Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/04/2018, 02:46(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Hoàn thiện hơn nữa các quy định trong Dự thảo Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá

Mục đích quan trọng của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (Luật PCTHTL) là chống lại những tác hại của việc sử dụng thuốc lá và bảo vệ sức khỏe của nhân dân1. Nhưng trong dự thảo Luật PCTHTL (Dự thảo Luật) chưa có điều khoản liệt kê tổng quát và rõ ràng các  biện pháp2 để đạt đến mục đích trên. Bài viết đưa ra một số ý kiến đóng góp về các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, chủ yếu là (i) các biện pháp ngăn ngừa sự tiếp xúc với môi trường khói thuốc lá làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người; (ii) các biện pháp cấm tài trợ, quảng cáo và xúc tiến thương mại thuốc lá.

1. Các biện pháp ngăn ngừa sự tiếp xúc với môi trường khói thuốc lá làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Dự thảo Luật PCTHTL dành 5 điều - từ Điều 9 đến Điều 13 để đưa ra các biện pháp nhằm ngăn ngừa sự tiếp xúc với môi trường khói thuốc lá làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người bao gồm: quy định về các địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn (Điều 9), quy định về địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá (Điều 10), quy định về quyền của người không hút thuốc lá (Điều 11), quy định về nghĩa vụ của người hút thuốc lá (Điều 12), quy định về quyền và trách nhiệm của người đứng đầu địa điểm cấm hút thuốc lá (Điều 13). Các biện pháp phòng ngừa này đã thể hiện rõ vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền của công dân được hưởng bầu không khí trong lành, không có khói thuốc lá; quyền được bảo vệ khỏi những tác hại của thuốc lá. Việc cấm hút thuốc cũng không hề làm ảnh hưởng tới các quyền công dân, quyền con người của người hút thuốc. 

Theo chúng tôi, nhóm quy định về việc cấm hút thuốc lá ở địa điểm công cộng, nơi làm việc và quy định về quyền và nghĩa vụ của những người có liên quan tuy đã nêu ra được những nội dung cơ bản nhưng tính thực thi có thể sẽ chưa cao vì thiếu chế tài cụ thể liên quan đến các điều cấm trên. Bởi vậy, có thể bổ sung quy định về việc xử phạt hành chính với mức chế tài cụ thể và xác định rõ người có quyền xử phạt hành chính đối với người vi phạm các điều cấm này. Như vậy, có thể bổ sung thêm Khoản 4 Điều 9 nội dung sau: “Người vi phạm quy định điều cấm trên sẽ bị xử phạt theo quy định của pháp luật về xử phạt hành chính với mức phạt cho lần vi phạm đầu tiên là 100.000 đồng, lần thứ hai là 500.000 đồng”3.

  Đối với khoản 2 Điều 12 của Dự thảo Luật quy định “không hút thuốc lá trong nhà khi có trẻ em, phụ nữ” thì quy định này thực chất chỉ mang tính khuyến cáo. Bởi nếu khi có trẻ em, phụ nữ trong nhà mà người hút thuốc lá vẫn hút thuốc thì hoàn toàn chưa có biện pháp gì để xử lý thích hợp. Mặc dù có thể vận dụng Khoản 2 Điều 11 về quyền của người không hút thuốc lá là “yêu cầu người hút thuốc lá không được hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm” nhưng nếu người hút thuốc lá vẫn cố tình không thực hiện yêu cầu này thì không có biện pháp xử lý, chế tài.

Tiếp theo, liên quan đến quy định này, là khi không được hút thuốc lá trong nhà, người hút thuốc lá có thể ra ngoài cửa, ra hành lang hút thuốc. Nhưng ở các khu chung cư, đây có thể là không gian kín và việc hút thuốc này cũng có thể ảnh hưởng đến những người xung quanh mà trong số này cũng có thể có phụ nữ và trẻ em. Tương tự, khi bị cấm hút thuốc lá trong nhà ở, nơi công cộng, nơi làm việc, người hút thuốc lá sẽ ra đứng ở cổng để hút và như vậy, khói thuốc lá có thể vẫn làm ảnh hưởng đến người không hút thuốc lá. Tham khảo quy định của Dự thảo Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân chống lại những tác hại của việc sử dụng thuốc lá của Liên bang Nga4, theo chúng tôi có thể bổ sung quy định ”Cấm hút thuốc lá ở lối vào, hành lang khép kín ở các tòa nhà căn hộ chung cư. Cấm hút thuốc lá ở khu vực cách cổng vào các địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà 10 mét”.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 9 Dự thảo Luật, “Các địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn cả trong nhà và trong phạm vi khuôn viên bao gồm: a) Cơ sở y tế; b) Cơ sở giáo dục; c) Cơ sở vui chơi, giải trí dành riêng cho trẻ em; d) Cơ sở hoặc khu vực có nguy cơ cháy, nổ cao”. Theo chúng tôi, cần nêu chính xác ý chí của nhà làm luật là cấm hút thuốc lá hoàn toàn - không chỉ trong nhà mà cả trong phạm vi khuôn viên của cơ sở y tế, cơ sở giáo dục, bệnh viện, khu vực vui chơi giải trí dành riêng cho trẻ em - để tránh việc người hút thuốc lá nêu gương xấu cho trẻ em, chứ không nhằm mục đích ngăn ngừa sự tiếp xúc với môi trường khói thuốc lá. 

Ngoài ra, để đạt được mục đích của nhóm quy định ngăn ngừa sự tiếp xúc với môi trường khói thuốc lá làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, có thể bổ sung thêm vào Điều 12 về nghĩa vụ của người hút thuốc lá bằng quy định: “Ở địa điểm công cộng, nơi làm việc, người hút thuốc lá chỉ được hút thuốc nơi có biểu tượng được hút thuốc lá” và bổ sung  vào Khoản 3 Điều 10 quy định: “Người đứng đầu địa điểm cấm hút thuốc lá trong nhà nhưng được phép có nơi dành riêng cho người hút thuốc lá có trách nhiệm treo biển có chữ hoặc biểu tượng “Nơi hút thuốc lá” tại địa điểm được hút thuốc lá”.

2. Các biện pháp cấm tài trợ, quảng cáo và xúc tiến thương mại thuốc lá

Mục đích của các quy định về cấm tài trợ, quảng cáo và xúc tiến thương mại thuốc lá là để hạn chế việc biết đến và kích thích nhu cầu sử dụng thuốc lá. Hiện tại, trong Dự thảo Luật chỉ có quy định tại Điều 15: “Các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá không được thực hiện các hoạt động tài trợ dưới bất kỳ hình thức nào, trừ tài trợ vì mục đích nhân đạo và không được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc tài trợ của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thuốc lá”.

Như vậy, hoạt động quảng cáo và xúc tiến thương mại thuốc lá được dự tính là sẽ được cấm/điều chỉnh cụ thể trong pháp luật về quảng cáo, trong pháp luật về thương mại và xúc tiến thương mại. Tuy nhiên trong các lĩnh vực pháp luật nói trên, quy định liên quan đến thuốc lá khá mờ nhạt và chung chung, ví dụ như chỉ có quy định cấm quảng cáo thuốc lá5; cấm khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá để khuyến mại dưới mọi hình thức6; đồng thời không có quy định cấm trưng bày, giới thiệu thuốc lá7. Một số quy định của pháp luật có liên quan chưa được làm rõ, giải thích cụ thể, ví dụ như quy định về cấm quảng cáo thuốc lá nhưng liệu có cấm quảng cáo cho thương hiệu của một công ty mà bên cạnh việc sản xuất/phân phối thuốc lá còn có những hoạt động khác hay không?

Trên thực tế, các nhà sản xuất và phân phối thuốc lá đã có nhiều cách thức để tài trợ, quảng cáo và xúc tiến thương mại thuốc lá như tham gia sản xuất các bộ phim, chương trình video mà có nhân vật chính có hút thuốc hay trong khuôn hình có hình ảnh bao thuốc, điếu thuốc lá; sản xuất các sản phẩm khác nhưng mang hình thuốc lá (ví dụ sản xuất kẹo, đồ lưu niệm có hình điếu thuốc…); xúc tiến thương mại thuốc lá thông qua các mạng xã hội…

Theo chúng tôi, trong dự thảo luật chuyên biệt về PCTHTL có thể có những quy định cụ thể liên quan đến tài trợ, quảng cáo và xúc tiến thương mại các sản phẩm thuốc lá chứ không nên quy định dẫn chiếu pháp luật có liên quan. Tên Điều 15 Dự thảo Luật có thể sửa thành “Hoạt động tài trợ, quảng cáo và xúc tiến thương mại thuốc lá” trong đó bổ sung thêm các quy định:

“Các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá không được thực hiện các hoạt động quảng cáo thuốc lá dưới bất kỳ hình thức nào bao gồm quảng cáo tên/hình ảnh công ty kinh doanh thuốc lá, ngoại trừ quảng cáo các hoạt động khác của công ty hoàn toàn không liên quan đến kinh doanh thuốc lá”.

“Các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá không được thực hiện trưng bày, giới thiệu thuốc lá ở các địa điểm công cộng”.

Việc quy định rõ ràng về cấm tài trợ, quảng cáo và xúc tiến thương mại thuốc lá thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc nỗ lực làm giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, đặt ưu tiên bảo vệ sức khoẻ của công dân lên trên lợi ích của các công ty kinh doanh thuốc lá. Quy định như vậy cũng đáp ứng khuyến cáo của Công ước khung về kiểm soát thuốc lá (Framework Convention on Tobacco Control, gọi tắt là FCTC) về việc ban hành chính sách triệt để cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá8.

Cụ thể và nghiêm ngặt hơn nữa, có thể bổ sung các quy định như:

 “Cấm không được sử dụng hình thức của thuốc lá cho các sản phẩm khác, bao gồm cả các sản phẩm quà tặng, lưu niệm”;

“Cấm đưa hình ảnh sản phẩm thuốc lá và quá trình tiêu dùng sản phẩm này (ngoại trừ  trình chiếu quá trình tiêu dùng sản phẩm thuốc lá để cảnh bảo về sự nguy hiểm của việc hút thuốc) vào các sản phẩm nghe nhìn, bao gồm phim, truyền hình, nhà hát và các cuộc biểu diễn; vào các chương trình truyền hình, video”9;

Đồng thời, nếu thấy cần thiết, có thể bổ sung quy định về chế tài đối với hành vi vi phạm là “Tổ chức, cá nhân vi phạm quy định trên sẽ bị xử lý nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật”.

Dự thảo Luật PCTHTL sẽ là một cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ sức khỏe của công dân khỏi những hậu quả của việc sử dụng thuốc lá bằng cách đưa ra một tập hợp các biện pháp hạn chế để giảm tiêu thụ các sản phẩm thuốc lá và hạn chế ảnh hưởng của việc sử dụng thuốc lá đối với sức khỏe con người. Chúng tôi hy vọng rằng một số đề xuất nêu trên sẽ góp phần vào việc hoàn thiện quy định về các biện pháp cụ thể để PCTHTL.

(1) Liên bang Nga cũng đang thảo luận Dự thảo luật tương tự như Luật PCTHTL của Việt Nam, có tên là Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân chống lại những tác hại của việc sử dụng thuốc lá. (Xem: http://www.rg.ru/2011/08/19/antitabak-site-dok.html).

(2) Bao gồm hai nhóm biện pháp chính là: (i) các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, (ii) các biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá. (3)
Nghị định số 45/NĐ-CP ngày 06/04/2005 quy định các hình thức xử phạt đối với hành vi hút thuốc nơi công cộng:“Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng đối với hành vi hút thuốc lá, thuốc lào ở nơi công cộng như: trong rạp hát, rạp chiếu phim, phòng họp, phòng làm việc, bệnh viện, thư viện, phòng đợi của nhà ga, bến xe, sân bay, bến cảng, trên các phương tiện giao thông công cộng hoặc ở những nơi công cộng khác có quy định cấm” (Điều 16).

(4) http://www.rg.ru/2011/08/19/antitabak-site-dok.html

(5) Khoản 8 Điều 5 Pháp lệnh Quảng cáo năm 2001, Khoản 2 Điều 8 Dự thảo Luật Quảng cáo, Khoản 4 Điều 109 Luật Thương mại năm 2005.

(6) Khoản 4 Điều 100 Luật Thương mại năm 2005.

(7) Xem: Mục 4 Chương IV Luật Thương mại năm 2005.

(8) Xem Ngô Quý Linh, Công ước khung về kiểm soát thuốc lá và vấn đề chống buôn lậu thuốc lá bằng chính sách thuế, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 2/2004.

(9) Xem Rose Nathan,  Model Legislation for Tobacco Control: A Policy Development and Legislative Drafting Manual, International Union for Health Promotion and Education, France, First Edition 2004, http://www.iuhpe.org/uploaded/Publications/Books_Reports/tobacco_manual_final.pdf

TS. Phạm Trí Hùng - Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bất cập của pháp luật hiện hành về phân loại đô thị (12/06/2014)
Góp ý Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (17/01/2014)
Bảo đảm quyền của người đồng tính, người chuyển giới trong tư pháp hình sự (30/10/2013)
Luật Thủ đô trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật (12/12/2012)
Chuyển biện pháp xử lý người nghiện ma túy từ pháp luật xử lý vi phạm hành chính sang pháp luật phòng, chống ma túy (21/06/2012)
Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư (12/06/2012)
Góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (12/06/2012)
Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư (12/06/2012)
6.jpg
Đồng chí Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm VPQH phát biểu khai mạc Hội thảo "Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và xã hội trong thúc đẩy thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã"
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân