|
Kiến nghị về bốn nội dung trong dự thảo Luật Viên chức
|
||
|
Dự thảo Luật Viên chức gồm 9 chương 92 điều đã được Quốc hội khóa XII thảo luận và cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7 (tháng 6/2010). Có thể nói, đây là một Dự thảo Luật rất quan trọng, sau khi ban hành sẽ tác động lớn đến một bộ phận người lao động làm việc trong khu vực công. Vì vậy đòi hỏi các nhà làm luật phải cân nhắc rất thận trọng tất cả các vấn đề. Chúng tôi xin phân tích, kiến nghị bốn vấn đề lớn mà Thường trực Uỷ ban Pháp luật còn cân nhắc và xin ý kiến chỉ đạo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. 1. Tên gọi của Dự thảo Luật Tên gọi của Dự thảo Luật Viên chức hiện đang có nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến tán thành với Dự thảo Luật là Luật Viên chức. Nhưng cũng có một số ý kiến đề nghị lấy tên luật là Luật Viên chức nhà nước, Luật Viên chức công lập hoặc Luật Viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập. Chúng tôi đồng tình với tên gọi của Dự thảo luật là Luật Viên chức vì một số lý do sau: Trước hết, theo quy định của pháp luật hiện hành1 cũng như theo nhận thức chung hiện nay, viên chức là khái niệm dùng để chỉ những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước (hay còn gọi là các đơn vị sự nghiệp công lập). Mặt khác, tại Điều 2 của Dự thảo luật đã đưa ra khái niệm viên chức khá rõ ràng: “Viên chức quy định tại Luật này là người được tuyển dụng, bổ nhiệm một chức danh nghề nghiệp, chức vụ quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập theo vị trí việc làm và hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Như vậy, tên gọi của Dự thảo luật là Luật Viên chức đã bao hàm đầy đủ ý nghĩa của nó. Đó là một đạo luật điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Còn nếu tên gọi của Dự thảo luật là Luật Viên chức công lập hoặc Luật Viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập thì có thể dẫn đến cách hiểu không đúng, là những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp không phải của Nhà nước cũng là viên chức, điều này không phù hợp với nachận thức chung hiện nay. Cách gọi như trên cũng rất rườm rà, dài dòng và không cần thiết. 2. Phạm vi điều chỉnh của Dự thảo Luật Hiện nay vẫn tồn tại hai loại quan điểm về phạm vi điều chỉnh của Luật này. Đa số ý kiến tán thành với quy định của Dự thảo Luật là chỉ điều chỉnh các đối tượng là viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Một số ý kiến đề nghị Luật cần mở rộng đối tượng điều chỉnh đối với cả những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Bởi vì các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và công lập đều có các hoạt động tương tự nhau, đều thực hiện chính sách chung của Nhà nước. Chúng tôi cho rằng, trong tình hình hiện nay, Luật Viên chức chỉ nên điều chỉnh những quan hệ xã hội liên quan đến những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Bởi lẽ, đội ngũ này hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, được Nhà nước bảo đảm các điều kiện vật chất, trang thiết bị làm việc, được Nhà nước cấp một phần hoặc toàn bộ kinh phí hoạt động để thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước giao, nhằm bảo đảm thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước và phục vụ những lợi ích công cộng. Do đó, Nhà nước cần quản lý đội ngũ này. Còn các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, mặc dù có tham gia thực hiện chính sách chung của Nhà nước, nhưng hoạt động của các đơn vị này có mục đích hoàn toàn khác với các đơn vị sự nghiệp công lập là tìm kiếm lợi nhuận. Đặc trưng này là điểm khác biệt căn bản giữa hai loại hình đơn vị sự nghiệp nói trên. Đối với một số lĩnh vực hoạt động không mang lại lợi nhuận thì các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập chắc chắn sẽ không tham gia, trong khi đó các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn phải tiến hành cho dù không có lợi nhuận, vì phải thực thi chính sách xã hội của Nhà nước. Vì thế, phạm vi điều chỉnh của luật này chỉ nên giới hạn trong phạm vi đối tượng là những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. 3. Quy định việc công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài dự tuyển làm viên chức Hiện nay cũng đang có hai loại ý kiến khác nhau về vấn đề này. Loại ý kiến thứ nhất tán thành với quy định của Dự thảo Luật, theo đó, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng chưa thôi quốc tịch Việt Nam (công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài) có thể đăng ký tuyển dụng làm viên chức nhưng phải đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện quy định của pháp luật. Loại ý kiến thứ hai đề nghị không tuyển dụng công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài làm viên chức tại Việt Nam. Có thể nói đây là vấn đề khá phức tạp. Theo Thường trực Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội thì trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài ngày càng tham gia tích cực vào các hoạt động sự nghiệp ở trong nước. Khi tham gia các hoạt động này, họ cũng phải tuân thủ những quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam, đồng thời, thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, trong số công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài, có không ít người vừa mang quốc tịch Việt Nam, vừa mang quốc tịch nước khác, do đó, nếu họ trở thành viên chức ở Việt Nam thì sẽ phát sinh một số khó khăn, phức tạp trong việc quản lý, sử dụng... Vì vậy, cùng với việc thu hút chất xám thì cũng phải có cơ chế chặt chẽ để bảo đảm các hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập khi có sự tham gia của viên chức là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài2. Do còn có ý kiến khác nhau, Thường trực Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội đã đề xuất hai phương án để xem xét, quyết định: Phương án 1, cho phép công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia dự tuyển làm viên chức như quy định của Dự thảo Luật. Quy định như vậy sẽ bảo đảm sự bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài và công dân Việt Nam ở trong nước. Hơn nữa, việc tuyển dụng những người này làm viên chức còn giúp thu hút chất xám và phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Tuy nhiên, cần thiết phải quy định cụ thể những lĩnh vực, ngành, nghề, vị trí công việc được tuyển dụng công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài làm viên chức, cũng như quy định về điều kiện tuyển dụng, hợp đồng làm việc, các quyền, nghĩa vụ của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài trong trường hợp họ được tuyển dụng làm viên chức. Phương án 2, không quy định trong Dự thảo Luật này về việc tuyển dụng viên chức là công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài. Trường hợp cần huy động chất xám, trí tuệ, kinh nghiệm, chuyên môn, nghiệp vụ của công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài vào các hoạt động chuyên môn tại các đơn vị sự nghiệp ở Việt Nam thì có thể sử dụng các cơ chế khác như hợp tác nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, chuyên môn, chuyển giao công nghệ hoặc dưới hình thức ký hợp đồng vụ việc, hợp đồng lao động có thời hạn theo quy định hiện hành của pháp luật. Trên thực tế, các hoạt động này đang được thực hiện không chỉ ở các đơn vị sự nghiệp công lập mà cả các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập. Về hai phương án trên, chúng tôi xin có một số trao đổi. Trước hết, để đi đến việc lựa chọn phương án nào là tốt hơn, cần thiết phải khẳng định là chúng ta cần tranh thủ chất xám trí tuệ, kinh nghiệm, chuyên môn của người Việt Nam sinh sống ở nước ngoài, vì đây là lực lượng có trình độ chuyên môn cao và nếu sử dụng họ thì chúng ta tiết kiệm được rất nhiều kinh phí cho việc đào tạo nguồn lực3. Đồng thời, cũng cần phải làm rõ người Việt Nam ở nước ngoài mong muốn điều gì khi được tuyển dụng và trở thành viên chức. Có lẽ, người Việt Nam ở nước ngoài cũng như những người hoạt động chuyên môn nói chung luôn mong muốn có được một môi trường làm việc tốt mà ở đó, họ có thể thể hiện được mình, phát huy được tài năng, sức sáng tạo của họ. Bên cạnh đó, là mong muốn được đóng góp sức mình để xây dựng đất nước. Như vậy, nếu người Việt Nam định cư ở nước ngoài muốn trở thành viên chức thì có lẽ điều hấp dẫn nhất với họ chắc không phải là ở mức thu nhập, môi trường làm việc hay cơ hội thăng tiến mà lý do thuyết phục nhất là sự mong muốn đóng góp sức mình để xây dựng đất nước, khẳng định mình là con người có ích cho Tổ quốc. Công dân Việt Nam sống ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nên họ cũng có quyền và nghĩa vụ của người công dân, nếu vì động cơ muốn đóng góp sức mình để xây dựng đất nước thì pháp luật cần tạo điều kiện cho họ có cơ hội trở thành viên chức. Thứ hai, mặc dù chúng tôi tán thành với phương án nên quy định người Việt Nam ở nước ngoài được thi tuyển viên chức, nhưng vẫn phải lường trước một số vấn đề có thể nảy sinh gây khó khăn cho công tác quản lý. Vì vậy cũng cần có quy định giới hạn một số lĩnh vực nhất định như giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học... mà người Việt Nam ở nước ngoài được tham gia làm viên chức. Nên hạn chế người Việt Nam ở nước ngoài làm việc trong các lĩnh vực liên quan đến bí mật nhà nước, an ninh quốc gia và một số lĩnh vực có thể dễ dàng gây thiệt hại lớn cho Nhà nước, cho xã hội. Thứ ba, cần quy định rõ đối tượng nào trong số người Việt Nam sống ở nước ngoài có thể tham gia thi tuyển viên chức. Hiện nay, những người Việt Nam sống ở nước ngoài có thể gồm các đối tượng: người chỉ có một quốc tịch và đó là quốc tịch Việt Nam; người Việt Nam có nhiều quốc tịch khác nhau nhưng chưa thôi quốc tịch Việt Nam; người nước ngoài được nhập quốc tịch Việt Nam mà không cần thôi quốc tịch của họ theo Luật Quốc tịch (họ có thể là vợ hoặc chồng của công dân Việt Nam, là con hoặc là bố hay mẹ của công dân Việt Nam thì có thể mang quốc tịch Việt Nam mà không cần thôi quốc tịch của họ và các trường hợp khác mà Luật Quốc tịch quy định). Theo chúng tôi, trong ba đối tượng trên, chỉ nên quy định đối tượng thứ nhất (những người chỉ có một quốc tịch và đó là quốc tịch Việt Nam) mới được tham gia thi tuyển viên chức. Bởi vì ngoài đối tượng thứ nhất thì hai đối tượng còn lại đều là những người có nhiều quốc tịch và do đó, họ vừa có quyền và nghĩa vụ của công dân Việt Nam, vừa có quyền và nghĩa vụ công dân của các nước mà họ mang quốc tịch. Điều này có thể sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý nếu họ trở thành viên chức. Đặc biệt là có thể xảy ra trường hợp việc thực hiện nghĩa vụ đối với quốc gia này lại có thể là sự vi phạm nghĩa vụ công dân của quốc gia khác (ví dụ họ đều là công dân của hai quốc gia có xung đột lợi ích, hoặc là hai quốc gia có các quy định pháp luật xung đột nhau...). 4. Kéo dài thời gian làm việc đối với viên chức Dự thảo Luật quy định viên chức đến tuổi nghỉ hưu theo quy định của pháp luật về lao động thì được quyền nghỉ hưu. Trong trường hợp do nhu cầu công việc, thì người đứng đầu đơn vị sự nghiệp có thể kéo dài tuổi nghỉ hưu đối với viên chức đủ tuổi được hưởng chế độ hưu trí. Trong trường hợp này, người đứng đầu phải ký lại hợp đồng làm việc với viên chức nhưng không bổ nhiệm viên chức giữ chức vụ quản lý. Vấn đề này, cũng có hai loại ý kiến khác nhau. Loại ý kiến thứ nhất tán thành quy định về kéo dài thời gian làm việc đối với viên chức như trong Dự thảo Luật; đồng thời, đề nghị quy định cụ thể về các lĩnh vực có thể kéo dài thời gian làm việc, tiêu chuẩn, điều kiện, nguyên tắc, trình tự, thủ tục kéo dài thời gian làm việc của viên chức, chế độ, chính sách của viên chức sau khi thực hiện kéo dài thời gian làm việc… Loại ý kiến thứ hai không tán thành quy định về việc kéo dài thời gian làm việc của viên chức; viên chức nghỉ hưu nếu có trình độ chuyên môn, năng lực công tác, còn đủ sức khỏe và đơn vị sự nghiệp có nhu cầu thì có thể ký hợp đồng vụ việc hoặc hợp đồng lao động có xác định thời hạn. Chúng tôi có một số ý kiến như sau. Trước hết, không nên quan niệm việc kéo dài thời gian làm việc của viên chức là một đặc ân đối với họ. Nếu chúng ta so sánh với các nước phát triển thì tuổi nghỉ hưu của người lao động của các nước phát triển khá cao. Như ở Thuỵ Điển là 67 tuổi, ở Nhật Bản là 65 tuổi... Ở Pháp, sau khi Chính phủ dự định tăng tuổi nghỉ hưu đối với người lao động từ 60 lên 62 đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của người lao động4... Đặc thù lao động của viên chức là tính chuyên môn nghiệp vụ cao, tuổi nghề càng cao thì kinh nghiệm họ tích luỹ được càng nhiều và khả năng cống hiến của họ càng lớn. Đặc biệt là khi họ đã khẳng định được “thương hiệu” của mình thì cơ hội làm việc của họ trong các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập càng trở nên dễ dàng hơn. Vì vậy, nếu không quy định kéo dài thời gian làm việc của viên chức thì trong khá nhiều trường hợp, đơn vị sự nghiệp công lập có nhu cầu thì khó có thể ký hợp đồng vụ việc hoặc hợp đồng lao động có xác định thời hạn đối với họ, vì sau khi nghỉ hưu, những chuyên gia này sẽ lựa chọn các đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, nơi có thu nhập hấp dẫn hơn. Vì vậy, việc quy định kéo dài thời gian làm việc như Dự thảo Luật là hợp lý. Viên chức đến tuổi quy định có quyền lựa chọn hoặc là nghỉ hưu hoặc là tiếp tục làm việc nếu họ mong muốn và đơn vị có nhu cầu sử dụng họ. Thứ hai, nên quy định kéo dài thời gian làm việc đối với viên chức vì nếu kéo dài thời gian làm việc sẽ tạo được tâm lý tốt để viên chức yên tâm phấn đấu và cống hiến. Nếu không, khi sắp đến tuổi nghỉ hưu mà sức lực của viên chức còn dồi dào, lại có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng thì viên chức sẽ bắt đầu sao nhãng để tìm kiếm chỗ làm việc sau khi nghỉ hưu, làm ảnh hưởng không tốt đến hiệu quả công việc. Hơn nữa, việc quy định kéo dài thời gian công tác đối với viên chức sẽ tiết kiệm được một phần đáng kể quỹ lương hưu đáng ra đã phải chi trả cho viên chức đến tuổi nghỉ hưu. Phương án này một mặt tiết kiệm được quỹ lương hưu, mặt khác sử dụng được năng lực chuyên môn của những chuyên gia giỏi. (1) Các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực sử dụng thuật ngữ viên chức để chỉ những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước. (2) Báo cáo một số vấn đề lớn xin ý kiến chỉ đạo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Dự thảo Luật Viên chức ngày 19/7/2010 của Thường trực Ủy ban Pháp luật của Quốc hội. (3) Hiện nay chúng ta đang phải chi một lượng kinh phí khá lớn để đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao ở nước ngoài (thạc sĩ, tiến sĩ). Các Đề án 322 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án 165 của Ban Tổ chức Trung ương, Đề án 500 của TP.HCM… đều hướng tới nguồn lực có chất lượng cao, nắm bắt tri thức từ các nước tiên tiến về phục vụ đất nước (Xem Trần Thanh Liêm, Kiều bào có được làm viên chức?, Báo Đất Việt ngày 23/7/2010). (4) Do cơ cấu dân số của các nước này khá già, tỷ lệ người già cao hơn người trẻ dẫn đến thiếu nguồn nhân lực nên buộc phải tăng độ tuổi nghỉ hưu.
|









