Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/07/2018, 22:54(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Góp ý Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

1. Vai trò của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong thực tiễn  

 Trên cơ sở kế thừa và phát huy thành tựu của Luật Hôn nhân và gia đình (HNVGĐ) năm 1959 và năm 1986 của Nhà nước ta, ngày 9/6/2000, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật HNVGĐ năm 2000. Sau 13 năm thi hành, Luật HNVGĐ đã góp phần quan trọng trong việc đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội nước ta, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Các nội dung của Luật đã đóng góp một phần đáng kể vào việc phát triển nguồn nhân lực, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và từng địa phương nói riêng. Trên cơ sở các quy định về nguyên tắc cơ bản của chế độ HNVGĐ, như vấn đề kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng, ly hôn, quan hệ cha, mẹ, con, các thành viên khác trong gia đình, cấp dưỡng, giám hộ, quan hệ HNVGĐ có yếu tố nước ngoài, trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội đối với gia đình, Luật HNVGĐ năm 2000 đã góp phần xây dựng, hoàn thiện, bảo vệ gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền công dân đặc biệt quyền của phụ nữ, trẻ em trong lĩnh vực HNVGĐ.

Mặt khác, thông qua việc ghi nhận những chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của các thành viên gia đình, Luật đã góp phần tăng cường và phát huy ý thức trách nhiệm, thái độ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; kế thừa, phát huy các truyền thống đạo đức, văn hóa tốt đẹp của gia đình và dân tộc.

Bên cạnh đó, Luật đã tạo cơ sở pháp lý tương đối đầy đủ và hợp lý về sở hữu và giao dịch giữa các thành viên gia đình và giữa họ với các chủ thể khác trong xã hội, qua đó, góp phần bảo đảm sự ổn định của các quan hệ HNVGĐ, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các thành viên gia đình, đồng thời bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác trong xã hội.

Ngoài ra, quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ HNVGĐ có yếu tố nước ngoài được Luật ghi nhận, bảo vệ phù hợp với chính sách đối ngoại của Nhà nước ta và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Qua đó, góp phần thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Việt Nam và các nước khác trên thế giới.

Như vậy, Luật HNVGĐ năm 2000 đã ảnh hưởng tích cực đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện, bảo vệ các quyền, nghĩa vụ của người dân về HNVGĐ.

2. Một số kiến nghị về Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xã hội của chúng ta đang chịu những tác động tích cực và tiêu cực, không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả về mặt văn hóa, xã hội. Gia đình với tư cách là tế bào của xã hội cũng không tránh khỏi sự tác động nhiều chiều đó mà cụ thể là cấu trúc gia đình truyền thống nhiều thế hệ đang có sự thay đổi; sự lỏng lẻo trong mối quan hệ giữa cha, mẹ, con và giữa các thành viên khác ngày càng có xu hướng gia tăng. Hôn nhân tự nhiên bị lai căng và dần dần mất đi tính bền vững của hôn nhân đích thực. Tự do của cá nhân đang xuất hiện trong không ít gia đình; quan hệ sở hữu, giao dịch trong gia đình với mục đích phục vụ sản xuất, kinh doanh ngày càng phổ biến. Một số quan hệ đặc thù của HNVGĐ hiện đại, của hội nhập quốc tế đã phát sinh đang có xu hướng du nhập vào Việt Nam với nhiều hệ lụy khác nhau.

Trong khi đó, mục tiêu hàng đầu của chúng ta là phải thể chế hóa quan điểm của Đảng được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 được thông qua tại Đại hội lần thứ XI của Đảng là “xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”[1]. Để góp phần hoàn thiện nhiệm vụ cao cả đó, chúng ta đang tiến hành xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật HNVGĐ năm 2000. Sau khi tham khảo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, chúng tôi xin đóng góp một số ý kiến sau.

Thứ nhất, bảo vệ chế độ HNVGĐ

Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Điều 4 Dự thảo quy định về bảo vệ chế độ HNVGĐ. Quan hệ HNVGĐ được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ khi chính các chủ thể tham gia xác lập. So với nội dung Luật hiện hành, nội dung sửa đổi lần này đã rõ ràng, cụ thể hơn.

Tuy nhiên, các hành vi cấm và khái niệm trong phần giải thích từ ngữ chưa thật chặt chẽ và thiếu logic, như: “mang thai hộ vì mục đích thương mại” và “yêu sách của cải trong việc kết hôn”, từ đó sẽ tạo nhiều kẽ hở pháp luật, dễ dàng bị “lách luật” trong thực tiễn làm cho nhà quản lý gặp không ít khó khăn, người dân sẽ bị hứng chịu những hệ lụy khó lường. Khoản 23 Điều 8 Dự thảo quy định: Mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc vì mục đích trục lợi khác”. Quy định như trên được hiểu là một mình người phụ nữ đó trực tiếp hành động, không có người thứ ba xen vào công việc này và chủ ý xem việc mang thai hộ là một nghề kiếm ra tiền, người phụ nữ tự mình hành nghề hay còn gọi là tự kinh doanh thương mại bằng nghề mang thai hộ, thì mới bị cấm.

Vậy, giả sử chị A, quê ở Thái Nguyên mang thai hộ cho gia đình anh chị Phương - Mai, quê ở Bình Thuận vì mục đích thương mại bằng cách gián tiếp thông qua một hoặc một số người quen biết với cả A và B môi giới có cam kết bằng hợp đồng để cùng được hưởng lợi thì có bị coi là vi phạm pháp luật HNVGĐ hay không? Chắc chắn là không. Nếu như vậy, đây là một quy định không khả thi để áp dụng, chị em phụ nữ sẽ tìm đến giải pháp an toàn là thông qua một người nào đó, một trung gian nào đó để mang thai hộ cho người khác và sẽ có tiền mà không bị pháp luật cấm đoán, xử lý. Như vậy thì quy định này lại có tác dụng ngược, dễ dàng phát sinh một nghề kinh doanh mới mà không bị pháp luật nghiêm trị. Chúng ta thừa nhận rằng, khi đã vì mục đích thương mại, thì không chỉ một chủ thể trực tiếp (người phụ nữ mang thai) và người cần có con để nuôi, mà sẽ có những người phụ nữ bị người khác lôi kéo vào đường dây (hội) mang thai hộ có ăn chia, thậm chí bị chồng thúc ép mang thai hộ để lấy một khoản tiền lớn hoặc bị bắt cóc cách ly thật xa và thúc ép mang thai vài lần (9 tháng 10 ngày), khi sinh nở xong sẽ được nhận một số tiền và giải phóng cho về quê, lúc này người phụ nữ hoàn toàn đóng vai trò gián tiếp trong việc mang thai cho người khác. Thông thường đã gián tiếp thì thậm chí người phụ nữ mang thai không hề biết một thông tin cụ thể nào về người mình sẽ đẻ con ra cho họ nuôi. Mặt khác, đã gọi là thương mại thì phải nói đến hành vi thương mại, mà hành vi thương mại là của thương nhân (người chuyên hành nghề mang thai cho người khác), hành vi thương mại không chỉ có hành vị trực tiếp mà còn có cả hành vi gián tiếp.

Vì vậy, khái niệm mang thai hộ trong Dự thảo cần quy định chặt chẽ, toàn diện hơn. Đây cũng là một vấn đề khá nhạy cảm, cần xem xét tính tương thích của quy định pháp luật với thực tiễn, đồng thời cần quy định chế tài cụ thể, xử lý nghiêm hành vi vi phạm liên quan đến mang thai hộ cho người khác vì mục đích thương mại.  

 Yêu sách của cải trong việc kết hôn” được giải thích tại khoản 9 Điều 10 Dự thảo như sau: Yêu sách của cải trong kết hôn là việc đòi hỏi về mặt vật chất một cách quá đáng, không nhân nhượng và coi đó là điều kiện để được kết hôn nhằm cản trở hôn nhân tự nguyện giữa đôi bên nam, nữ”. Điều này còn chung chung, chưa thật sự bao quát hết tình huống xảy ra trong thực tin hiện nay. Ví dụ, hiện nay tập tục ở rể, thách cưới của một số đồng bào dân tộc ít người vẫn diễn ra trong đời sống các dân tộc Ê đê, Lạch, Mường, Thái… Nếu người nam hoặc nữ người dân tộc A mà lấy nam hoặc nữ người dân tộc B khi bị thách cưới phải nộp 10 con bò và trâu, 100 kg gạo nếp và một số vật tài có giá trị khác thì có phải là “đòi hỏi về mặt vật chất một cách quá đáng” hay không? Và có coi là vi phạm pháp luật về yêu sách của cải trong việc kết hôn hay không? Lĩnh vực HNVGĐ là lĩnh vực mà ở đó, tập quán rất đa dạng và giữ vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh, đặc biệt trong cộng đồng các dân tộc ít người. Ngoài ra, pháp luật cũng quy định: Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thẩm quyền đăng ký kết hôn thuộc về Ủy ban nhân dân phường, xã và cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan Lãnh sự Việt Nam ở nước ngoài[2]. Nếu những người đó yêu cầu người đăng ký kết hôn phải đưa một khoản tiền hoặc đồ vật giá trị nào đó mới cho đăng ký kết hôn thì hành vi đó có bị coi là yêu sách của cải trong việc kết hôn hay không? Do vậy chúng tôi đề nghị cần bổ sung, làm rõ khái niệm “đòi hỏi về mặt vật chất một cách quá đáng” là như thế nào? Mặt khác, làm rõ hơn chủ thể “yêu sách của cải trong việc kết hôn” là gồm những chủ thể nào để thuận lợi hơn trong việc điều chỉnh các quan hệ đa dạng và nhạy cảm này trong thực tiễn xã hội.

So với quy định “cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu anh chị, em và các thành viên khác trong gia đình”[3] thì Dự thảo lần này gom lại vào một hành vi cấm đó là cấm bạo lực gia đình. Đây là quy định mới và rất phù hợp cả về nội dung lẫn kỹ thuật soạn thảo văn bản pháp luật. Tuy nhiên, khái niệm bạo lực gia đình cũng không được giải thích rõ ở phần giải thích từ ngữ ở Điều 8 Dự thảo lần này. Trong khi đó Luật Phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 lại giải thích rõ khái niệm này trong phần phạm vi điều chỉnh (khoản 2 Điều 1 Chương I phần những quy định chung) chứ không nằm ở phần giải thích từ ngữ. Theo đó, bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”. Xét trên phương diện tác hại của hành vi bạo lực gia đình mà thực tế các chủ thể là nạn nhân đang phải đối mặt, thì khái niệm này cũng chưa bao quát hết khả năng lan tỏa tác hại của hành vi bạo lực đối với uy tín chính trị, sự riêng tư cá nhân của các thành viên trong gia đình. Do đó, cần bổ sung khái niệm bạo lực gia đình cụ thể hơn và đúng vị trí chức năng điều chỉnh của nó ngay trong Luật HNVGĐ mà Dự thảo lần này đang bỏ ngỏ, nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu thực tiễn phát triển HNVGĐ bền vững.

Thứ hai, cấm hôn nhân giữa những người cùng giới tính

Dự thảo không sửa đổi, bổ sung gì đối với những trường hợp cấm kết hôn nói chung và cấm kết hôn giữa những người cùng giới nói riêng quy định tại Điều 10 của Luật HNVGĐ hiện hành. Đây là một quy định đúng đắn, bởi vì quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính là không phù hợp với chức năng xã hội của hôn nhân, cũng như với quan niệm truyền thống về HNVGĐ ở nước ta. Khái niệm “kết hôn” được ghi rõ tại khoản 2 Điều 8 Luật HNVGĐ năm 2000 và tại khoản 3 Điều 8 Dự thảo đều thống nhất chung “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”. Do đó, chúng tôi đồng ý cần tiếp tục duy trì quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính như Luật hiện hành và sửa đổi, bổ sung của Dự thảo: 1. Nhà nước không thừa nhận quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.

Tuy nhiên, chúng tôi không đồng ý việc bổ sung vào Dự thảo Giải quyết hậu quả của việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính vì quy định này không phù hợp, thiếu tính khoa học.

Việc chung sống với nhau là vấn đề lựa chọn dân sự, mang tính chất riêng tư cá nhân được pháp luật bảo hộ (Hiến pháp 1992), việc này thể hiện rõ quyền con người trong một xã hội có mối quan hệ đa chiều như xã hội chúng ta đang sống. Việc chung sống với nhau của những người đồng tính cũng không thuộc ngoại lệ đó, theo quan điểm của chúng tôi, việc chung sống hay xác lập quan hệ của họ là thuộc phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Dân sự chứ không thể thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật HNVGĐ. Quan hệ giữa những người cùng giới tính là vấn đề có tính nhạy cảm xã hội cao, Nhà nước và pháp luật không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng xét theo phương diện quản lý hành chính nhà nước thì Nhà nước cũng không thể can thiệp hành chính vào quyền được sống theo bản dạng giới, khuynh hướng tính dục. Nhà nước quản lý hành chính bằng pháp luật, nên pháp luật cũng cần có quy định thích hợp để giúp họ giải quyết một cách ổn thỏa các hậu quả pháp lý của việc sống chung này, nhằm góp phần bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của các đương sự và sự ổn định xã hội. Vì vậy, nên bỏ quy định tại Điều 17d Dự thảoGiải quyết hậu quả của việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính”. Vấn đề này nên quy định trong Bộ luật Dân sự vì nó thuộc phạm vi điều chỉnh của quan hệ dân sự trong xã hội.

Thứ ba, ly hôn theo yêu cầu của một bên

Chúng tôi cơ bản nhất trí với nội dung ly hôn theo yêu cầu của một bên tại Điều 91Dự thảo, so với quy định của Luật hiện hành thì Điều 91 Dự thảo đã có sự bổ sung cụ thể hơn, tuy nhiên các quy định này vẫn chưa làm rõ được một số khái niệm cơ bản. Vì vậy, cần bổ sung, làm rõ khái niệm như thế nào là “hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng”; “đời sống chung không thể kéo dài”; “mục đích hôn nhân không đạt được” tránh tình trạng sau khi Luật được ban hành, người dân và các cơ quan có thẩm quyền phải chờ sự giải thích của văn bản dưới luật như thời gian qua[4]. Ngoài ra, cần thống nhất trong cách hiểu và giải quyết vấn đề của thẩm phán khi giải quyết cho ly hôn, tức là việc đánh giá tình trạng hôn nhân đã mâu thuẫn trầm trọng hay chưa sẽ không phụ thuộc vào cảm nhận, ý chí cá nhân của thẩm phán đối với việc cho hoặc bác đơn ly hôn chưa phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế của vợ chồng.

Thứ tư, ly thân

Chúng tôi rất băn khoăn về vấn đề ly thân được đề cập trong Dự thảo lần này, bởi các lý do sau đây:

(i) Quy định việc ly thân giữa vợ và chồng chưa tiên lượng hết các hậu quả của vấn đề nảy sinh cần giải quyết trong thực tiễn. Vấn đề hiệu lực của ly thân quy định tại Điều 99c Dự thảo đã thống nhất cách hiểu là tuy vợ chồng ly thân nhưng không vì thế mà vợ chồng chấm dứt quan hệ hôn nhân, tức là không bắt buộc họ có nghĩa vụ sống chung với nhau, không cấm đoán họ quan hệ tình cảm vợ chồng. Vấn đề đặt ra ở đây là, kể từ ngày ly thân có hiệu lực pháp luật, họ không chung sống với nhau nhưng giữa họ vẫn có quan hệ và sẽ có con chung, vậy những đứa con này sẽ được pháp luật bảo hộ như thế nào? Câu trả lời vẫn còn bỏ ngỏ. Khoản 2 Điều 99c Dự thảo chỉ điều chỉnh với những đứa trẻ chưa đến tuổi thành niên được sinh ra trước thời kỳ vợ chồng ly thân, còn sau khi đã giải quyết ly thân rồi mà giữa họ có con ra đời thì ai sẽ trực tiếp nuôi đứa con đó, việc cấp dưỡng ra sao và cấp dưỡng đến khi nào, như thế nào, thì lại không được đề cập đến trong Dự thảo. Theo chúng tôi, đây là một khiếm khuyết rất lớn của Dự thảo, nếu không quy định cụ thể hậu quả gây ra cho xã hội là không nhỏ, nhất là trường hợp lợi dụng kẽ hở trong quy định này để trốn tránh nghĩa vụ chung của vợ chồng và quy định ly thân nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em sẽ là điều không tưởng.

(ii) Xét về bản chất thì ly thân là sự thỏa thuận mang tính riêng tư của hai vợ chồng, vì vậy không cần thiết phải có sự can thiệp của Tòa án. Nếu cần giải quyết vấn đề tài sản thì Dự thảo luật đã có quy định về chế độ chia tài sản chung và quyền không nhập tài sản riêng vào tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Nhìn nhận ở góc độ thực tế thì ở Việt Nam, ly thân đã được quy định trong Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883, trong án lệ ở Bắc Kỳ trước năm 1945 và trong pháp luật về gia đình của chế độ cũ ở miền Nam (Luật Gia đình năm 1959, Bộ luật Dân sự năm 1972). Trên thế giới, ly thân chỉ được một số nước thừa nhận như: Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Thụy Điển, Thái Lan, Philippin, Singapore, một số bang của Hoa Kỳ...

Theo chúng tôi, trong bối cảnh hiện nay, không nên bổ sung chế định ly thân, vì trên thực tế từ trước đến nay, người dân vẫn có thể tự giải quyết việc ly thân cho mình và Luật hiện hành không có quy định nào buộc vợ chồng nhất thiết phải sống chung, nên đương nhiên họ có quyền sống riêng mà không cần có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Mặt khác, chế định này không phù hợp với thuần phong mỹ tục của gia đình Việt Nam từ trước tới nay./.



[1] Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, H., năm 2011.

 

[2] Điều 12 Luật HNVGĐ năm 2000.

[3] Điều 4 Luật HNVGĐ năm 2000.

[4] Luật vẫn chưa lý giải được thế nào là tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên khi xử, Hội đồng xét xử phải “cõng” theo hướng dẫn Nghị quyết số 02/2000/NQ - HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để áp dụng: được coi là tình trạng vợ chồng trầm trọng khi: 1/ Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc vợ/chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hòa giải nhiều lần. 2/ Vợ/chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hòa giải nhiều lần. 3/ Vợ/chồng không chung thủy như có quan hệ ngoại tình, đã được chồng/vợ hoặc bà con thân thích hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

 

TS. Hồ Xuân Thắng - Giảng viên trường Đại học Sài Gòn
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Khai mạc Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân