Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/07/2018, 22:56(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá-cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng

1. Công ước khung về Kiểm soát thuốc lá và vấn đề “nội luật hóa” ở Việt Nam

Công ước khung về kiểm soát thuốc lá (Framework Convention on Tobacco Control, gọi tắt là FCTC) đã được thông qua bởi 192 nước thành viên của Tổ chức Y tế thế giới (WHO). Công ước này không chỉ là công cụ kiểm soát thuốc lá hiệu quả nhất của thế giới mà còn là cơ sở khẳng định quyền được hưởng sức khỏe tốt nhất của mọi người. Bên cạnh đó, nó còn tạo ra khung pháp lý mới cho hành động hợp tác trong lĩnh vực kiểm soát thuốc lá. Là thành viên của Công ước, Việt Nam đã và đang “nội luật hóa” các quy định của FCTC nhằm tạo ra hành lang pháp lý cần thiết cho việc kiểm soát thuốc lá. 

Hiện nay, ở nước ta có khoảng 75 văn bản pháp luật quy định về việc phòng, chống tác hại của thuốc lá (PCTHTL)1. Cụ thể, có thể kể đến là Nghị quyết số 12/2000/NQ-CP ngày 14/8/2000 của Chính phủ về Chính sách quốc gia PCTHTL trong giai đoạn 2000-2010, Nghị định số 45/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/4/2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, Quyết định số 1315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước khung về kiểm soát thuốc lá. Tuy nhiên, nhiều nội dung trong các văn bản pháp luật này vẫn mang tính “tuyên ngôn” và chưa theo kịp với thực tiễn của cuộc sống. Theo các nhà nghiên cứu, khói thuốc lá chứa hơn 4.000 loại hóa chất, trong đó có hơn 200 loại có hại cho sức khỏe, trên 40 chất gây ung thư. Hút thuốc lá là nguyên nhân của 25 căn bệnh hiểm nghèo như ung thư phổi, nhồi máu cơ tim, các bệnh về hô hấp, đồng thời là nguyên nhân gia tăng đói nghèo2. Ở Châu Âu, có khoảng 79.000 người chết mỗi năm vì những căn bệnh có liên quan đến thuốc lá3. Ước tính hiện nay mỗi năm trên thế giới có khoảng 5 triệu người tử vong do các bệnh liên quan đến thuốc lá. Nếu việc hút thuốc lá không giảm thì đến năm 2030 con số này sẽ là 10 triệu người và khoảng 70% số ca tử vong sẽ rơi vào các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam - một trong những quốc gia có tỷ lệ người hút thuốc lá cao nhất thế giới. Hàng năm, tại Việt Nam có trên 40.000 người chết vì thuốc lá, chi phí điều trị những căn bệnh như lao phổi, phổi tắc nghẽn mãn tính, khí phế thủng do thuốc lá gây ra hơn 1.160 tỉ đồng4. Đến năm 2030, số người chết vì thuốc lá sẽ tăng lên đến 70.000 người (gấp 4 lần số ca tử vong vì tai nạn giao thông đường bộ tại nước ta mỗi năm), ước tính có khoảng 8 triệu người sẽ chết vì các bệnh liên quan đến thuốc lá, trong đó gần bốn triệu người sẽ chết ở độ tuổi trung niên5. Ý thức được tác hại của thuốc lá, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII, dự thảo Luật PCTHTL đã được Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến để thông qua.

2. Những vấn đề từ Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá 

2.1. Chính sách thuế và giá hợp lý

Luật PCTHTL khi được ban hành sẽ trở thành văn bản quy phạm pháp luật quan trọng quy định xuyên suốt từ PCTHTL, quản lý sản xuất kinh doanh, nhãn mác, XLVPHC trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thuốc lá... Điều 1 Dự thảo Luật PCTHTL quy định: “Các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, các biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá và các điều kiện bảo đảm để PCTHTL”. Để thực hiện mục đích này thì chính sách thuế và giá đóng vai trò đặc biệt quan trọng6. Hiện nay, thuốc lá điếu ở nước ta vừa phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) có mức thuế suất là 65%, vừa phải chịu thuế giá trị gia tăng (có mức thuế suất là 10%). Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thuế TTĐB năm 2003 thì thuế suất được quy định ba mức: 25% đối với thuốc lá không có đầu lọc, 45% đối với thuốc lá chủ yếu sử dụng nguyên liệu trong nước, 65% sử dụng chủ yếu nguyên liệu ngoại nhập. Trên thực tế, các nhãn hiệu thuốc lá điếu đa số sử dụng nguyên liệu trong nước nên chỉ chịu mức thuế suất là 45%. Thuế thấp nên giá thành của thuốc lá thấp và do đó, nhiều người vẫn tiếp tục sử dụng thuốc lá.

So với nhiều nước trên thế giới thì giá thuốc lá của nước ta tương đối rẻ. Nguyên nhân do mức thuế suất thuế TTĐB chỉ 45% và vẫn chưa phù hợp với khuyến cáo của thế giới và thấp hơn rất nhiều mức thuế được áp dụng tại nhiều nước có chính sách kiểm soát thuốc lá hiệu quả7. Việc tăng thuế suất thuế TTĐB lên thống nhất thành 65% đã “tiệm cận” với đề nghị của WHO là tỷ lệ % thuế trong giá bán lẻ phải chiếm từ 66 - 80%. Quy định này sẽ giúp tăng thu ngân sách nhà nước và giúp ngăn chặn khoảng 100.000 ca tử vong sớm trong vòng 40 năm tới. Mức thuế này sẽ làm tăng giá bán thuốc lá trung bình khoảng 30% và qua đó, tăng thêm khoảng 4.300 tỉ đồng cho doanh thu thuế hằng năm8. Đặc biệt, giá thuốc lá càng cao càng có khả năng ngăn chặn đối với những người chưa hút thuốc bắt đầu hút, giúp họ tránh bị nghiện và có thể thuyết phục những người hút thuốc hiện tại bỏ thuốc hoặc giảm lượng tiêu thụ. Ngoài ra, giá càng cao cũng càng có khả năng tránh cho những người đã bỏ thuốc không hút trở lại. Một thống kê cho thấy, nếu tăng 10% giá mỗi bao thuốc sẽ làm giảm 4% lượng thuốc lá tiêu thụ tại các nước phát triển có thu nhập cao và giảm 8% tại các nước có thu nhập trung bình hoặc thấp9.

Tuy nhiên, bên cạnh tính tích cực là làm giảm nhu cầu sử dụng đối với thuốc là thì thuế cao sẽ dẫn đến hậu quả tiêu cực là “khuyến khích” người tiêu dùng chuyển từ sử dụng thuốc lá hợp pháp được đóng thuế đầy đủ sang thuốc lá nhập lậu. Như tại Anh, thuế suất thuế TTĐB đối với thuốc lá đã tăng trên 40% trong năm 2001. Cùng với việc tăng thuế này thì giá bán thuốc lá đã tăng 30%, do đó, làm giảm 30% mức tiêu thụ đối với thuốc lá hợp pháp. Tuy nhiên, mức tiêu thụ chung đối với thuốc lá chỉ giảm 10% do hoạt động buôn lậu thuốc lá gia tăng mạnh mẽ. Lượng thuốc lá nhập lậu từ tỷ lệ chỉ chiếm 6% lượng thuốc lá tiêu thụ trong năm 1995 đã tăng lên 42% vào năm 2001. Tương tự, tại Canada, thuế suất thuế TTĐB đối với thuốc lá tăng khoảng 220% trong giai đoạn 1985 đến 1991. Hậu quả của việc tăng thuế này là lượng tiêu thụ thuốc lá hợp pháp giảm trung bình 8%/năm trong khi đó lượng tiêu thụ thuốc lá nói chung chỉ giảm 3%10. Điều này một lần nữa phản ánh hệ quả là khi thuế đánh vào thuốc lá tăng sẽ làm tăng hoạt động buôn lậu thuốc lá để trốn thuế.

Theo báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật PCTHTL của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì thuốc lá lậu chiếm khoảng 20% thị phần thuốc lá (800 triệu bao thuốc lá lậu/năm, trong đó có rất nhiều nhãn hàng đã trở nên rất quen thuộc với người tiêu dùng Việt Nam như thuốc Jet, Hero, 555…), làm thất thu ngân sách khoảng 3.800 tỷ đồng. Hiện nay lực lượng chống buôn lậu ở các tỉnh vừa yếu lại vừa thiếu, mỗi năm lực lượng này chỉ thu giữ được 01 triệu bao thuốc lậu/tỉnh. Bên cạnh đó, kinh phí chống buôn lậu thuốc lá rất ít và chỉ dựa vào sự hỗ trợ của Hiệp hội thuốc lá (hỗ trợ 1.000 đ/bao). Để đấu tranh chống lại nạn buôn lậu thuốc lá, theo chúng tôi, cần thực hiện tốt những biện pháp sau:

Một là, tiếp tục duy trì chính sách thuế phù hợp với khuyến cáo của WHO để từ đó hình thành một cơ cấu giá hợp lý của các sản phẩm thuốc lá phù hợp với mức thu nhập của người dân, từ đó làm giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá nhập lậu.

Hai là, có chính sách thưởng phạt công minh. Trong Quốc lệnh tháng 1/1946, Hồ Chí Minh có nêu: “Thưởng phạt nghiêm minh là cần thiết. Nếu không thưởng thì không khuyến khích, nếu không phạt thì không giữ vững kỷ luật”11. Nhà nước cần ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định chế tài thật nghiêm khắc đối với hành vi buôn lậu thuốc lá. Hiện nay, hành vi buôn lậu thuốc lá nếu có số lượng từ 1.500 bao trở lên (1 bao = 20 điếu) thì mới bị xử lý hình sự, còn dưới 1.500 bao chỉ bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên chế tài hình sự quá nhẹ so với tính chất nghiêm trọng của hành vi12 và chế tài hành chính là phạt tiền tối đa 100.000.000 đồng thì cũng không đủ tính chất răn đe13. Bên cạnh đó, nhằm khuyến khích việc đấu tranh, phòng chống buôn lậu thuốc lá của các cơ quan chức năng và công dân, nên chăng cần khôi phục lại quy định về trích thưởng trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) năm 198914.

 Hiện nay, ngoài chế độ khen thưởng chung của Nhà nước, thường mang tính chất “khen” (tinh thần) nhiều hơn là “thưởng” (vật chất), những người thi hành công vụ trong quá trình XLVPHC cũng xứng đáng được thưởng từ nguồn tiền trích thưởng. Đây là nguồn động viên rất cần thiết đối với họ vì trong nhiều lĩnh vực (hải quan, môi trường, an ninh trật tự, thương mại), việc XLVPHC mất nhiều thời gian, công sức, thậm chí nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng cho người thi hành công vụ do các đối tượng côn đồ hung hãn, chống lại người thi hành công vụ. Tất nhiên, nếu thừa nhận việc trích thưởng thì có thể quy định vấn đề này ngay trong Luật PCTHTL và Luật XLVPHC sắp được ban hành. Có lẽ việc trích thưởng sẽ là phương tiện hữu hiệu nhất nhằm chuyển tải vào cuộc sống những quy định tại Khoản 6, Điều 26 Dự thảo Luật: “Khuyến khích về vật chất và tinh thần cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã phát hiện và tố giác các hành vi kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả”.

Ba là, thiết lập các biện pháp quản lý chặt chẽ đối với số lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước. Cụ thể là biện pháp tiếp tục duy trì việc dán tem thuốc lá sản xuất và tiêu thụ trong nước. Bên cạnh đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế với các nước có biên giới với Việt Nam để đi đến những thỏa thuận mang tính pháp lý ràng buộc trách nhiệm lẫn nhau nhằm ngăn chặn hoạt động buôn lậu thuốc lá.

2.2. Quy định về ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá

Điều 11 của FCTC quy định việc ghi nhãn hàng hóa đối với các sản phẩm thuốc lá, đồng thời nhấn mạnh là trên bao bì thuốc lá không sử dụng các từ ngữ có thể khiến cho người tiêu dùng hiểu sai về tác hại của thuốc lá. Nhằm nội luật hóa quy định này, Điều 14 Dự thảo Luật PCTHTL quy định về việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá. Theo đó, việc ghi nhãn đối với thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu để tiêu thụ tại Việt Nam không được sử dụng từ như: “nhẹ” (light), “siêu nhẹ” (ultra-light), “dịu êm” (mild), “ít hắc ín” (low tar) hoặc các từ ngữ tương tự khác làm người đọc, người sử dụng hiểu thuốc lá là ít có hại hoặc hiểu sai về tác hại của thuốc lá. Tuy nhiên, quy định này có thể bị “lách” bất kỳ lúc nào bởi quy định“trừ trường hợp các từ, cụm từ trên là bộ phận cấu thành tên nhãn hiệu thuốc lá đã được đăng ký theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ trước ngày Luật này có hiệu lực”. Với quy định này thì nhiều nhà sản xuất thuốc lá sẽ tranh thủ khi chưa có luật hoặc luật chưa có hiệu lực đi đăng ký nhãn hiệu thuốc lá có kèm các cụm từ “nhẹ” (light) hoặc “siêu nhẹ” (ultra-light), “dịu êm” (mild)… Nếu điều này xảy ra, thì các quy định nhân văn trên đã bị vô hiệu hóa hoàn toàn vì trên thực tế loại thuốc lá có nhãn mác “nhẹ” (light), “êm” (mild), “ít hắc ín” (low tar), đã được chứng minh là thông tin gây hiểu lầm, nhằm đánh lừa người tiêu dùng về hàm lượng nicotine thấp trong thuốc lá.

Bên cạnh đó, FCTC còn quy định việc ghi lời cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá và để tránh nhàm chán, mất tác dụng thì những lời cảnh báo sức khỏe phải được luân phiên thay đổi. Về vấn đề này, trước đây, theo Quyết định số 2019/2000/QĐ-BYT ngày 30/6/2000 của Bộ Y tế thì trên vỏ bao thuốc bắt buộc phải in dòng chữ in hoa “Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe” hoặc “Hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi”. Lựa chọn in dòng chữ nào là thuộc quyền quyết định của các nhà sản xuất thuốc lá. Như vậy, việc in lời cảnh báo sức khỏe chưa có quy định bắt buộc phải luân phiên thay đổi theo như quy định của FCTC. Về diện tích tối thiểu của lời cảnh báo thì Quyết định số 2019/2000/QĐ-BYT quy định “in mặt trước hoặc mặt sau hoặc cạnh vỏ bao”, chiều cao tối thiểu của dòng cảnh báo sức khỏe phải bằng 2mm. Vấn đề này cũng do các nhà sản xuất thuốc lá tùy nghi lựa chọn. Trên thực tế, các nhà sản xuất thuốc lá cũng chỉ in chữ hoa với chiều cao tối thiểu 2 mm và thường in bên cạnh vỏ bao thuốc lá15. Với kích thước chữ quá nhỏ, vị trí khó đọc, không gây ấn tượng, nên theo khảo sát của Cục Quản lý thị trường, chỉ có 1% số người mua thuốc lá nhận thấy lợi ích của những dòng cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá16. Nhằm khắc phục bất cập này, ngày 15/01/2007, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT thay thế Quyết định số 2019/2000/QĐ-BYT. Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT quy định phần cảnh báo về sức khỏe phải chiếm diện tích tối thiểu là 30% của bề mặt trước và sau trên mỗi bao bì sản phẩm thuốc lá. Tuy nhiên, hiện nay, quy định về in cảnh báo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá trong Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT vẫn có sự không thống nhất, chồng chéo với Chỉ thị số 12/2007/CT-TTg ngày 10/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường PCTHTL và Nghị định số 119/2007/NĐ-CP ngày 18/10/2007 của Chính phủ về sản xuất, kinh doanh thuốc lá. Cụ thể, trong Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT quy định phải ghi dòng chữ “Hút thuốc lá gây ung thư phổi” trong khi đó Nghị định số 119/2007/NĐ-CP lại quy định ghi dòng chữ “hút thuốc lá có thể gây ung thư phổi”. Như vậy, hút thuốc lá sẽ dẫn đến hậu quả là chắc chắn bị ung thư hay chỉ có thể bị ung thư. Ngoài ra, Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT cũng có sự mâu thuẫn với Chỉ thị số 12/2007/CT-TTg xoay quanh việc quy định diện tích cảnh báo. Như đã trình bày, trong Quyết định số 02/2007/QĐ-BYT quy định diện tích cảnh báo là 30% của bề mặt trước và sau trên mỗi bao bì sản phẩm thuốc lá, trong khi đó, Chỉ thị số 12/2007/CT-TTg lại quy định là 50% diện tích của mỗi vỏ bao thuốc lá. Thiết nghĩ quy định không nhất quán này sẽ hạn chế rất lớn trong công tác PCTHTL.

Điều 14 Dự thảo Luật PCTHTL quy định việc in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá bằng cả chữ viết lẫn hình ảnh. Đây là quy định hợp lý nhằm nâng cao nhận thức về những hậu quả của thuốc lá đối với sức khỏe, giúp tăng các nỗ lực bỏ thuốc hoặc giảm hút. Kinh nghiệm tại nhiều nước đã chứng minh nếu cảnh báo chỉ bằng chữ sẽ kém hiệu quả, không tạo ấn tượng và đặc biệt không có tác dụng đối với người không biết chữ. Việc sử dụng những hình ảnh như xuất huyết não, ung thư phổi... trên bao bì thuốc lá sẽ tạo hiệu ứng lo sợ cho những người hút thuốc. Tại Canada, 58% số người hút thuốc muốn cai thuốc lá ngay lập tức khi nhìn thấy cảnh báo bằng hình ảnh. Tại Brazil, 67% số người đã hút thuốc ít đi khi nhìn thấy cảnh báo sức khoẻ bằng hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá. Ở Thái Lan, 44% số người hút thuốc lá nói rằng những cảnh báo hình ảnh làm cho họ tăng quyết tâm bỏ thuốc lá ngay tháng sau đó17. Nhờ việc in cảnh báo bằng cả lời và hình ảnh trên vỏ bao thuốc lá mà mỗi năm các quốc gia như Bỉ, Úc, Thái Lan, Singapore… đã hạn chế được hàng trăm ca tử vong vì thuốc lá, đồng thời giúp tăng động lực bỏ thuốc. Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định cảnh báo sức khỏe bằng chữ và hình ảnh chiếm trên 50% diện tích vỏ bao thuốc lá và đã đạt những hiệu quả nhất định. Một số quốc gia còn quy định diện tích cảnh báo rất lớn như Uruguay (80% cả hai mặt trước và sau), Mauritius (60% mặt trước và 70% mặt sau), Úc, New Zealand (30% mặt trước và 90% mặt sau), Philippines (60% cả hai mặt trước và sau). Chính vì vậy, quy định cảnh báo sức khỏe phải chiếm ít nhất 50% diện tích của mỗi mặt chính trước và mặt chính sau của bao thuốc lá trong Điều 14 Dự thảo Luật là hợp lý, sẽ giúp mọi người hiểu rõ hơn tác hại của hút thuốc, giúp ngăn ngừa việc hút thuốc. Bên cạnh đó, việc tiếp cận với thông tin về tác hại của thuốc lá của nhiều người còn hạn chế nên việc in cảnh báo hình ảnh trên vỏ bao thuốc có thể truyền tải thông điệp tác hại của thuốc lá trực tiếp đến từng người hút thuốc. Biện pháp này sẽ tiết kiệm chi phí cho Nhà nước vì việc in ấn cũng chỉ chiếm một phần rất nhỏ, không tốn kém nhiều về kinh phí. Tuy nhiên, theo chúng tôi, để phát huy tác dụng thì cảnh báo sức khỏe bằng chữ phải được quy định thống nhất là viết “in hoa”. Đây là vấn đề còn bỏ ngõ trong Dự thảo Luật nhưng không kém phần quan trọng, cần phải được quy định cụ thể để được áp dụng thống nhất.

Có ý kiến cho rằng, không nên giao thẩm quyền cho Bộ Y tế quy định nội dung cảnh báo sức khỏe mà cần quy định cụ thể trong luật18. Chúng tôi đồng ý với ý kiến này vì nội dung cảnh báo sức khỏe được quy định trong văn bản có giá trị pháp lý cao là luật sẽ thể hiện mạnh mẽ quyết tâm của Nhà nước ta trong việc PCTHTL. 

2.3. Quy định về quảng cáo, khuyến mại thuốc lá

Các nghiên cứu khoa học trên thế giới đều chỉ ra rằng các hoạt động quảng cáo, khuyến mại thuốc lá sẽ làm gia tăng mức tiêu thụ và sử dụng thuốc lá. Tại Anh, nếu không bị tác động của quảng cáo thuốc lá thì người hút thuốc lá có xu hướng bỏ thuốc cao hơn 1,5 lần và ở Úc là 2 lần19.

Để hạn chế tình trạng tiêu thụ và sử dụng thuốc lá, các nước tham gia FCTC, trong đó có Việt Nam đã thống nhất áp dụng “Quy định cấm triệt để quảng cáo, khuyến mại thuốc lá dưới mọi hình thức”. Quyết định số 1315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/8/2009 phê duyệt Kế hoạch thực hiện Công ước khung về kiểm soát thuốc lá cũng quy định cấm toàn diện quảng cáo và khuyến mại các sản phẩm thuốc lá. Nhìn chung, pháp luật của nước ta có sự thống nhất trong việc cấm quảng cáo, khuyến mại thuốc lá. Tuy nhiên, các quy định nói trên đang bộc lộ nhiều kẽ hở, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc lá “lách luật”. Các công ty thuốc lá cũng khai thác triệt để các kẽ hở này, nên có các hình thức quảng cáo, khuyến mại tinh vi như: mặc đồng phục thể hiện biểu tượng sản phẩm thuốc lá; sử dụng màu sắc, poster gắn trên xe đẩy, tủ thuốc, vật phẩm; quảng cáo trên thùng hàng di động gắn sau xe gắn máy... Bên cạnh đó, những hình thức quảng cáo, khuyến mại thuốc lá tuy bị cấm trong Nghị định số 119/2007/NĐ-CP và Thông tư số 19/2005/TT-BVHTT ngày 12/5/2005 (sửa đổi, bổ sung 2008) nhưng vẫn diễn ra công khai, như trưng bày quá một bao/gói (10 điếu, 12 điếu, 20 điếu) hoặc trưng bày quá một tút/hộp (10 bao/gói) của một nhãn hiệu thuốc lá, sử dụng đội ngũ tiếp viên để mang thuốc mời chào tận nơi.

Kết quả điều tra tình hình thực hiện quy định cấm quảng cáo, khuyến mại thuốc lá ở Việt Nam cho thấy, vi phạm trong lĩnh vực này hết sức phổ biến. Cụ thể, khảo sát 1.500 điểm bán trên 10 tỉnh/thành phố năm 2010 thì tỷ lệ vi phạm về quảng cáo là 67,2%, vi phạm đồng thời quảng cáo và khuyến mại thuốc lá là 28,1%. Số điểm bán không vi phạm quảng cáo hay khuyến mại thuốc lá chỉ chiếm 4,6% và hơn 90% điểm bán trưng bày quá một bao/một tút của một nhãn hiệu thuốc lá20. Trong khi đó, lực lượng chức năng có thẩm quyền xử phạt lại quá ít, xử phạt chỉ dừng ở điểm bán buôn, chưa đủ nguồn lực để xử lý vi phạm ở các điểm bán lẻ (quán ăn, quán giải khát, cửa hàng tạp hóa).

Để khắc phục tình trạng nói trên, Dự thảo Luật có các quy định cụ thể về cấm hoàn toàn quảng cáo, khuyến mại thuốc lá theo kiến nghị của FCTC nhằm hạn chế tác động đến hành vi của người tiêu dùng, đồng thời xây dựng một cơ chế phối hợp hành động giữa các ban ngành. Theo chúng tôi, trong trường hợp này, có thể tiếp thu những kinh nghiệm của nước ngoài trong việc quy định chế tài đối với hành vi quảng cáo, khuyến mại thuốc lá. Ở Canada, vi phạm về quảng cáo, khuyến mại thuốc lá có thể bị phạt đến 300.000 USD hoặc phạt tù 02 năm. Ở Singapore, vi phạm việc quảng cáo, khuyến mại thuốc lá chịu mức phạt 10.000 SGD hoặc ngồi tù 06 tháng, trường hợp vi phạm lần hai thì bị phạt 20.000 SGD và 12 tháng tù. Với kinh nghiệm này thì khi nội luật hóa, đây sẽ là một trong các biện pháp giúp thực thi pháp luật hiệu quả nhằm giảm mức tiêu thụ thuốc lá và giảm những gánh nặng bệnh tật do hút thuốc gây ra.

2.4. Quy định về số lượng điếu thuốc lá trong bao, gói

Theo Tiến sĩ Joseph Ciccolo - chuyên gia hàng đầu về nghiên cứu tác hại của thuốc lá thì một trong những biện pháp nhằm ngăn chặn và giảm thiểu việc sử dụng thuốc lá đối với thanh, thiếu niên là không nên bán lẻ và không đóng bao thuốc lá ít hơn 20 điếu21. Dự liệu được việc này nên FCTC cũng có những quy định cấm sản xuất thuốc lá gói nhỏ. Quy định này nhằm hướng đến hai mục đích: (i) Hạn chế sử dụng thuốc lá vì nếu thuốc lá được đóng gói càng nhỏ thì càng hợp với túi tiền của người thu nhập thấp và thanh, thiếu niên; (ii) Tăng cường việc cảnh báo tác hại của thuốc lá bởi vì bao thuốc lá nhỏ thì các hình ảnh cảnh báo in trên bao bì cũng sẽ nhỏ, khó nhìn thấy nên mất tác dụng cảnh báo. Những bao thuốc lá dưới 20 điếu hiện đã bị cấm ở rất nhiều quốc gia như Singapore, Thái Lan, Úc, Anh, Mỹ, Canada… Ở nước ta, việc cấm đóng bao nhỏ cũng được quy định tại Nghị quyết 12/2000/NQ-CP của Chính phủ, Quyết định số 1315/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Tiếp thu tinh thần này, Điều 24 Dự thảo Luật cũng quy định: “Sau năm 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực, số lượng điếu thuốc lá đóng gói trong 01 bao thuốc lá không được ít hơn 20 điếu, trừ thuốc lá xì gà và thuốc lá được sản xuất để xuất khẩu”. Tuy nhiên, quy định cấm đóng bao dưới 20 điếu chỉ trở thành một biện pháp hữu hiệu nhằm giảm tiếp cận với thuốc lá khi việc quản lý bán lẻ được thực hiện tốt. Quy định này trong Dự thảo Luật rất có thể sẽ bị “phá bĩnh” bởi thói quen mua lẻ vài điếu thuốc của người tiêu dùng. Ở nhiều nước trên thế giới, việc mua lẻ vài điếu thuốc không được chấp nhận. Người mua chỉ có thể mua cả một gói thuốc, nhưng ở nước ta, việc mua lẻ thuốc lá là một việc rất bình thường, nhiều khi nó trở thành thói quen của một bộ phận không nhỏ người tiêu dùng.

2.5. Vấn đề quy hoạch kinh doanh thuốc lá

Điều 20 Dự thảo Luật quy định: “Quy hoạch kinh doanh thuốc lá phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, chính sách, pháp luật về PCTHTL để từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá, phù hợp với việc giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá và có giải pháp để từng bước chuyển đổi ngành, nghề cho người trồng cây thuốc lá, công nhân sản xuất thuốc lá”.

Trong Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật PCTHTL của Ủy ban thường vụ Quốc hội, có ý kiến lo ngại rằng, sau khi ban hành Luật PCTHTL thì sẽ làm giảm nguồn thu thuế từ thuốc lá; ảnh hưởng đến việc làm của người sản xuất và người tham gia trồng cây thuốc lá. Tuy nhiên, gánh nặng về y tế và kinh tế - xã hội do việc hút thuốc lá gây ra còn lớn hơn rất nhiều so với khoản lợi nhuận do ngành sản xuất thuốc lá mang lại.

Tại Châu Âu, chi phí hàng năm để chữa trị các căn bệnh do thuốc lá gây ra lên tới khoảng 100 tỷ Euro, trong khi đó tiền thuế thu được từ thuốc lá hàng năm chỉ vào khoảng 14 tỷ Euro22. Mỗi năm, Chính phủ Trung Quốc phải chi trên 252 tỷ nhân dân tệ (37 tỷ USD) cho việc điều trị bệnh, chữa cháy và xử lý ô nhiễm môi trường do hút thuốc lá gây ra. Số tiền này lớn hơn rất nhiều so với tiền thuế do ngành công nghiệp sản xuất thuốc lá mang lại23. Ở Việt Nam, mỗi năm ngành thuốc lá nộp vào ngân sách nhà nước 14.000 tỷ đồng, giải quyết việc làm cho 20.000 công nhân, 200.000 lao động nông nghiệp trồng thuốc lá, nhưng con số ấy không thể “đánh đổi” với chi tiêu 20.000 tỷ đồng cho việc tiêu thụ thuốc lá và 40.000 người chết vì các bệnh liên quan đến thuốc lá24. Như vậy, nếu làm một phép toán so sánh giữa cái được và cái mất trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ thuốc lá thì tổn hại vẫn quá nhiều, trong khi lợi ích thì quá mong manh.

Khi hội nhập kinh tế quốc tế là xu thế tất yếu, khi việc bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng ngày càng được đề cao, khi công nghiệp sản xuất thuốc lá được xem là một ngành kinh tế... thì Luật PCTHTL cần được nhìn nhận khách quan dưới nhiều giác độ khác nhau. Tuy nhiên, dù bất kỳ lý do nào thì mục tiêu “bảo vệ thế hệ hiện tại cùng tương lai khỏi các hậu quả tàn phá về sức khỏe, xã hội môi trường, kinh tế của việc tiêu thụ thuốc lá và phơi nhiễm của khói thuốc” vẫn phải được ưu tiên hàng đầu.

2.6. Về giáo dục, tuyên truyền PCTHTL

Điều 12 Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Pháp chế là sự tuân thủ một cách thiêng liêng các đạo luật, là sự chấp hành pháp luật một cách nghiêm minh, bình đẳng và thống nhất bởi tất cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân25. Nguyên tắc này đòi hỏi tiền đề là phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nhưng cuối cùng thì ý thức tôn trọng pháp luật mới đóng vai trò quan trọng. Những quy định như: “không hút thuốc ở nơi công cộng”, “không bán thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi” sẽ trở thành hiện thực nếu có sự “hiện diện” của ý thức pháp luật.  

Nếu người hút thuốc lá ý thức được tác hại đối với sức khỏe của bản thân mình và những người xung quanh, nếu người bán thuốc lá ý thức được hành vi bán thuốc lá cho người dưới 18 tuổi là đầu độc thế hệ trẻ tương lai thì có lẽ Quốc hội, Chính phủ, giới truyền thông... không cần mất nhiều thời gian, giấy mực để đưa luật vào cuộc sống. Do đó, theo chúng tôi, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa chế tài xử phạt và tuyên truyền, giáo dục. Một mặt, Nhà nước tăng cường và xử lý thật nghiêm minh các hành vi vi phạm trong việc PCTHTL26. Cần trao quyền xử phạt hành chính cho các chủ thể có thẩm quyền để các chủ thể này có đủ nhân lực, vật lực thực hiện tốt chức năng. Tất nhiên, khi đã chọn giải pháp này thì phải rà soát lại các quy định trong Dự thảo Luật XLVPHC để có sự thống nhất với Dự thảo Luật PCTHTL. Bên cạnh đó, phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục, tạo ý thức cho người sử dụng biết từ chối loại sản phẩm độc hại này. Không có “cầu”, tất sẽ mất “cung”, không có người hút thuốc lá thì thuốc lá sẽ chẳng biết bán cho ai. Hiện nay, Dự thảo Luật phổ biến, giáo dục pháp luật đang được Quốc hội thảo luận và sẽ được thông qua trong tương lai gần, vì vậy, trong Dự thảo này cũng cần có các quy định cụ thể tạo nền tảng, hành lang pháp lý cho tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về tác hại của thuốc lá.

(*) ThS, Giảng viên khoa Hành chính - Nhà nước, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.

(**) ThS, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.

(1) Báo điện tử Chính phủ, Thống nhất quy định từ phòng, chống tác hại đến quản lý sản xuất, kinh doanh thuốc lá, ngày 06/7/2011.

(2) Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên sản phẩm thuốc lá: Cần thiết và quan trọng, ngày 12/12/2011.

(3) Tuổi trẻ online, EU “quyết chiến” với thuốc lá, ngày 30/01/2007. (4) Báo Pháp luật, Cấm hút thuốc lá nơi công cộng: “Đỏ mắt” tìm người…xử phạt, ngày 25/06/2011.

(5) Báo điện tử Chính phủ, Nghiện thuốc lá có nguy cơ tử vong cao gấp 2,5 - 10 lần, ngày 02/05/2011.

(6) Khoản 1, Điều 6, FCTC ghi nhận:“Các bên nhận thức rằng các biện pháp về giá và thuế là các phương tiện hữu hiệu và quan trọng để làm giảm mức tiêu thụ thuốc lá”.

(7) Hàn Quốc đánh thuế trên bao thuốc lá 76%, Singapore 64%, Thái Lan 63% nhưng Việt Nam chỉ 45%. Vì vậy, người dân có thể dễ dàng mua các loại thuốc lá phù hợp với túi tiền.

(8) TS. Jean Marc Oliver (Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam), Tăng thuế thuốc lá nhằm bảo vệ công đồng, Kỷ yếu Hội thảo thuế và kinh tế thuốc lá ngày 9/3/2010.

(9) Báo Dân trí, Tăng thuế thuốc lá sẽ làm giảm tỷ lệ hút thuốc, ngày 09/03/2010. (10)
Ngô Quý Linh, Công ước khung về kiểm soát thuốc lá và vấn đề chống buôn lậu thuốc lá bằng chính sách thuế, Tạp chí Khoa học pháp lý số 2/2004.

(11) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 7, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.116.

(12) Xem thêm Điều 153: Tội buôn lậu trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

(13) Xem thêm Nghị định 06/2009/NĐ-CP (sđ, bs năm 2010) của Chính phủ ngày 22/01/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh rượu và thuốc lá.

(14) Khoản 1, Điều 39 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1989 quy định:“Người có thành tích trong việc phát hiện vi phạm hành chính được khen thưởng theo chế  độ chung của Nhà nước và  được thưởng tiền theo tỷ lệ 1% đến 15% số tiền phạt và giá trị tang vật, phương tiện bị tịch thu”. Tuy nhiên, xuất phát từ mục đích hạn chế tiêu cực trong quá trình XLVPHC, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 1995 đã bỏ quy định về trích thưởng. Thậm chí, Pháp lệnh XLVPHC năm 2002 (sửa đổi, bổ sung năm 2007, 2008) đưa ra hẳn quy định mang tính cấm đoán “Nghiêm cấm sử dụng tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính hoặc từ bán tang vật, phương tiện bị tịch thu để trích thưởng” (Điều 111). (15) Ngô Quý Linh, Tlđd

(16) Báo Công an nhân dân, Chống quảng cáo thuốc lá trá hình bằng cách nào?, ngày 31/08/2007.

(17) Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, Ngày thế giới không thuốc lá ngày 31/5: Cần tăng cường đưa hình ảnh về tác hại của thuốc lá trên vỏ bao, ngày 31/5/2009.

(18) Báo cáo giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Luật PCTHTL của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

(19) VnExpress.net, Tăng mức phạt vẫn không hạn chế được quảng cáo thuốc lá, ngày 24/12/2011.

(20) Trường Đại học Y tế công cộng, Hội Y tế công cộng Việt Nam, tổ chức Health Bridge, Điều tra tình hình thực hiện quy định cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá ở Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo “Tăng cường thực thi quy định cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá tại Việt Nam”, Hà Nội, ngày 15/12/2011.

(21) Dr. Joseph Ciccolo, Harmful effects of secondhand smoking, Journal of Nicotine and Tobacco Research, UK, 2006, p.46.

(22) Tiền phong online, Những người nghiện thuốc lá có bị sốc? ngày 14/12/2006.

(23) Cổng thông tin Bộ Tư pháp, Pháp luật quốc tế: Ở nước ngoài cấm thuốc lá thế nào? ngày 01/02/2010.

(24) Cổng thông tin Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIII - Cấm hút thuốc lá: Cần công cụ kinh tế mạnh mẽ, ngày 17/11/2011.

(25) Nguyễn Cửu Việt (2008), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.44.

(26) Ở nhiều nước trên thế giới, chế tài xử phạt các vi phạm về PCTHTL rất nặng. Cụ thể, theo Luật Quản lý và kiểm soát thuốc lá của Cộng hòa Pháp thì hành vi hút thuốc nơi công cộng sẽ bị phạt từ 68 - 135 euro, người chủ nhà hàng, khách sạn, quán ăn không có những động thái ngăn chặn, hạn chế việc hút thuốc lá tại địa điểm do mình quản lý có thể bị phạt đến 750 euro. Theo Luật Cấm thuốc lá của Hàn Quốc thì hút thuốc lá nơi công cộng có thể bị phạt đến 100.000 won (90 USD). Tại Thái Lan, những người vi phạm các quy định về hút thuốc lá sẽ bị phạt 2.000 baht (khoảng 43 euro) và chủ cơ sở có người vi phạt sẽ phải nộp phạt 20.000 baht (khoảng 430 euro).

ThS. Cao Vũ Minh - Giảng viên khoa Hành chính - Nhà nước, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; ThS. Dương Thị Tươi - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bất cập của pháp luật hiện hành về phân loại đô thị (12/06/2014)
Góp ý Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (17/01/2014)
Bảo đảm quyền của người đồng tính, người chuyển giới trong tư pháp hình sự (30/10/2013)
Luật Thủ đô trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật (12/12/2012)
Chuyển biện pháp xử lý người nghiện ma túy từ pháp luật xử lý vi phạm hành chính sang pháp luật phòng, chống ma túy (21/06/2012)
Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư (12/06/2012)
Góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (12/06/2012)
Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư (12/06/2012)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Khai mạc Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân