Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ ba, 22/05/2018, 07:57(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Chuyển biện pháp xử lý người nghiện ma túy từ pháp luật xử lý vi phạm hành chính sang pháp luật phòng, chống ma túy

Từ phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về các biện pháp áp dụng đối với người nghiện ma túy, trong bối cảnh Dự án Luật Xử lý vi phạm hành chính đang được soạn thảo, bài viết đề cập đến một số vấn đề liên quan đến việc chuyển các biện pháp áp dụng đối với người nghiện ma túy quy định tại pháp luật xử lý vi phạm hành chính sang pháp luật phòng, chống ma túy.

 

Các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy năm 1961, 1971, 1988[1] không khuyến nghị các quốc gia thành viên áp dụng hình phạt tù hoặc hình phạt tước quyền tự do đối với người nghiện ma túy (NNMT). NNMT, nếu thực hiện hành vi vận chuyển, tàng trữ, sản xuất (các hành vi cấm theo quy định của pháp luật quốc tế) thậm chí cũng được khuyến nghị không áp dụng hình phạt mà chỉ áp dụng các biện pháp điều trị, giáo dục, chăm sóc sau khi điều trị, phục hồi và thực hiện tái hòa nhập cộng đồng. Một trong các nguyên do dẫn đến khuyến nghị này là các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy coi tình trạng nghiện ma túy là bệnh chứ không phải vi phạm pháp luật (VPPL). Với tư cách là thành viên của ba công ước này[2], pháp luật Việt Nam nhìn nhận tình trạng nghiện ma túy như thế nào?

Điều 3 Luật Phòng, chống ma túy năm 2000 quy định, sử dụng trái phép chất mà túy là một trong các hành vi bị nghiêm cấm[3]. Như vậy, NNMT hiện nay bị coi là người có hành vi VPPL. Chế tài xử lý đối với NNMT được thực hiện theo pháp luật xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC), pháp luật phòng, chống ma túy (PCMT), và trước năm 2008 còn bao gồm cả chế tài hình sự.  

Pháp luật về XLVPHC quy định, NNMT bị xử phạt vi phạm hành chính[4], bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh. Ngoài biện pháp cai nghiện ma túy tự nguyện, pháp luật PCMT quy định, NNMT bị áp dụng các biện pháp cai nghiện ma túy bắt buộc bao gồm: cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng và cai nghiện bắt buộc tại các cơ sở cai nghiện.

Trước khi sửa đổi Bộ luật Hình sự năm 2008, NNMT bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Để bảo đảm sự tương thích với khuyến nghị không áp dụng hình phạt tù hoặc hình phạt tước quyền tự do đối với NNMT của các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy mà Việt Nam là thành viên, Bộ luật Hình sự (sửa đổi năm 2008) đã bãi bỏ Điều 199 đối với tội sử dụng trái phép chất ma túy.

Trong điều kiện các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy khuyến nghị các quốc gia thành viên coi nghiện ma túy là tình trạng bệnh, không phải VPPL, việc trừng phạt NNMT do hành vi nghiện của họ là không tương thích với các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy. Bộ luật Hình sự đã sửa đổi không coi hành vi nghiện ma túy là tội phạm. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, XLVPHC được coi là nhẹ hơn so với chế tài hình sự. Vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng Dự án Luật XLVPHC là giải quyết thế nào đối với các quy định mang tính trừng phạt NNMT bằng các biện pháp xử lý hành chính khác là biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh để vừa bảo đảm sự tương thích với các công ước quốc tế, vừa bảo đảm yêu cầu của công tác PCMT.

1. Quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính đối với người nghiện ma túy

1.1. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn

Đây là một biện pháp cưỡng chế do Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã quyết định, không cách ly người có hành vi VPPL ra khỏi cộng đồng, đối tượng áp dụng bao gồm NNMT từ đủ 18 tuổi trở lên có nơi cư trú nhất định. Thời hạn áp dụng biện pháp này là từ ba đến sáu tháng.

Tuy nhiên, do biện pháp này được áp dụng với nhiều loại đối tượng khác nhau[5] nhằm quản lý và giáo dục họ nên không có quy định cụ thể về việc áp dụng biện pháp cai nghiện đối với NNMT. Đối với NNMT, bên cạnh việc quản lý, giáo dục họ, cần đi kèm với chế độ cai nghiện. Việc thiếu vắng quy định về chế độ cai nghiện đối với đối tượng bị áp dụng biện pháp này dẫn đến thực tế là biện pháp này chỉ là thủ tục mang tính "bước đệm", cho đủ hồ sơ để áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh chứ không có hiệu quả cai nghiện đối với NNMT.

1.2. Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh[6]

Đây là biện pháp do Chủ tịch UBND cấp huyện quyết định đối với NNMT với mục đích đưa NNMT vào các cơ sở chữa bệnh để lao động, học văn hóa, học nghề và chữa bệnh dưới sự quản lý của cơ sở.

Đối tượng bị áp dụng là NNMT từ đủ 18 tuổi đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định. Thời hạn áp dụng đối với NNMT là một năm đến hai năm.

Với quan niệm xử lý hành chính là một chế tài nhẹ hơn chế tài hình sự, việc áp dụng biện pháp này đối với NNMT được coi là một hình thức trừng phạt của Nhà nước đối với hành vi nghiện ma túy. Trong bối cảnh các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy khuyến nghị không áp dụng hình phạt tù hoặc hình phạt tước quyền tự do, việc quy định NNMT là đối tượng áp dụng của pháp luật về XLVPHC có một số điểm bất lợi. Mặc dù với mục đích đưa NNMT vào các cơ sở chữa bệnh nhằm cai nghiện, giáo dục họ thông qua lao động, học nghề, song vì nằm trong hệ thống chế tài của pháp luật XLVPHC, vô hình trung, biện pháp này mang tính trừng phạt chứ không mang tính nhân đạo, không phải là biện pháp mang tính xã hội là giúp cho những người nghiện thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào chất ma túy.

2. Quy định của pháp luật phòng, chống ma túy đối với người nghiện ma túy

2.1. Cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng

Biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng được quy định tại Điều 26a và Điều 27 Luật PCMT (sửa đổi năm 2008), do Chủ tịch UBND cấp xã quyết định áp dụng đối với NNMT không tự giác khai báo tình trạng nghiện và không tự nguyện đăng ký cai nghiện tại gia đình hoặc cộng đồng. Thời hạn cai nghiện tại cộng đồng từ 06 đến 12 tháng.

Do có sự tồn tại của biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với NNMT theo quy định của pháp luật XLVPHC, để tránh việc áp dụng hai biện pháp xử lý đối với cùng một hành vi vi phạm, biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng loại trừ đối tượng áp dụng là NNMT đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo pháp luật XLVPHC[7].

So sánh với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với NNMT, biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng có cơ sở để khẳng định là sẽ có hiệu quả hơn, cụ thể là:

- Thời gian cai nghiện dài hơn, tối đa đến một năm.

- Việc tổ chức cai nghiện được quy định thành các quy trình rõ ràng, bao gồm khám sức khỏe, phân loại NNMT; điều trị cắt cơn, giải độc; quản lý, giám sát người cai nghiện; giáo dục, phục hồi hành vi, nhân cách; dạy nghề, tạo việc làm cho người cai nghiện; đánh giá kết quả; trách nhiệm của người nghiện, của gia đình họ; chế độ hỗ trợ v.v.. Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn áp dụng chung với nhiều đối tượng, không có quy định cụ thể về việc áp dụng biện pháp này đối với NNMT.

Việc duy trì biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với NNMT, bên cạnh hạn chế có thể gây khó khăn cho những người thực thi pháp luật là trường hợp nào thì áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, trường hợp nào thì nên áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng, còn làm hạn chế cơ hội của những người nghiện ma túy bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thị trấn được cai nghiện một cách "bài bản" hơn tại cộng đồng theo quy định của pháp luật PCMT.

2.2. Cai nghiện bắt buộc tại các cơ sở cai nghiện

Điều 28 Luật PCMT quy định, NNMT từ đủ 18 tuổi trở lên đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định là đối tượng phải đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Việc đưa NNMT vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện theo quyết định của Chủ tịch UBND cấp huyện, với thời hạn từ một năm đến hai năm.

Tổ chức và hoạt động của cơ sở cai nghiện bắt buộc, chế độ cai nghiện bắt buộc, thủ tục đưa NNMT được thực hiện theo quy định của pháp luật về XLVPHC.

Như vậy, quy định về cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện trong pháp luật PCMT và biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong pháp luật XLVPHC đối với NNMT có một số điểm trùng lặp và không thống nhất, làm ảnh hưởng đến tính thống nhất của hệ thống pháp luật. 

3. Một số bất cập trong chế tài áp dụng đối với người nghiện ma túy trong pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật về phòng, chống ma túy

Chế tài đối với NNMT quy định trong pháp luật về XLVPHC và pháp luật PCMT về bản chất là giống nhau. Mặc dù đã được quy định tại Pháp lệnh XLVPHC với ý nghĩa là các biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với NNMT nhằm bắt buộc họ cai nghiện từ năm 1995, khi ban hành Luật PCMT năm 2000, biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc vẫn được quy định nhằm bảo đảm tính toàn diện trong phạm vi điều chỉnh của luật này là quy định mọi vấn đề có liên quan đến việc phòng và chống ma túy.

3.1. Trùng lặp

Luật PCMT quy định biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một trong các biện pháp cai nghiện. Mặc dù quy định về đối tượng áp dụng có sự khác nhau, thực chất biện pháp cai nghiện bắt buộc quy định tại Luật PCMT và biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh quy định tại Pháp lệnh XLVPHC cũng chỉ là một biện pháp, vì:

- Luật PCMT quy định, NNMT tự nguyện làm đơn xin cai nghiện thì được nhận vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và không bị coi là XLVPHC. Như vậy, Luật gián tiếp quy định biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính.

- Luật PCMT quy định, tổ chức và hoạt động của cơ sở cai nghiện bắt buộc, chế độ cai nghiện bắt buộc, thủ tục đưa người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được thực hiện theo quy định của pháp luật về XLVPHC.

- Cùng áp dụng đối với NNMT từ đủ 18 tuổi trở lên đã được giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định

- Thẩm quyền quyết định: Đều là Chủ tịch UBND cấp huyện.

- Thời hạn áp dụng: Đều có thời hạn áp dụng từ một năm đến hai năm.

Mặc dù Luật PCMT coi việc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là một biện pháp xử lý hành chính, song Luật này lại không khẳng định biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh là một. Trong khi đó, Nghị định số 135/2004/NĐ-CP quy định, cơ sở chữa bệnh và cơ sở cai nghiện bắt buộc là một cơ sở[8]. Như vậy, việc đưa NNMT vào một cơ sở để cai nghiện với cùng trình tự, thủ tục song lại có thể được quyết định theo Luật PCMT hoặc theo Pháp lệnh XLVPHC.

3.2. Không thống nhất

Luật PCMT không quy định hai biện pháp này là một, song chế độ áp dụng đối với NNMT tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục - lao động xã hội là giống nhau, điều kiện để áp dụng biện pháp này đối với NNMT lại khác nhau, gây ra sự không thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Luật PCMT quy định, trước khi đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, NNMT đã được cai nghiện tại gia đình, cộng đồng hoặc “đã được giáo dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn”, trong khi Pháp lệnh XLVPHC chỉ quy định NNMT “đã được giáo dục tại xã, phường, thị trấn”. Như vậy, điều kiện áp dụng biện pháp này tại Luật PCMT rộng hơn (đã được cai nghiện tại gia đình và cộng đồng) và số lần áp dụng biện pháp giáo dục tại, xã, phường, thị trấn trước khi áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là nhiều hơn một lần như quy định tại Pháp lệnh XLVPHC.

4. Giải pháp: chuyển biện pháp xử lý đối với người nghiện ma túy từ pháp luật xử lý vi phạm hành chính sang pháp luật phòng, chống ma túy  

Với mục tiêu bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tránh chồng chéo, mâu thuẫn, tránh quy định một vấn đề tại nhiều văn bản quy phạm pháp luật, gây khó khăn cho quá trình thực thi; bảo đảm việc thực hiện các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên; đồng thời không gây xáo trộn trong công tác PCMT, hạn chế những tác động xấu về trật tự an toàn xã hội do tình trạng nghiện ma túy gây ra, chúng tôi kiến nghị như sau:

1. Khẳng định việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về PCMT. Việc khẳng định mang tính chất quan điểm này cần được nhấn mạnh và tuyên truyền rộng rãi để bảo đảm mục tiêu của công tác PCMT, hạn chế những ảnh hưởng, tác động xấu đến trật tự an toàn xã hội do tình trạng nghiện ma túy gây ra. NNMT phải bị áp dụng biện pháp bắt buộc cai nghiện tại cộng đồng, tại các cơ sở cai nghiện do vi phạm pháp luật về PCMT. Tuy nhiên, việc bắt buộc cai nghiện này không mang tính trừng phạt mà mang tính xã hội, nhân đạo nhiều hơn.

2. Không quy định biện pháp xử lý đối với NNMT tại Dự án Luật XLVPHC để tránh tình trạng một vấn đề được quy định tại hai hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, gây khó khăn cho quá trình thực thi, thậm chí làm ảnh hưởng đến việc triển khai hoạt động cai nghiện (ví dụ như biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng loại trừ NNMT đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn).

Việc không quy định biện pháp xử lý đối với NNMT tại Dự án Luật XLVPHC là cơ sở để Việt Nam khẳng định đã thực hiện khuyến nghị tại các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy là không áp dụng biện pháp trừng phạt đối với hành vi nghiện ma túy.

3. Hoạt động của các Trung tâm giáo dục - lao động xã hội, tên gọi chung của các cơ sở chữa bệnh (theo pháp luật XLVPHC), cơ sở cai nghiện bắt buộc (theo pháp luật PCMT) về cơ bản không có gì xáo trộn từ thay đổi này vì sự thay đổi chỉ diễn ra trong giai đoạn trước khi NNMT được đưa vào các trung tâm.

4. Luật PCMT và các văn bản quy định chi tiết thi hành cần bãi bỏ quy định biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng không áp dụng đối với NNMT đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn (do loại trừ đối tượng này tại Dự án Luật XLVPHC); cần bổ sung các quy định về đối tượng, thẩm quyền, trình tự, thủ tục đưa NNMT vào các Trung tâm giáo dục, lao động, xã hội.

5. Nhằm mục đích không làm gián đoạn công tác PCMT nói chung và việc áp dụng biện pháp cai nghiện ma túy nói riêng, Dự án Luật XLVPHC cần sửa đổi các điều khoản có nội dung liên quan của Luật PCMT theo tinh thần của khoản 2 Điều 9 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008[9], cụ thể là quy định về đối tượng bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc và quy định về việc giao Chính phủ quy định chi tiết tổ chức và hoạt động của cơ sở cai nghiện bắt buộc, chế độ cai nghiện tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đồng thời, Dự án Luật cũng cần bổ sung các quy định về biện pháp cai nghiện bắt buộc trên cơ sở sửa đổi các quy định hiện hành về biện pháp cơ sở chữa bệnh quy định tại Pháp lệnh XLVPHC, cụ thể là quy định về việc Chủ tịch UBND cấp huyện xem xét, ra quyết định bắt buộc cai nghiện; thi hành quyết định bắt buộc cai nghiện; hoãn, miễn chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc; giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại cơ sở cai nghiện bắt buộc; hết hạn chấp hành quyết định v.v..

Ngoài ra, Dự án Luật XLVPHC cũng cần có các điều khoản chuyển tiếp về việc áp dụng pháp luật đối với biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh trong thời gian các điều khoản sửa đổi bổ sung Luật PCMT tại Luật này chưa có hiệu lực; về việc áp dụng Luật đối với các đối tượng đang nghiện ma túy đang chấp hành tại các cơ sở chữa bệnh.

6. Văn bản về tổ chức thi hành Luật XLVPHC cần quy định rõ việc triển khai công tác cai nghiện ma túy bắt buộc tại cộng đồng, tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc khi Luật mới có hiệu lực./.



[1] Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961 (sửa đổi theo Nghị định thư năm 1972), Công ước về các chất hướng thần năm 1971 và Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và các chất hướng thần năm 1988.

[2] Việt Nam gia nhập ba công ước này theo Quyết định của Chủ tịch nước số 798/QĐ-CTN ngày 01/9/1997. Các điều khoản bảo lưu chỉ liên quan đến vấn đề dẫn độ và giải quyết bất đồng, không có điều khoản nào liên quan đến việc áp dụng hình phạt đối với NNMT.

[3] Điều 3 Luật PCMT năm 2000.

[4] Bài viết này không đề cập đến chế tài xử phạt hành chính quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh và trật tự, an toàn xã hội đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, mà chỉ đề cập đến các biện pháp áp dụng đối với NNMT. Quy định xử phạt này áp dụng chung đối với tất cả những người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, không kể đến người đó đã bị coi là lệ thuộc (nghiện) ma túy hay không. Khi một người được xác định là nghiện ma túy và bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính (giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh), cần có tài liệu của cơ quan y tế xác định tình trạng nghiện, lệ thuộc về ma túy.

[5]Bao gồm: Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật Hình sự;

b) Người từ đủ 12 tuổi trở lên nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng;

c) Người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên;

d) Người bán dâm có tính chất thường xuyên từ đủ 14 tuổi trở lên;

đ) Người có một trong các hành vi VPPL sau đây từ 2 lần vi phạm trở lên trong 1 năm, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự :

- Xâm phạm sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của công dân, của người nước ngoài;

- Xâm phạm tài sản của tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài;

- Chống người thi hành công vụ;

- Lợi dụng quyền tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng để lôi kéo, kích động người khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;

- Tổ chức cưỡng ép, lôi kéo, dụ dỗ người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.

e) Người có hành vi VPPL thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, nhưng trên 55 tuổi đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam.

[6]Biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh được áp dụng đối với hai đối tượng: NNMT và người bán dâm, bài viết này chỉ đề cập đến nội dung liên quan tới NNMT.

[7] Mục 3 Chương II Nghị định số 94/2010/NĐ-CP ngày 09/9/2010 quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng

[8] Nghị định số 135/2004/NĐ-CP ngày 10/6/2004 quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh XLVPHC và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh quy định “Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Luật PCMT và cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh XLVPHC được gọi chung trong Nghị định này là Trung tâm chữa bệnh giáo dục - lao động xã hội”.

[9] Khoản 2 Điều 9 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Khi BHVBQPPL, cơ quan ban hành văn bản phải sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ, bãi bỏ văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản mới ngay trong văn bản mới đó; trong trường hợp chưa thể sửa đổi, bổ sung ngay thì phải xác định rõ trong văn bản đó danh mục văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản quy phạm pháp luật do mình đã ban hành trái với quy định của văn bản quy phạm pháp luật mới và có trách nhiệm sửa đổi, bổ sung trước khi văn bản quy phạm pháp luật mới có hiệu lực.

ThS. Đào Thị Thu An - Vụ Pháp luật hình sự - hành chính, Bộ Tư pháp.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
6.jpg
Đồng chí Lê Bộ Lĩnh, Phó Chủ nhiệm VPQH phát biểu khai mạc Hội thảo "Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và xã hội trong thúc đẩy thực thi các quy định pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã"
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

các điều kiện bảo đảm thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

Quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc và dân tộc thiểu số ở nước ta

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân