Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ tư, 19/09/2018, 08:13(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá

 

1. Dẫn nhập

Với nhiều lý do khác nhau, con người chủ động hoặc thụ động tiếp nhận vào cơ thể mình nhiều chất gây nguy hiểm cho sức khỏe và tính mạng một cách hồn nhiên trong đó có những chất độc đến từ các loại thuốc lá. Đã từ lâu, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên từng sản phẩm thuốc lá có những lời cảnh báo về tác hại của sản phẩm này, song khói thuốc vẫn có ma lực thu hút con người ở nhiều lứa tuổi (thậm chí cả trẻ em) và nhiều giới, nhiều tầng lớp sử dụng. Các quầy buôn bán thuốc lá xuất hiện ở mọi con phố với nhiều phương thức kinh doanh chào mời con người. Sản xuất thuốc lá cũng đã trở thành ngành công nghiệp phát triển với những doanh nghiệp có quy mô lớn được đặt ở trung tâm của một vài thành phố lớn tại Việt Nam.

Người ta không còn tranh cãi về tác hại của thuốc lá nhưng lại đang bàn luận nhiều đến phương thức để giảm thiểu tác hại của chúng và tranh luận về những giá trị mà ngành công nghiệp sản xuất thuốc lá đem lại cho sự phát triển kinh tế. Khi vấn đề phòng chống tác hại của thuốc lá (PCTHTL) trở thành một vấn đề pháp lý bằng việc soạn thảo Luật PCTHTL (Dự thảo luật), các tranh cãi trên lại được đặt ra.

Nội dung cơ bản của Dự thảo luật giải quyết hai vấn đề là thiết kế các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá và đặt ra các biện pháp để kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá. Hai nhóm nội dung này được giải quyết bằng nhiều quy định thể hiện rõ quan điểm nhất quán của Nhà nước là quyết tâm giảm thiểu tác hại của thuốc lá đối với con người cho dù là chủ động hay thụ động tiếp nhận khói thuốc. Tuy nhiên, Dự thảo luật vẫn còn nhiều vấn đề cần trao đổi liên quan đến hai nhóm biện pháp trên. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chỉ đề cập đến một số nội dung như cơ chế tác động đến nhu cầu sử dụng thuốc là của cộng đồng và các biện pháp kiểm soát nguồn cung thuốc lá.

2. Cơ chế tác động đến nhu cầu sử dụng thuốc lá

Với nhiệm vụ thiết lập cơ chế để giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, Dự thảo luật dự định áp dụng nhiều biện pháp mang tính pháp lý và xã hội như:

- Quy định cấm các hành vi có khả năng phổ biến thuốc lá đến cộng đồng hoặc giới hạn đối tượng có thể sử dụng thuốc lá như cấm quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị thuốc lá dưới mọi hình thức, sử dụng tên, nhãn hiệu và biểu tượng thuốc lá với các sản phẩm, dịch vụ khác; cấm người chưa đủ 18 tuổi sử dụng hoặc bán thuốc lá, sử dụng người chưa đủ 18 tuổi mua, bán thuốc lá, bán, cung cấp thuốc lá cho người chưa đủ 18 tuổi, bán thuốc lá bằng máy bán thuốc lá tự động hoặc bán thuốc lá tại các địa điểm có quy định cấm…. Các quy định này không chỉ giới hạn quyền kinh doanh thuốc lá của các tổ chức, cá nhân kinh doanh mà còn giới hạn đối tượng được sử dụng thuốc lá. Ngoài ra, Dự thảo luật còn quy định một số trách nhiệm đặc biệt của tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá như ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá, không được thực hiện các hoạt động tài trợ dưới bất kỳ hình thức nào, trừ tài trợ vì mục đích nhân đạo….

- Quy định về cơ chế tuyên truyền, phổ biến tác hại của thuốc lá đến cộng đồng. Trong cơ chế này, Dự thảo luật quy định trách nhiệm của nhiều bộ, ngành trong việc phối hợp tuyên truyền tác hại của thuốc lá như Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ủy ban mặt trận Tổ quốc, Ủy ban nhân dân các cấp… Cơ chế này được xây dựng nhằm tác động đến ý thức của xã hội về các tác hại của thuốc lá nhằm tạo lập ý thức của từng người dân, từng gia đình trong việc giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá.

- Quy định cơ chế pháp lý nhằm giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá bằng quy định giới hạn quyền sử dụng thuốc lá của người hút thuốc và xác định quyền của người không hút thuốc lá. Để giới hạn quyền của người hút thuốc, Dự thảo luật quy định những địa điểm bị cấm hút thuốc (như cơ sở y tế, cơ sở giáo dục, cơ sở vui chơi, giải trí dành cho trẻ em…) và những địa điểm phải có nơi dành riêng cho việc hút thuốc (khu vực cách ly của sân bay, các nhà hàng, quán bar…); quy định nghĩa vụ của người hút thuốc và trách nhiệm của người đứng đầu địa điểm cấm hút thuốc. Bên cạnh đó, Dự thảo luật quy định quyền của người không hút thuốc như quyền được sống trong môi trường không có khói thuốc, yêu cầu người hút thuốc không được hút thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm…. Các quy định này không loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng thuốc lá nhưng lại có ý nghĩa trong việc phòng trách tác hại của khói thuốc đối với người không hút thuốc, ngăn chặn tình trạng hấp thụ độc tố của khói thuốc một cách thụ động.

- Áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá. Biện pháp này mang tính kinh tế khi tác động trực tiếp vào lợi ích vật chất của người sử dụng. Theo đó, Dự thảo luật đã đặt ra cơ chế áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá là thuế tiêu thụ đặc biệt đối với thuốc lá phải đảm bảo mục tiêu hạn chế và tiến tới giảm dần sức mua thuốc lá trong từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội và yêu cầu PCTHTL.

Từ những biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá được Dự thảo luật PCTHTL đưa ra, chúng tôi có một số bình luận sau:

Thứ nhất, các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá trên bao gồm tổng hợp nhiều phương thức tác động đến ý thức xã hội về tác hại của thuốc lá và nhu cầu của người hút thuốc. Về cơ bản, các biện pháp này chú trọng đến việc bảo vệ người hút thuốc thụ động bằng cách trao cho họ những quyền cơ bản để tự vệ và đặt ra các nghĩa vụ của người hút thuốc. Bên cạnh đó, Dự thảo luật cũng đưa ra các cơ chế bảo vệ người hút thuốc bằng cách phổ biến tác hại của thuốc lá, giới hạn đối tượng được sử dụng thuốc lá, áp dụng các biện pháp khác để giảm nhu cầu sử dụng cho dù quyền được hút thuốc vẫn được ghi nhận.

Thứ hai, các quy định về các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá đơn giản chỉ là sự tổng hợp những quy định và những biện pháp đang được áp dụng hiện nay trong nhiều văn bản pháp luật và văn bản quản lý nhà nước. Về ý nghĩa, sự tổng hợp trên cho thấy vấn đề PCTHTL không đơn giản là một nội dung quản lý xã hội đơn thuần, mà đang dần trở thành một nội dung pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của cộng đồng. Thay vì các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá đang được quy định và áp dụng thiếu tính hệ thống và đồng bộ, việc ra đời Luật PCTHTL có thể là cơ hội để chúng liên kết sử dụng đồng thời, thống nhất và có sự liên kết, nhằm tạo ra tác động tổng hợp đến cộng đồng và đem lại hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên, ở góc độ khác, chúng tôi cho rằng, Dự thảo luật không có những sáng kiến đột biến hoặc ít nhất là chưa đặt ra những biện pháp trọng tâm cho công tác tác động xã hội nhằm giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá trong cộng đồng. Các quy định trong Dự thảo luật mang tính nguyên tắc và thiếu cơ chế thực thi nên chỉ cho thấy thái độ của Nhà nước trong việc PCTHTL mà chưa thể hiện được quyết tâm bằng những biện pháp cụ thể, quyết liệt và có tính khả thi.

Trong thực tế, các biện pháp tuyên truyền, phổ biến tác hại của khói thuốc vẫn đang được triển khai trên nhiều phương tiện thông tin, truyền thông. Các quy định về cấm phổ biến thuốc lá như cấm quảng cáo, khuyến mại thuốc lá…; cấm người chưa thành niên sử dụng và buôn bán thuốc lá, cấm bán thuốc lá cho người dưới 18 tuổi... đã có trong các văn bản pháp luật nhưng thực tế đang cho thấy điều ngược lại. Thuốc lá vẫn xuất hiện trong các trường học phổ thông. Các quầy bán thuốc  trên mọi ngõ phố vẫn ung dung bán cho người chưa thành niên; và người chưa thành niên vẫn thay cha mẹ bán thuốc lá cho khách hàng và sản phẩm này vẫn được chào bán, giới thiệu trong các nhà hàng, quán ăn một cách chủ động và trực tiếp cho người sử dụng mà không có những biện pháp xử lý kiên quyết của cơ quan có thẩm quyền. Do đó, có thể thấy rằng, vấn đề chúng ta đang gặp phải trong việc PCTHTL không phải là sự thiếu vắng các biện pháp, mà là sự quyết tâm và năng lực thực thi của cơ quan có thẩm quyền. Nếu Dự thảo luật được xây dựng bằng cách hệ thống lại các quy định hiện hành hoặc các biện pháp đã được ban hành mà không có những quy định cụ thể, thì giá trị của Dự thảo luật vẫn chỉ là những quy định mang tính tuyên ngôn, phong trào.

Thứ ba, một số quy định trong Dự thảo luật chỉ đơn giản là lặp lại các quy định trong những văn bản pháp luật khác. Quy định cấm quảng cáo thuốc lá dưới mọi hình thức tại Khoản 4 Điều 7 của Dự thảo luật là sự lặp lại quy định tại Khoản 8 Điều 5 Pháp lệnh Quảng cáo năm 2002 và điểm b Khoản 1 Mục II của Nghị quyết 12/2000/NQ-CP ngày 14/8/2000 của Chính phủ về Chính sách quốc gia PCTHTL trong giai đoạn 2000-20101. Rà soát các quy định hiện hành về cấm quảng cáo, tiếp thị thuốc lá, chúng tôi nhận thấy rằng, pháp luật đã có những quy định khá chi tiết và rõ ràng về nhận dạng các hành vi bị cấm. Theo đó, Thông tư số 19/2005/TT-BVTT của Bộ Văn hóa và Thông tin ngày 12/5/2005 quy định cấm mọi hành vi quảng cáo thuốc lá và cấm tổ chức các hoạt động tiếp thị, kể cả việc sử dụng hệ thống tiếp viên để chào hàng, in nhãn, mác quảng cáo trên các phương tiện vận chuyển. Các hành vi quảng cáo thuốc lá bị cấm bao gồm:

- Thể hiện trên phương tiện quảng cáo một phần tên, nhãn hiệu, biểu tượng sản phẩm đủ để công chúng nhận biết đó là tên, nhãn hiệu, biểu tượng một loại sản phẩm thuốc lá.

- Thể hiện trên các phương tiện quảng cáo thông tin về sản phẩm thuốc lá, về các cuộc thi tìm hiểu sản phẩm thuốc lá.

- Thể hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng và thể lệ, kết quả chương trình khuyến mại sản phẩm thuốc lá.

- Trong các hoạt động văn hoá nghệ thuật, thể thao, vui chơi giải trí hoặc các hoạt động xã hội khác có đông người tham gia do các công ty thuốc lá tài trợ có thể hiện tên, nhãn hiệu, biểu tượng nhãn hiệu thuốc lá.

- Phát tán đến công chúng các thông báo khuyến mãi sản phẩm thuốc lá.

- Thông báo khuyến mãi sản phẩm thuốc lá bằng pa-nô, áp phích có diện tích quá 0,5m2, quá một pa-nô hoặc áp phích, hoặc cả pa-nô và áp phích tại một địa điểm bán thuốc lá.

- Tại địa điểm bán thuốc lá trưng bày quá một bao/gói (20 điếu) hoặc trưng bày quá một tút/hộp (200 điếu) của một nhãn hiệu thuốc lá.

- Sử dụng người chủ động, trực tiếp mời chào công chúng, tham gia các cuộc thi, trò chơi liên quan đến sản phẩm thuốc lá.

- Sử dụng người mang tên, nhãn hiệu, biểu tượng sản phẩm thuốc lá hoặc mặc đồng phục thể hiện biểu tượng sản phẩm thuốc lá đi lưu động ngoài đường, khu dân cư hoặc nơi tập trung đông người.

- Các hình thức khác làm cho công chúng biết đến hoặc chú ý đến sản phẩm thuốc lá.

Quy định cấm hoạt động quảng cáo, tiếp thị thuốc lá nhằm hạn chế việc phổ biến sản phẩm này đến cộng đồng. Tuy nhiên, trên thực tế, hành vi vi phạm về quảng cáo, tiếp thị thuốc lá vẫn diễn ra phổ biến cho dù các phương tiện truyền thông đã có những cảnh báo về tình trạng này.

Box 1

Khảo sát của Bộ môn Sức khỏe Môi trường, Trường Đại học Y tế Công cộng cho thấy, thực trạng vi phạm quy định cấm quảng cáo và khuyến mại thuốc lá diễn ra phổ biến (chiếm 95%). Nhiều quán cà phê, giải khát vẫn quảng cáo thuốc lá, nhiều băng rôn khẩu hiệu in tên nhà tài trợ là hãng thuốc lá. Chẳng hạn, quán Cafe Caraven ở TP Hồ Chí Minh,, uống cafe được hút thuốc Caraven miễn phí. Tại Hà Nội, buổi biểu diễn nghệ thuật mang tên “Màu xanh lộng lẫy” với dòng quảng cáo: “Blue Sparkling Smooth” quảng cáo cho nhãn hiệu thuốc lá Mild Seven. Hay giải đua xe ô tô do Công ty Phillip Morris tài trợ năm 2009, trên xe đua, mũ của người lái có gắn tên thuốc lá Marlboro. Thậm chí có cả một công ty thuốc lá tài trợ cho đội bóng Khánh Hòa, đã vi phạm quy định cấm tài trợ theo Công ước khung về Kiểm soát thuốc lá của Tổ chức Y tế thế giới. Cán bộ Thanh tra Văn hóa tỉnh Khánh Hòa cho rằng: “Đội bóng Khánh Hòa là đội bóng Khatoco thì người ta biết Khatoco là tập đoàn Khánh Việt, người ta cũng hiểu bản thân nó là thuốc lá mà ra, nguồn thu chính là thuốc lá. Họ có lách gì đâu, cứ công khai là Tổng công ty Khánh Việt tài trợ cho”2.

Tình trạng vi phạm về quảng cáo thuốc lá không giảm trong năm 2011 cho dù mức xử phạt đã tăng lên 1,5 đến 2 lần. Đây là kết quả điều tra được thực hiện trên 1.500 điểm bán thuốc lá tại 10 tỉnh, thành trên cả nước vào tháng 4/2011, được đưa ra tại hội thảo về tăng cường thực thi quy định cấm quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá được tổ chức gần đây tại Hà Nội. Cũng theo đó, cửa hàng tạp hóa và xe đẩy là các điểm bán có hoạt động quảng cáo và khuyến mại thuốc lá rầm rộ nhất. Có đến hơn 90% các điểm bán vi phạm quy định về trưng bày quá số lượng thuốc, và khoảng hơn 1/3 vẫn bán các loại bao có gói nhỏ 20 điếu (trái với quy định). Thạc sĩ Lê Thị Thanh Hương, Đại học Y tế Công cộng cho biết, các kết quả khảo sát trong 3 năm gần đây cho thấy, tình trạng vi phạm quảng cáo, khuyến mại thuốc lá ngày càng gia tăng. Điều đáng nói là ngay cả khi mức xử phạt vi phạm được tăng lên từ 6 tháng nay, nhưng vi phạm không những không giảm bớt mà còn tăng lên3.

Như vậy, vấn đề của việc cấm hoạt động quảng cáo, tiếp thị thuốc lá không phải từ sự khiếm khuyết hay thiếu vắng các quy định của pháp luật mà là cơ chế thực thi, đặc biệt là quyết tâm của các cơ quan thi hành pháp luật. Chúng ta đã có đầy đủ các quy định cần thiết và biện pháp pháp lý để xử lý tổ chức, cá nhân quảng cáo, tiếp thị thuốc lá. Các quy định về hành vi bị cấm đã bao trùm được mọi biến tướng của hành vi quảng cáo, tiếp thị sản phẩm này trên thực tế. Dường như chưa xuất hiện những hành vi quảng cáo, tiếp thị mới nằm ngoài phạm vi liệt kê của pháp luật. Do đó, hiệu quả của công tác này hoàn toàn không do hiện trạng pháp luật, mà do năng lực và quyết tâm của cơ quan, cán bộ có thẩm quyền xử lý.

Từ việc khảo sát các quy định hiện hành và thực trạng vi phạm quy định cấm quảng cáo thuốc lá, chúng tôi cho rằng, quy định cấm quảng cáo, tiếp thị thuốc lá trong Dự thảo luật PCTHTL chỉ là kết quả của việc luật hóa các quy định hiện nay. Dự thảo luật chưa cho thấy sự thay đổi về thái độ của Nhà nước trong việc xử lý những hành vi trên bằng cơ chế thực thi kiên quyết và mạnh mẽ hơn. Nếu chỉ liệt kê tên gọi của hành vi này trong nhóm các hành vi bị cấm, việc thực thi đạo luật này sẽ lại rơi vào vòng luẩn quẩn của các quy định hiện nay và một kết quả không mấy sáng sủa sẽ lại xảy ra, làm suy giảm niềm tin của người dân vào hiệu quả của pháp luật cũng như năng lực của cơ quan pháp luật. Do đó, vấn đề cần giải quyết để nâng cao hiệu quả thực thi của Dự thảo luật này trong tương lai là cần làm rõ cơ chế thực thi bằng cách giao trách nhiệm và xác định trách nhiệm cụ thể cho cơ quan quản lý về quảng cáo, cơ quan quản lý thị trường trong việc xử lý các hành vi bị cấm nói chung và hành vi quảng cáo, tiếp thị thuốc lá nói riêng. Trách nhiệm này phải được xác định cụ thể trong Dự thảo luật và phải có chế tài cụ thể cho người quản lý, lãnh đạo các cơ quan này nếu không thực thi hiệu quả pháp luật.

3. Các quy định về biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá

Cơ chế kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá được xây dựng trên nguyên tắc pháp luật không cấm mà quy định kinh doanh thuốc lá là ngành nghề hạn chế kinh doanh. Theo đó, tổ chức, cá nhân buôn bán, chế biến, nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá, sản xuất, mua bán, nhập khẩu thuốc lá phải có giấy phép do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Các biện pháp kiểm soát nguồn cung cấp thuốc lá tập trung vào hai nhóm sản phẩm sau:

Thứ nhất, với hoạt động kinh doanh thuốc lá hợp pháp, Dự thảo luật sử dụng các biện pháp quản lý truyền thống đối với hoạt động kinh doanh để kiểm soát nguồn cung thuốc lá bao gồm:

- Đặt ra cơ chế cấp phép kinh doanh đối với hoạt động sản xuất, mua bán, nhập khẩu nguyên liệu thuốc lá và thuốc lá thành phẩm: Biện pháp quản lý này không mới so với các quy định hiện hành về kinh doanh thuốc lá. Nghị định 12/2007/NĐ-CP ngày 18/7/2007 của Chính phủ về sản xuất, kinh doanh thuốc lá quy định sản xuất kinh doanh thuốc lá là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, thuốc lá là sản phẩm hạn chế kinh doanh. Một trong những biện pháp hạn chế kinh doanh sản phẩm thuốc lá là tổ chức, cá nhân kinh doanh phải có giấy phép kinh doanh do cơ quan có thẩm quyền cấp. Cơ chế cấp phép kinh doanh là công cụ để Nhà nước có thể kiểm soát lượng doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh thuốc lá để từ đó gián tiếp kiểm soát lượng cung sản phẩm này trên thị trường.

- Quy hoạch kinh doanh thuốc lá, giới hạn quy mô đầu tư và kiểm soát đầu tư nước ngoài đối với các dự án đầu tư nước ngoài: Dự thảo luật quy định trách nhiệm xây dựng quy hoạch kinh doanh thuốc lá cho Bộ Công thương phối hợp với các bộ ngành khác để trình Thủ tướng phê duyệt. Việc đầu tư sản xuất thuốc lá phải phù hợp với quy hoạch đã phê duyệt và quy mô đầu tư không vượt quá tổng sản lượng được phép sản xuất của toàn ngành thuốc lá trước ngày đạo luật này có hiệu lực. Các biện pháp trên về cơ bản giúp Nhà nước kiểm soát và khống chế sự tăng trưởng của nguồn cung thuốc lá. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận kinh doanh thuốc là như một thị trường cạnh tranh giữa nhiều nguồn hàng hóa thì việc khống chế quy mô sản xuất và quy mô đầu tư theo sản lượng có thể dẫn đến việc thay đổi nguồn cung từ nguồn thuốc lá sản xuất trong nước sang nguồn nhập khẩu, thậm chí là nguồn nhập lậu. Với nguồn sản phẩm sản xuất trong nước, chúng ta có thể kiểm soát về sản lượng và chất lượng (kiểm soát nguồn độc tố của thuốc là từ các quy định về hàm lượng, về thành phần của sản phẩm). Với sản phẩm thuốc lá nhập khẩu chính ngạch, chúng ta cũng có thể kiểm soát được sản lượng và chất lượng bằng các biện pháp tương tự như sản phẩm trong nước. Nhưng với sản phẩm nhập lậu, một khi biện pháp chống hàng hóa nhập lậu chưa được thực thi hiệu quả thì việc hạn chế sản lượng trong nước bằng các cách thức trên có thể sẽ là nguyên nhân thúc đầy sự tăng trưởng của nguồn cung cấp này, trong khi cơ quan có thẩm quyền khó kiểm soát được chất lượng của thuốc lá nhập lậu.

- Kiểm soát sản lượng thuốc lá tiêu thụ trong nước bằng các biện pháp quản lý sản lượng sản xuất trong nước, quản lý nguyên liệu sản xuất, nguồn gốc, sự dịch chuyển và tính hợp pháp của thuốc lá: Dự thảo luật đã trao trách nhiệm cho Bộ Công thương công bố công khai sản lượng được sản xuất và nhập khẩu thuốc lá của từng doanh nghiệp phù hợp với năng lực sản xuất của từng doanh nghiệp và nhu cầu của thị trường.

Thứ hai, đối với nguồn thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả, Dự thảo luật thể hiện thái độ nghiêm khắc bằng quy định cấm sản xuất, buôn bán, nhập khẩu, tàng trữ, vận chuyển thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả. Các biện pháp phòng chống thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả cũng là những biện pháp truyền thống như tuyên truyền vận động để nâng cao ý thức người dân không tham gia kinh doanh thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả; định kỳ kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm các hành vi kinh doanh thuốc lá giả, thuốc lá nhập lậu; tiêu hủy thuốc lá nhập lậu, thuốc lá giả4.

Khảo sát các quy định trong Dự thảo luật về các biện pháp kiểm soát nguồn cung thuốc lá, chúng tôi cho rằng:

Một là, tương tự như các quy định về biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, các quy định về biện pháp kiểm soát nguồn cung được đưa ra trong Dự thảo luật không có những đột phá mà chỉ là hệ thống lại những giải pháp đã và đang được áp dụng hiện nay. Nội dung đáng được đánh giá cao là Dự thảo luật xác định và giao trách nhiệm một cách rõ ràng cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc chủ trì hoặc phối hợp phụ trách thực hiện các giải pháp trên.

Hai là, các quy định trong Dự thảo luật chủ yếu chỉ gọi tên và xác định những nội dung cơ bản của từng biện pháp được áp dụng. Vì thế, hiệu quả thực thi của chúng hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng của các văn bản hướng dẫn và khả năng thi hành của cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, chúng ta rất khó có thể phán đoán về giá trị của từng biện pháp khi chưa thể hình dung được mức độ và nội dung cụ thể của từng biện pháp được áp dụng trên thực tế. 

Ba là, kiểm soát sản lượng thuốc lá được sản xuất và nhập khẩu có thể được đánh giá là một trong những biện pháp cơ bản để giới hạn nguồn cung thuốc lá đến cộng đồng. Tuy nhiên, bàn về giá trị của biện pháp này và câu chữ trong Khoản 2 Điều 22 của Dự thảo luật, chúng tôi cho rằng: (i) Biện pháp này chắc chắn sẽ làm dịch chuyển nguồn cung thuốc lá nếu nhu cầu của xã hội không giảm (tình huống xấu hơn là nhu cầu gia tăng). Vì vậy, biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả khi chúng được đặt trong sự phối hợp thực thi thật hiệu quả các biện pháp khác như các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng, các biện pháp chống nhập lậu thuốc lá. Một khi chúng ta còn hoài nghi về khả năng thực thi triệt để các biện pháp chống nhập lậu, các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thì chắc chắn không thể tin tưởng về giá trị thực tiễn của biện pháp này. Trong khi đó, các quy định về chống nhập lậu… trong Dự thảo luật chỉ cho thấy quan điểm mang tính nguyên tắc của Nhà nước về công tác này, mà chưa thể hiện thái độ quyết liệt bằng việc xác định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm của những cơ quan có thẩm quyền khi không thực hiện hiệu quả, triệt để nhiệm vụ của mình, chưa định hình được sự nghiêm khắc của pháp luật đối với những tổ chức, cá nhân kinh doanh thuốc lá nhập lậu. (ii) Khoản 2 Điều 22 Dự thảo luật đặt ra nguyên tắc để Bộ Công thương xác định sản lượng thuốc lá được sản xuất, nhập khẩu là năng lực kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu của xã hội. Với nguyên tắc này, cơ chế kiểm soát sản lượng được thực hiện theo đúng quy luật cung - cầu của thị trường mà chưa phải là biện pháp kiểm soát nguồn cung theo tinh thần giảm nguồn cung để khống chế lượng cầu. Dĩ nhiên, nếu chúng ta giảm nguồn cung trong khi lượng cầu không giảm có thể tạo ra những diễn biến xấu về giá thị trường của sản phẩm này. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, một khi nhiệm vụ giảm tác hại của thuốc lá là nhiệm vụ cốt tử của đạo luật này thì diễn biến xấu về giá cũng có thể là một biện pháp kinh tế hữu hiệu làm giảm nhu cầu sử dụng của người dân đối với thuốc lá - một sản phẩm độc hại cho người sử dụng và cho xã hội. Mặt khác, nếu đã có ý định xây dựng quy hoạch sản xuất, kinh doanh thuốc lá - một biện pháp can thiệp sâu vào thị trường, thì việc áp đặt một sản lượng thuốc lá sản xuất, nhập khẩu theo định kỳ hoặc theo niên kỳ (không thỏa mãn nhu cầu) là điều cần thiết. Một khi cơ chế kiểm soát sản lượng vẫn được áp dụng theo nhu cầu của thị trường thì sự thỏa mãn của nhu cầu sẽ làm vô hiệu toàn bộ quy hoạch kinh doanh thuốc lá và các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng của cộng đồng.

4. Kết luận

Nếu Dự thảo luật PCTHTL được ban hành chỉ để thể hiện quan điểm của Nhà nước về các tác hại của thuốc lá đối với cộng đồng hoặc là thống nhất các biện pháp riêng lẻ đang được áp dụng để giảm nhu cầu và quy hoạch hoạt động kinh doanh thuốc lá, thì các quy định trong Dự thảo luật này đã đủ để đạt được các mục đích trên. Nhưng nếu nhiệm vụ giảm tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe và cuộc sống của cộng đồng thật sự là nhu cầu cần thiết hiện nay thì có lẽ, nội dung của Dự thảo luật chưa cho thấy quyết tâm thực hiện nhiệm vụ này. Chúng tôi cho rằng, nội dung của Dự thảo luật còn những nhược điểm lớn như:  

- Chưa có những đột biến trong các biện pháp được đưa ra để giảm nhu cầu sử dụng và kiểm soát nguồn cung thuốc lá, chưa xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan thực thi khi không hoàn thành nhiệm vụ kiểm soát nguồn cung thuốc lá.

- Chưa định hình được những biện pháp cơ bản, then chốt và có tính quyết định hoặc chưa xác định phương pháp và mức độ phối hợp giữa các biện pháp được đưa ra khi không chỉ định được biện pháp then chốt.

- Các biện pháp kiểm soát nguồn cung thuốc lá mang nặng tính hành chính - kinh tế mà chưa chú trọng nghiên cứu và xây dựng các biện pháp kiểm soát mang tính kinh tế đối với hoạt động kinh doanh đặc thù này. Biện pháp kiểm soát mang tính kinh tế là các biện pháp hướng đến các giá trị kinh tế để giảm tính hấp dẫn của ngành nghề kinh doanh trước nhu cầu lợi nhuận của tổ chức, cá nhân kinh doanh.

Từ những phân tích trên, chúng tôi cho rằng, để đạo luật này thực sự có giá trị và phát huy tác dụng đối với thực tiễn, Ban soạn thảo cần làm rõ và cần thay đổi những nội dung sau:

Thứ nhất, với các biện pháp làm giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, biện pháp làm giảm lợi ích của người sử dụng như các loại thuế, phí cần được nếu rõ hơn nữa trong Dự thảo luật; cần xác định rõ biện pháp xử lý nghiêm khắc với các hành vi phổ biến thuốc lá. Trước tình trạng vi phạm các điều cấm về phổ biến thuốc lá đang tràn lan, xã hội không chỉ đòi hỏi cơ quan có thẩm quyền phải nâng cao hơn nữa trách nhiệm thực thi pháp luật mà còn đòi hỏi pháp luật thể hiện rõ tính nghiêm khắc của mình bằng việc xử lý mạnh mẽ hơn đối với doanh nghiệp kinh doanh thuốc lá có hành vi vi phạm và những tổ chức, cá nhân khác đã phối hợp và cho phép hành vi vi phạm diễn ra trong khu vực kinh doanh của mình (ví dụ thu hồi giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp vi phạm).

Thứ hai, cần đẩy mạnh hơn nữa các biện pháp chống kinh doanh thuốc lá nhập lậu và cần thể hiện rõ các biện pháp xử lý nghiêm khắc với hành vi này trong Dự thảo luật. Dự thảo luật không nên chỉ nêu ra các hành vi bị cấm và giao phó cho các văn bản hướng dẫn quy định chi tiết. Trước bối cảnh hoạt động kinh doanh thuốc là vẫn đang diễn ra phổ biến và các quy định trong nhiều văn bản về quản lý nhập khẩu, về kinh doanh thuốc lá (văn bản dưới luật) còn bị vi phạm ngang nhiên, thì việc quy định rõ các biện pháp xử lý người vi phạm và trách nhiệm của cơ quan thực thi đối với việc không hoàn thành nhiệm vụ là cần thiết. Việc quy định cụ thể không chỉ thể hiện thái độ quyết tâm của Nhà nước mà còn định hướng chi tiết hơn cho các văn bản hướng dẫn chi tiết luật và công tác thực thi hiệu quả.

Thứ ba, quy định về việc giao sản lượng cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc lá cần được xây dựng theo quy hoạch kinh doanh thuốc lá. Chúng tôi cho rằng, không thể thực hiện việc giao sản lượng theo nhu cầu thị trường mà phải từ công tác kiểm soát nguồn cung thuốc lá bằng quy hoạch về sản lượng sản xuất và kinh doanh.

Thứ tư, cần nghiên cứu khả năng áp dụng các biện pháp kiểm soát mang tính kinh tế đối với nguồn cung thuốc lá như áp dụng các loại phí (ví dụ phí môi trường, trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc đóng góp cho quỹ PCTHTL…) để không chỉ làm giảm đi tính hấp dẫn của thị trường (giảm nguồn đầu tư) mà còn xây dựng cơ sở tài chính, vật chất cho việc thực thi các công tác xã hội trong việc PCTHTL.

 

[1] Điểm b Khoản 1 Mục II của Nghị quyết 12/2000/NQ-CP quy định “cấm quảng cáo thuốc lá dưới mọi hình thức, kể cả việc sử dụng tên, nhãn hiệu và biểu tượng của các sản phẩm thuốc lá với các sản phẩm và các dịch vụ không liên quan đến thuốc lá”.

2 Nhật Nguyên, “Quảng cáo thuốc lá trá hình của Nhật Nguyên, nguồn: http://www.tinmoi.vn/Quang-cao-thuoc-la-tra-hinh-03151346.html. Truy cập ngày 18/02/2012.

3 Phương Trang , Tăng mức phạt vẫn không hạn chế được quảng cáo thuốc lá, nguồn: http://vnexpress.net/gl/doi-song/2011/12/tang-muc-phat-van-khong-han-che-duoc-quang-cao-thuoc-la/. Truy cập   ngày 18/2/2012.

4Khoản 1 Điều 7 và Điều 26 Dự thảo Luật PCTHTL.

TS. Nguyễn Ngọc Sơn - Đại học Kinh tế - Luật, Đại học quốc gia TP. Hồ Chí Minh.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Hoàn thiện các quy định của Luật Thuơng mại năm 2005 để đảm bảo sự thống nhất với Bộ Luật Dân sự năm 2015

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Vai trò của Quốc hội trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật nhằm mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc

Quyền được tiếp cận thông tin và quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng tư

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Một số vấn đề về thời điểm đặc xá

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân