trạng này ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn ngân sách nhà nước dành cho y tế cũng như hiệu quả sử dụng của quỹ BHYT. Xây dựng cơ chế quản lý thuốc và tiến tới quản lý giá thuốc là một trong những yêu cầu thiết yếu của sự nghiệp chăm sóc sức khoẻ toàn dân. Từ những phân tích trên đây, việc ban hành Luật BHYT ở nước ta là yêu cầu cấp bách, nhằm thể chế hóa đầy đủ hơn nữa đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chính sách BHYT; tạo cơ sở pháp lý cao nhất trong thực hiện chính sách BHYT trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện những quy định hiện hành về chính sách BHYT, nhằm đáp ứng yêu cầu về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đáp ứng với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. 2. Một số ý kiến về Dự thảo Luật Bảo hiểm y tế Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra một số ý kiến cá nhân xung quanh một số nội dung của Dự án Luật BHYT được trình xin ý kiến Chính phủ. Loại hình bảo hiểm y tế Về vấn đề này hiện có hai loại ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất đề nghị thực hiện BHYT theo hai hình thức vừa bắt buộc, vừa tự nguyện như hiện nay. Loại ý kiến thứ hai đề nghị thực hiện BHYT bắt buộc cho toàn dân theo hình thức hộ gia đình và không thực hiện hình thức BHYT tự nguyện. Những người theo quan điểm này cho rằng, theo kinh nghiệm quốc tế và tình hình thực hiện chính sách BHYT tự nguyện trong thời gian qua cho thấy, phương thức BHYT bắt buộc thực hiện thành công hơn phương thức BHYT tự nguyện. Phần lớn những người tham gia phương thức BHYT tự nguyện đều là học sinh phổ thông. Tuy nhiên, dường như nhiều học sinh mua BHYT trong điều kiện chịu áp lực của chính quyền địa phương, của nhà trường. Nếu tiếp tục duy trì hình thức BHYT tự nguyện ở nước ta thì không thể đạt được mục tiêu tiến tới BHYT toàn dân như quan điểm của Đảng và Nhà nước đã đề ra. Theo chúng tôi, nên xây dựng Luật BHYT theo loại ý kiến thứ nhất, tức là vẫn thực hiện BHYT song song với hai loại hình, vừa bắt buộc vừa tự nguyện. Bởi vì xét điều kiện kinh tế - xã hội của nước ta hiện tại và trong thời gian tới, khu vực lao động chính quy làm công ăn lương chưa lớn, trong khi đó các đối tượng là nông dân, học sinh, sinh viên, lao động tự do… chiếm đa số dân cư và hầu hết có mức thu nhập thấp, chưa có điều kiện tham gia BHYT bắt buộc, ngân sách Nhà nước cũng chưa đủ khả năng hỗ trợ mức đóng BHYT cho các đối tượng này. Mặt khác, sự hiểu biết của người dân về BHYT còn hạn chế, tính tuân thủ pháp luật của các đối tượng tham gia BHYT chưa cao. Vì vậy, việc quy định thực hiện BHYT bắt buộc toàn dân cần phải có lộ trình, thời gian hợp lý, nếu quy định thực hiện BHYT bắt buộc toàn dân ngay e rằng sẽ rất khó áp dụng trên thực tế, tính khả thi của luật sẽ không cao. Mức đóng bảo hiểm y tế Hiện có hai loại ý kiến khác nhau, loại ý kiến thứ nhất đề nghị quy định mức đóng của đối tượng do ngân sách nhà nước bảo đảm bằng 3% mức lương tối thiểu chung, các đối tượng còn lại mức đóng BHYT bằng 5% mức tiền lương, tiền công hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội; đối tượng có tiền lương, tiền công thì chủ sử dụng đóng 3%, người lao động đóng 2%. Loại ý kiến thứ hai đề nghị quy định nguyên tắc xác định mức đóng BHYT tối đa bằng 6% trên tiền lương, tiền công, tiền trợ cấp bảo hiểm xã hội, mức học bổng hoặc mức lương tối thiểu chung; đối tượng có tiền lương, tiền công thì chủ sử dụng đóng 2/3, người lao động đóng 1/3 mức đóng BHYT. Chính phủ quy định cụ thể mức đóng cho các nhóm đối tượng, để bảo đảm tính chủ động, linh hoạt, kịp thời của Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành chính sách BHYT phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ. Mỗi loại ý kiến đều có những luận giải chứng minh cho quan điểm của mình. Tuy nhiên, chúng tôi đồng ý với loại ý kiến thứ nhất, bởi việc phân chia thành các mức đóng 3%, 5% tương ứng với từng nhóm đối tượng nhằm bảo đảm khả năng chi trả của Quỹ BHYT theo phạm vi quyền lợi của người tham gia BHYT đã được quy định trong dự luật BHYT. Về mức đóng đối với người tham gia BHYT tự nguyện, chúng tôi cho rằng không nên quy định một cách cứng nhắc bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với mức lương tối thiểu chung hoặc quy định mức đóng có giới hạn như hiện nay[7]. Kinh nghiệm của một số nước đã thực hiện BHYT toàn dân cho thấy, mức phí đóng góp BHYT tự nguyện là theo khả năng, theo thu nhập. Người có thu nhập cao thì đóng phí cao, người có thu nhập thấp thì đóng phí thấp, mức phí không phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của người tham gia BHYT. Vì vậy, nên chăng Nhà nước chỉ quy định mức phí đóng tối thiểu cho mỗi nhóm đối tượng căn cứ theo từng khu vực, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, giá dịch vụ khám chữa bệnh và việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người dân tại mỗi địa phương mà thôi. Quy định thực hiện cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh Có ý kiến cho rằng nên quy định người tham gia BHYT cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT trong một số trường hợp như: người có thẻ BHYT không xuất trình thẻ BHYT đúng thời hạn; người có thẻ BHYT khám bệnh, chữa bệnh không đúng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã đăng ký; người có thẻ BHYT tự chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không theo tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định. Tuy nhiên, cũng có ý kiến đề nghị không nên quy định việc cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT đối với tất cả các trường hợp. Về vấn đề nàyV, theo chúng tôi nên quy định theo hướng không quy định việc cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh BHYT đối với tất cả các trường hợp. Bởi việc quy định như loại ý kiến thứ nhất sẽ làm hạn chế quyền tự do khám, chữa bệnh, đôi khi gây khó khăn, ảnh hưởng đến lợi ích chính đáng của người tham gia BHYT. Nhà làm luật không thể lý giải rằng việc quy định như loại ý kiến thứ nhất là nhằm hạn chế vượt tuyến điều trị gây tình trạng quá tải ở các cơ sở khám, chữa bệnh tuyến trên, mặc dù hiện nay, tình trạng vượt tuyến xảy ra khá phổ biến, dẫn đến tình trạng quá tải ở một số bệnh viện tuyến trung ương. Nhưng điều đó cũng nói lên rằng việc khám, chữa bệnh ở các bệnh viện tuyến dưới (bệnh viện huyện, tỉnh) còn nhiều vấn đề phải giải quyết như cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế còn thiếu thốn, lạc hậu, chuyên môn của đội ngũ y, bác sỹ còn hạn chế, thái độ phục vụ người bệnh chưa đúng mực. Mở rộng đối tượng thuộc diện bảo hiểm y tế bắt buộc Một trong những điểm mới được đưa vào Dự thảo Luật BHYT là trẻ em dưới 6 tuổi sẽ thuộc đối tượng BHYT bắt buộc, thay vì được khám bệnh, chữa bệnh miễn phí theo cơ chế thực thanh thực chi như hiện nay. Để thống nhất với quy định trên đây của Dự thảo Luật BHYT, chúng tôi đề nghị Quốc hội, Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số văn bản như: Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Nghị định số 36/2005/NĐ-CP ngày 17/3/2005 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em cho phù hợp với nội dung Công văn số 2016/VPCP-VX ngày 17/4/2006 của Văn phòng Chính phủ về việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để có thể thực hiện việc thanh toán toàn bộ chi phí khám, chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi theo hình thức BHYT. Bên cạnh đó, theo chúng tôi, cũng nên bổ sung đối tượng bắt buộc phải tham gia BHYT được quy định tại mục 14 Điều 3 của Điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định số 63/2005/NĐ-CP của Chính phủ vào Luật BHYT, bởi trên thực tế có thể có doanh nghiệp sẽ lợi dụng quy định này để trốn tránh trách nhiệm đóng BHYT cho người lao động bằng cách ký kết hợp đồng dưới 3 tháng một, gây thiệt thòi cho người lao động. Phương thức thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế Phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT hiện hành là phương thức thanh toán theo phí dịch vụ (fee for service), nghĩa là bệnh nhân có thẻ BHYT sử dụng dịch vụ y tế gì, từ thuốc, vật tư,... đều được bảo hiểm thanh toán hết. Với hình thức này, hai bên - Bảo hiểm xã hội và dịch vụ khám chữa bệnh - phải thống kê hết các dịch vụ y tế đã sử dụng cho bệnh nhân để đối chiếu, thanh toán. Việc này mất rất nhiều thời gian và hiệu quả đem lại không cao. Điều quan trọng hơn, phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo phí dịch vụ còn chứa đựng nguy cơ không an toàn cho quỹ, do sự leo thang chi phí khám, chữa bệnh và sự tốn kém chi phí quản lý. Phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo định suất, mặc dù mới được đưa vào thí điểm tại một số bệnh viện nhưng đã thể hiện nhiều ưu việt so với phương thức thanh toán theo phí dịch vụ[8]. Bản chất của phương thức thanh toán này là giữa cơ quan Bảo hiểm xã hội với các cơ sở khám chữa bệnh thỏa thuận với nhau một định suất về mức phí /thẻ BHYT /năm, từ đó xác định tổng quỹ BHYT cần chi cho bệnh viện để bệnh viện chi vào khám chữa bệnh cho bệnh nhân có thẻ BHYT. Điều này sẽ buộc các bệnh viện sử dụng dịch vụ BHYT một cách tiết kiệm và hiệu quả hơn, nghĩa là sẽ cắt bỏ những dịch vụ y tế, xét nghiệm, loại thuốc không cần thiết. Hơn nữa, cơ quan Bảo hiểm xã hội chỉ giám sát và đảm bảo quyền lợi BHYT cho người tham gia bằng cách xác nhận và thông báo cho các cơ sở khám chữa bệnh biết về tổng quỹ BHYT mà các bệnh viện được chi để phục vụ bệnh nhân khám theo BHYT (tổng quỹ này chính là số tiền mà một thẻ BHYT cần chi phí khám chữa bệnh trong một năm). Mặc dù phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo định suất vẫn còn một số hạn chế, chưa tạo được tính hấp dẫn đối với các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh. Song, xét một cách toàn diện, phương thức thanh toán này đã thể hiện nhiều ưu điểm so với phương thức thanh toán BHYT truyền thống (theo dịch vụ), cần thiết phải được phổ biến và triển khai trên diện rộng trong thời gian tới. Khuyến khích những người trẻ tuổi, khoẻ mạnh tham gia bảo hiểm y tế Thực tế thực hiện chính sách BHYT ở nước ta cho thấy, do quy định mọi đối tượng trong xã hội đều có quyền tham gia BHYT tự nguyện (trừ đối tượng thuộc diện BHYT bắt buộc) mà không đề cập tính cộng đồng, nên thời gian qua có tình trạng lựa chọn ngược, đối tượng là người già yếu tham gia BHYT tự nguyện với tỷ lệ cao hơn trong khi những người trẻ tuổi, khỏe mạnh tham gia với tỷ lệ thấp. Điều này làm giảm khả năng chia sẻ rủi ro của quỹ khám chữa bệnh, dẫn tới bội chi quỹ khám chữa bệnh BHYT tự nguyện. Do đó, Luật BHYT nên quy định cụ thể theo hướng chú trọng hơn tới tính cộng đồng, khuyến khích những người trẻ tuổi, khỏe mạnh tham gia BHYT. Giá thuốc và quản lý giá thuốc Trong Báo cáo về các tác động của WTO đến giá thuốc và chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam, được thực hiện theo đặt hàng của Tổ chức Y tế thế giới, công bố hôm 04/10/2007 tại Hà Nội cho biết, có năm yếu tố chính làm giá thuốc ở Việt Nam tăng, đó là: cơ chế quản lý hoạt động kinh doanh, độc quyền trong phân phối dược phẩm, tâm lý người tiêu dùng, thiếu thông tin về tình hình dược phẩm và công nghệ sản xuất thuốc ở Việt Nam chưa phát triển[9]. Theo báo cáo này, do khâu quản lý thiếu chặt chẽ nên thuốc nhập khẩu vào Việt Nam qua nhiều con đường, qua nhiều cấp trung gian gây nên hàng loạt tiêu cực như tác động tới bác sĩ, chi hoa hồng... khiến giá dược phẩm đua nhau leo thang. Trong khi người bệnh hầu như không có thông tin gì về giá thuốc, việc sử dụng thuốc hoàn toàn phụ thuộc vào bác sĩ kê đơn. Theo chúng tôi, cái mà người bệnh cần nhất là được mua đúng giá trị thật của hộp thuốc và giá bán lẻ đó phải được nhà sản xuất, nhập khẩu in hẳn trên bao bì hộp thuốc để người mua dễ dàng kiểm tra. Cơ quan quản lý nhà nước khi đi thanh tra, kiểm tra cũng có cơ sở rõ ràng, cụ thể và minh bạch để xử phạt. Như vậy, vừa kiểm soát được nguồn nhập, loại trừ thuốc không rõ nguồn gốc, ngăn chặn nạn đẩy giá thuốc bất hợp lý qua mỗi khâu và triệt dần nạn mua bán lòng vòng[10]. Bên cạnh đó, công nghiệp dược của Việt Nam còn ở mức chậm phát triển, 51% dây chuyền sản xuất hiện nay dành để sản xuất thuốc thông thường. Vì vậy, theo ý kiến của nhiều chuyên gia, nếu giải quyết được năm vấn đề nói trên, giá thuốc ở Việt Nam chắc chắn sẽ giảm. Những vấn đề nêu trên đòi hỏi phải được tiến hành đồng bộ, bắt đầu từ việc ban hành các văn bản pháp luật, từ việc thông tin tuyên truyền, định hướng dư luận, giáo dục ý thức trách nhiệm và các biện pháp cụ thể về kiểm tra, giám sát của Nhà nước, của cơ quan chủ quản, cùng các Ban - ngành liên quan và của công dân, trực tiếp là những đối tượng tham gia BHYT./. [1] Điều 39, Hiến pháp năm 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “... kết hợp phát triển y tế nhà nước với y tế tư nhân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khoẻ”. [2] Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng Cộng sản Việt Nam; Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22/01/2002 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về củng cố và hoàn thiện y tế cơ sở [3] Tổng số người tham gia BHYT năm 2006 ước tính vào khoảng 36, 7 triệu người, tương đương 42% dân số cả nước, tăng 6, 8 triệu người so với năm 2005, trong đó có 10, 5 triệu người thuộc diện BHYT bắt buộc, 11, 1 triệu người thuộc diện BHYT tự nguyện và 15, 1 triệu người là đối tượng người nghèo. Xem: Tờ trình số 1090/TTr-BYT ngày 07/12/2007 của Bộ Y tế về Dự án Luật Bảo hiểm y tế, tr. 2. [4] Quỹ BHYT từ chỗ chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng chi y tế, đến nay đã chiếm khoảng 1/3 ngân sách nhà nước dành cho y tế và chiếm tỷ trọng xấp xỉ 50% - 60% ngân sách Nhà nước dành cho công tác khám bệnh, chữa bệnh. tlđd, tr.2. [6] Theo ước tính, dựa trên mức độ tăng về tỷ lệ sử dụng và chi phí, năm 2006 quỹ BHYT có khả năng bội chi hơn 1.000 tỷ đồng (thu 746 tỷ đồng, chi 1.843 tỷ đồng) Xem: Tờ trình số 1090/TTr-BYT ngày 07/12/2007 của Bộ Y tế về Dự án Luật Bảo hiểm y tế, tr.3. [7] Theo Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC ngày 30/3/2007 của Bộ Y tế và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện bảo hiểm y tế tự nguyện, khung mức đóng bảo hiểm y tế tự nguyện được quy định theo khu vực và theo nhóm đối tượng như sau: 1) Đối với đối tượng là thành viên hộ gia đình thì mức đóng là từ 160.000 đồng - 320.000 đồng /người /năm (đối với khu vực thành thị) và từ 120.000 đồng - 240.000 đồng /người /năm (đối với khu vực nông thôn); 2) Đối với đối tượng là học sinh, sinh viên, mức đóng là từ 60.000 đồng - 120.000 đồng /người /năm (đối với khu vực thành thị) và từ 50.000 đồng - 100.000 đồng /người /năm (đối với khu vực nông thôn). [8] Thực tế triển khai thí điểm phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT theo định suất tại một số bệnh viện tuyến huyện như Bệnh viện đa khoa huyện Thanh Miện, Nam Sách (Hải Dương), huyện Vĩnh Bảo (Hải Phòng), huyện Vũ Thư (Thái Bình), huyện Tuần Giáo (Lai Châu),... kết quả đạt được khá khả quan. Nhờ phương thức thanh toán BHYT theo định suất mà các bệnh viện chủ động được nguồn tài chính thanh toán BHYT ở bệnh viện mình, tiết kiệm được chi phí quản lý cho cả bệnh viện và cơ quan bảo hiểm xã hội. Mặt khác, tại các bệnh viện này, tác phong, thái độ phục vụ bệnh nhân khám theo BHYT của bác sĩ, nhân viên y tế đã tốt hơn rất nhiều, quyền lợi của người bệnh khám theo thẻ BHYT được đảm bảo. Xem Báo An ninh Thủ đô, số ra ngày 21/12/2007. [9] Xem bài đăng trên Website: www.tuoitreonline.com.vn, ngày 05/10/2007. [10] Nhiều nước trên thế giới cũng đã làm và ở nước ta nhiều sản phẩm tiêu dùng như: hộp kem, bàn chải đánh răng, dầu gội đầu, bình xịt muỗi,... đã in giá trên bao bì từ lâu. Thế nhưng không hiểu tại sao biện pháp này không được áp dụng đối với sản phÈm thuèc? (Bài viết đăng trên TCNCLP số 120, tháng 4/2008)
|









