Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ bảy, 20/10/2018, 14:00(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Giao quyền tự chủ, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học và nâng cao chất lượng giảng viên

Tờ trình về Dự án Luật Giáo dục đại học (GDĐH) số 201/TTr-CP ngày 13/10/2011 của Chính phủ nêu mục đích của việc ban hành Luật GDĐH là để thể chế hóa các nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI1, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc đổi mới quản lý nhà nước về GDĐH và đổi mới quản lý của cơ sở giáo dục, nâng cao chất lượng GDĐH. Hai mục đích tiếp theo của việc ban hành Luật GDĐH, đồng thời cũng chính là biện pháp trọng tâm để đổi mới quản lý nhà nước về GDĐH, nâng cao chất lượng GDĐH là: đẩy mạnh phân cấp quản lý GDĐH và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với cơ sở GDĐH phù hợp với năng lực quản lý, năng lực tổ chức hoạt động giáo dục và trách nhiệm xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa GDĐH, huy động nguồn đầu tư của xã hội đối với GDĐH.

Bài viết đưa ra một số đánh giá về mức độ đáp ứng yêu cầu đặt ra và đưa ra một số đề xuất  đóng góp cho Dự thảo Luật GDĐH nhằm thực hiện mục đích giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với cơ sở GDĐH, đẩy mạnh xã hội hóa GDĐH và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.

1. Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với cơ sở giáo dục đại học

Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với cơ sở GDĐH được coi là tư tưởng xuyên suốt của Dự án Luật GDĐH. Dự thảo Luật GDĐH ngày 15/3/20122 dành riêng Điều 30 quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở GDĐH: “1. Cơ sở giáo dục đại học tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các hoạt động chủ yếu trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học quy định cụ thể tại các điều 12, 13, 14, 15, 16, 17, 183, 26, 27, 28, 294, 32, 33, 34, 35, 365, 39, 42, 43, 44, 45, 47, 496, 64, 657 của Luật này.

Cơ sở giáo dục đại học được tự chủ trong những hoạt động khác phù hợp với tính chất, vai trò, nhiệm vụ cũng như năng lực thực hiện quyền tự chủ và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục của nhà trường”

Trong các nội hàm của quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm8, chúng tôi thấy nổi cộm nhất là các vấn đề liên quan đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động đào tạo và tài chính. Các nội dung của hoạt động đào tạo của cơ sở GDĐH như mở ngành và chuyên ngành đào tạo; tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh; thời gian, chương trình và giáo trình GDĐH; văn bằng GDĐH đã được đề cập9 nhưng chưa được làm rõ mức độ và thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở GDĐH như thế nào.

Quy định tại Điều 30 Dự thảo Luật ngày 15/3/2012 như vậy là khá chung chung và đã bỏ mất những căn cứ, điều kiện được liệt kê ở Điều 28 Dự thảo Luật ngày 12.10.2011 có quy định cụ thể mà theo chúng tôi nên bổ sung: “Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải phù hợp với các điều kiện sau đây của cơ sở GDĐH: a) Vị trí, vai trò, nhiệm vụ; b) Năng lực thực hiện quyền tự chủ; c) Cam kết trách nhiệm khi thực hiện quyền tự chủ; d) Kết quả kiểm định chất lượng GDĐH” (khoản 2) và “Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan ngang bộ có liên quan quy định cụ thể quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở GDĐH về: a) Điều kiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm; b) Mức độ thực hiện tự chủ, tự chịu trách nhiệm; c) Việc thu hồi quyền tự chủ trong thực hiện nhiệm vụ; d) Xử lý các hành vi vi phạm” (Khoản 4), ”Chính phủ quy định quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của Đại học Quốc gia”.

Mặc dù quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải là thuộc tính cơ bản của cơ sở GDĐH và là yêu cầu khách quan, tất yếu và phù hợp với xu thế phát triển của GDĐH hiện nay, nhưng nếu chưa được đánh giá về các điều kiện và chưa có quy định hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Chính phủ thì quyền này sẽ chỉ là trên giấy và chưa thể thực hiện trên thực tế.

Dự thảo Luật ngày 15/3/2012 đã quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 32: “Cơ sở GDĐH tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh và chịu trách nhiệm công bố công khai chỉ tiêu tuyển sinh, chất lượng đào tạo và các điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo của cơ sở GDĐH” nhằm tăng cường trách nhiệm của cơ sở GDĐH trong việc bảo đảm tương quan giữa phát triển quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo; đồng thời giao cho cơ sở GDĐH “tự chủ quyết định phương thức tuyển sinh và chịu trách nhiệm về công tác tuyển sinh” (điểm b, khoản 2 Điều 32). Rõ ràng nếu không có hướng dẫn cụ thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì cơ sở GDĐH rất khó có thể thực hiện quyền tự chủ này.

Theo chúng tôi, Dự thảo Luật có thể đưa ra ngay các nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm dựa trên danh xưng, tên gọi của cơ sở GDĐH trong hệ thống giáo dục quốc dân, ví dụ như “Đại học, đại học quốc gia và trường đại học trọng điểm được tự chủ hoàn toàn và tự chịu trách nhiệm trong mở ngành và chuyên ngành đào tạo; tuyển sinh và tổ chức tuyển sinh; thời gian, chương trình và giáo trình GDĐH” và “Trường đại học, học viện được tự chủ và tự chịu trách nhiệm trong mở chuyên ngành đào tạo, tổ chức tuyển sinh; thời gian, chương trình và giáo trình GDĐH”10. Đưa ra nguyên tắc như vậy phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 7 Dự thảo Luật ngày 15/3/2012: “Cơ sở giáo dục đại học được phân tầng theo chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Chính phủ quy định cụ thể tiêu chí phân tầng cơ sở giáo dục đại học và ban hành chính sách đầu tư, giao nhiệm vụ và quyền tự chủ phù hợp với vị trí, vai trò và năng lực bảo đảm chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục đại học”.

Dự thảo Luật đã quy định tại khoản 3 Điều 63: “3. Cơ sở GDĐH công lập được quyền chủ động xây dựng và quyết định mức thu học phí, lệ phí tuyển sinh nằm trong khung học phí, lệ phí tuyển sinh do Chính phủ quy định” với lời giải thích là việc khống chế mức thu học phí của các cơ sở GDĐH công lập nhằm bảo đảm thực hiện công bằng xã hội, giúp cho người học trong các gia đình nghèo, người học thuộc các đối tượng chính sách xã hội, đối tượng ở vùng sâu, vùng xa có thu nhập thấp có cơ hội tiếp cận với giáo dục ở trình độ cao11. Tuy nhiên, nếu thực hiện hoàn toàn theo nguyên tắc này sẽ khó để bảo đảm mục tiêu nâng cao chất lượng GDĐH và bảo đảm nguyên tắc học phí phải đủ bù đắp đủ chi phí đào tạo cần thiết cho người học vì cơ sở GDĐH công lập có thể sẽ có những chương trình chất lượng cao, chương trình đào tạo đặc biệt theo yêu cầu của xã hội. Bởi vậy, chúng tôi hoàn toàn nhất trí với việc bổ sung chỉnh lý khoản 6 Điều 63 Dự thảo Luật: “Cơ sở GDĐH thực hiện chương trình đào tạo chất lượng cao, chương trình đào tạo đặc biệt theo nhu cầu của xã hội được chủ động xác định mức thu học phí tương xứng với chất lượng đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định tiêu chí xác định chương trình đào tạo chất lượng cao, chương trình đào tạo đặc biệt theo nhu cầu của xã hội; có trách nhiệm quản lý, kiểm soát mức thu học phí tương xứng với chất lượng đào tạo”, qua đây thể hiện một phần quyền tự chủ về tài chính của cơ sở GDĐH.

Quy định Hội đồng trường là thiết chế bắt buộc trong các cơ sở GDĐH có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm là cần thiết và có thể bổ sung Điều 14 Dự thảo Luật nội dung thể hiện tính bắt buộc của quy định này, thời hạn các cơ sở GDĐH phải thành lập Hội đồng trường.

2. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học

Để đẩy mạnh xã hội hóa GDĐH, huy động nguồn đầu tư của xã hội đối với GDĐH, theo chúng tôi, trong Dự thảo Luật GDĐH cần đưa ra các quy định xác định rõ địa vị pháp lý của cơ sở GDĐH tư thục12. Ở đây có thể thấy cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài không thể chỉ hoạt động không vì lợi nhuận (vì rõ ràng đây là một hình thức đầu tư) và có thể xếp chung các cơ sở này vào nhóm cơ sở GDĐH tư thục.

Chúng tôi cũng đồng tình với quan điểm cho rằng, trong Dự thảo Luật GDĐH cần có quy định rõ về cơ sở GDĐH tư thục vì lợi nhuận và cơ sở GDĐH tư thục không vì lợi nhuận. Rất tiếc là ở Việt Nam hiện nay chưa có khung pháp lý về các hoạt động không vì lợi nhuận và các nhà soạn thảo luật đã đưa ra giải thích từ ngữ tại khoản 7 Điều 6 Dự thảo Luật 15/3/2012: “Cơ sở GDĐH tư thục và cơ sở GDĐH có vốn đầu tư nước ngoài được xác định là hoạt động không vì lợi nhuận nếu các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn không hưởng lợi tức hoặc hưởng lợi tức hằng năm không vượt quá lãi suất huy động tiền gửi bình quân do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố”.

Về quản lý tài chính của cơ sở GDĐH, tại Điều 64 Dự thảo Luật ngày 15/3/2012 có đề xuất quy định: “Cơ sở giáo dục đại học tư thục dành tối thiểu 20% doanh thu của nhà trường và được miễn thuế phần này theo quy định của pháp luật về thuế để tái đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị.

Phần đầu tư cho hoạt động giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên, viên chức, cán bộ quản lý giáo dục, phục vụ cho hoạt động học tập và sinh hoạt của người học hoặc cho các mục đích từ thiện, thực hiện trách nhiệm xã hội thì được miễn thuế theo quy định của pháp luật về thuế. Phần phân phối cho nhà đầu tư và người lao động thì phải nộp thuế theo quy định của pháp luật về thuế”. Theo chúng tôi, quy định như vậy rất khó xác định và thực hiện cũng như kiểm tra giám  sát trong thực tiễn.

Tham khảo kinh nghiệm của GDĐH Hoa Kỳ có thể thấy, các trường đại học tư ở Hoa Kỳ đa phần là các tổ chức vô vị lợi. Tuy nhiên, sự vô vị lợi của các trường không phải dựa trên cơ sở đơn thuần như việc đăng ký mục đích thành lập hay dựa trên cơ sở sứ mệnh của trường, mà các trường đại học tư sẽ chịu sự kiểm tra chặt chẽ của sở thuế và luật pháp. Khi hội đủ điều kiện về quá trình hoạt động và được pháp luật chứng nhận là công ty vô vị lợi thì các trường đại học tư thục Hoa Kỳ lúc bấy giờ mới được xem là tổ chức vô vị lợi.

Các trường đại học tư vô vị lợi (ở Hoa Kỳ thường gọi là các công ty vô vị lợi) không phải trả thuế doanh thu trên học phí thu được và không trả thuế trên lợi nhuận công ty. Vì số lợi nhuận này của công ty được giữ lại để đầu tư phát triển cơ sở vật chất, trang thiết bị học tập… của trường và cũng vì trường không có cổ đông góp vốn hưởng cổ tức. Tài sản của trường thuộc sở hữu của chính nhà trường. Ngoài ra, lợi ích lớn mà các công ty vô vị lợi này mang lại là việc pháp luật của Hoa Kỳ cho phép những chủ thể đóng góp vào công ty vô vị lợi được trừ phần đóng góp khỏi thu nhập chịu thuế.

Đối với các cá nhân, họ sẽ được miễn thuế thu nhập cá nhân trên số tiền đóng góp tương ứng vào các trường tư vô vị lợi. Với các doanh nghiệp, chính sách miễn thuế cho những doanh nghiệp đối với phần lợi nhuận mà họ sử dụng để tài trợ cho các trường đại học, đặc biệt là trường đại học tư vô vị lợi chính là một khoản trợ cấp ngầm của Nhà nước cho các trường đại học; đồng thời cũng là biện pháp để Nhà nước khuyến khích phát triển loại tài trợ này13.

Như vậy, theo chúng tôi, có thể bổ sung thêm vào Dự thảo Luật GDĐH nguyên tắc xác định cơ sở GDĐH vì lợi nhuận hay không vì lợi nhuận căn cứ vào kết quả kiểm toán. Đồng thời để huy động nguồn đóng góp của xã hội đối với GDĐH, trong Dự thảo Luật GDĐH cần khẳng định nguyên tắc “Tài trợ của các cá nhân, doanh nghiệp trong nước cho các cơ sở GDĐH hợp lý, hợp lệ sẽ được tính như khoản chi để trừ khi tính thuế thu nhập”.  

3. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên

 Mô hình GDĐH Việt Nam đang chuyển dần từ mô hình theo kiểu của Liên Xô trước đây, có thể hướng tới mô hình của Mỹ và tham khảo thêm mô hình GDĐH của Hàn Quốc14. GDĐH Việt Nam phải được đổi mới theo một mô hình nhất quán, tiên tiến trong đó đặt trung tâm là người học, chú ý đầu tư cho người dạy và cơ chế quản lý GDĐH, nhà trường có trách nhiệm tạo dựng môi trường thuận lợi nhất cho hoạt động dạy và học.

Theo chúng tôi, khâu đột phá ở đây chính là thu hút nhân lực và nhân tài với ba vấn đề liên quan là cơ chế quản lý, chi phí và bảo đảm đời sống cho người làm giáo dục. Đặc biệt, cần phải có chính sách cụ thể để đãi ngộ, thu hút và “giữ chân” nhân tài cho GDĐH15. 

Để đổi mới căn bản, toàn diện nền GDĐH Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với cơ sở GDĐH, đẩy mạnh xã hội hóa GDĐH chưa đủ mà vấn đề then chốt ở đây phải là nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên16. Chúng tôi thấy Dự thảo Luật GDĐH còn chưa chú trọng đúng mức tới vấn đề này và chưa có những quy định thích đáng. Điều dễ thấy là dù cơ sở GDĐH có được tự chủ đến đâu, GDĐH có được xã hội hóa đến mức nào mà không có đội ngũ giảng viên có chất lượng cao thì cũng không thể nâng cao chất lượng GDĐH. Đồng thời, cũng cần phải thấy quyền tự chủ của cơ sở GDĐH, việc xã hội hóa GDĐH một phần cũng là để tạo cơ chế, tạo điều kiện để thu hút những giảng viên có năng lực, có tâm huyết cho GDĐH và Dự thảo Luật GDĐH cần đưa ra cơ sở pháp lý cho việc này.

Khoản 7 Điều 10 Dự thảo Luật ngày 15/3/2012 đưa ra chính sách của Nhà nước về phát triển GDĐH: “Có chế độ thu hút, sử dụng và đãi ngộ thích hợp để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên; chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ và chức danh giáo sư, phó giáo sư của các cơ sở GDĐH”. Theo chúng tôi có thể sửa đổi, bổ sung thêm quy định tại khoản 5 Điều 54: “Thủ tướng Chính phủ quy định cụ thể chính sách, chế độ thu hút, sử dụng và đãi ngộ thích hợp để xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên”.

Muốn phát triển lâu dài và bền vững, chỉ có một lựa chọn duy nhất là phát triển giáo dục. Theo GS,VS. Trần Hồng Quân, “Nếu nói 5% thành phần ưu tú trong xã hội quyết định sự phát triển của toàn xã hội thì cả 5% đó thuộc trách nhiệm của GDĐH”. Xây dựng mô hình GDĐH tiên tiến và một Luật GDĐH hoàn thiện với khung pháp lý về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm, xã hội hóa GDĐH và thu hút nhân tài cho GDĐH chính là góp phần tạo dựng tương lai.

(1) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Cần đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”.

(2) http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=254&TabIndex=1

(3) Liên quan đến cơ cấu tổ chức của cơ sở GDĐH.

(4) Liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của cơ sở GDĐH.

(5) Liên quan đến hoạt động đào tạo của cơ sở GDĐH.

(6) Liên quan đến hoạt động khoa học công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng và kiểm định chất lượng GDĐH của cơ sở GDĐH.

(7) Liên quan đến tài chính, tài sản của cơ sở GDĐH.

(8) Bao gồm quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về: a) Tổ chức và nhân sự; b) Tài chính và tài sản; c) Hoạt động đào tạo; d) Hoạt động khoa học và công nghệ; đ) Hoạt động hợp tác quốc tế; e) Bảo đảm chất lượng GDĐH.

(9) Xem thêm: Chu Hồng Thanh, Một số nội dung cơ bản của Dự thảo Luật GDĐH, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 23 (208), tháng 12/2011.

(10) Chúng tôi thấy sử dụng tên gọi “đại học”, “đại học quốc gia” quen thuộc, đỡ phải thay đổi và hợp lý hơn dùng tên gọi “viện đại học”, “viện đại học quốc gia”. Nếu được xác định rõ các tiêu chí, khó có thể có sự nhầm lẫn giữa đại học và trường đại học. Tuy nhiên, có thể phải bổ sung thêm quy định giải thích từ ngữ “đại học”, “đại học quốc gia”.

(11) Ủy ban  Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội Khóa 13: Báo cáo Một số vấn đề lớn còn ý kiến khác nhau của đại biểu Quốc hội tại kỳ họp thứ 2 và dự kiến phương án chỉnh lý bước đầu về Dự án Luật GDĐH.

(12) Xem thêm: Trần Thị Thu Hà, Nguyễn Thu Vân, Đại học tư thục “khoác áo” doanh nghiệp - vài suy nghĩ về Dự thảo Luật GDĐH, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Số 21 (206), 2011.

(13) Xem: Ngô Bảo Châu, Pierre, Cao Huy Thuần, Hoàng Tuỵ, Nguyễn Xuân Xanh, Phạm Xuân Yêm (Đồng chủ biên), Festschriift - Kỷ yếu Đại học HUMBOLDT 200 năm (1810 - 2010), Kinh nghiệm thế giới và Việt Nam, Nxb. Tri thức, 2011, tr. 267-269.

(14)  Mô GDĐH Hàn Quốc mô phỏng theo mô hình GDĐH Mỹ với những nét đặc thù châu Á, nhấn mạnh vào việc thu hút nhân tài tham gia giảng dạy ở các cơ sở GDĐH, với mức lương bổng không phải là cao nhất nhưng được sự kính trọng của toàn xã hội.

(15) Xem thêm: Mai Hồng Quỳ, Nhìn từ Dự thảo Luật GDĐH nghĩ về mô hình GDĐH Việt Nam, Kỷ yếu Hội nghị khoa học kỷ niệm 15 năm thành lập Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 2011.

(16) Xem thêm: Mai Hồng Quỳ (Chủ nhiệm đề tài), Báo cáo tổng kết đề tài khoa học, Quyền được giáo dục và cơ sở lý luận, thực tiễn của Luật GDĐH Việt Nam, Tp. Hồ Chí Minh, 2011.

TS. Phạm Trí Hùng -Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Bất cập của pháp luật hiện hành về phân loại đô thị (12/06/2014)
Góp ý Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (17/01/2014)
Bảo đảm quyền của người đồng tính, người chuyển giới trong tư pháp hình sự (30/10/2013)
Luật Thủ đô trong mối quan hệ với hệ thống pháp luật (12/12/2012)
Chuyển biện pháp xử lý người nghiện ma túy từ pháp luật xử lý vi phạm hành chính sang pháp luật phòng, chống ma túy (21/06/2012)
Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư (12/06/2012)
Góp ý Dự thảo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (12/06/2012)
Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư (12/06/2012)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Bàn về việc thành lập cơ quan chuyên trách phòng, chống tham nhũng ở nước ta

Thông tin trên mạng và hệ thống hóa các loại hình thông tin trên mạng

Cần luật hóa trách nhiệm giải trình của trường đại học công lập

Kinh nghiệm các nước về thực thi pháp luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa

Mô hình pháp điển hóa của Hoa Kỳ và một số nội dung Việt Nam có thể tiếp thu

Hoàn thiện chương trình bồi dưỡng cán bộ, công chức hiện nay

Chính sách ưu đãi thuế, tài chính, ngân hàng ở một số đặc khu thuộc Trung Quốc và kiến nghị cho các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt của Việt Nam

Sự hình thành luật tập quán quốc tế trước bối cảnh thay đổi cơ bản

Hoàn thiện các quy định của Luật Thuơng mại năm 2005 để đảm bảo sự thống nhất với Bộ Luật Dân sự năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân