Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 22/07/2018, 08:09(GMT+7)
 
Văn hóa - xã hội

Cải thiện vị trí xã hội và pháp lý của đại học tư

1. Tổng quan

Sự ra đời và phát triển của các trường đại học ngoài công lập (gọi nôm na là đại học tư) bắt nguồn từ chủ trương xã hội hoá giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng ở nước ta. Sau mấy năm, các trường đại học tư tăng lên rất nhanh về số lượng, góp phần mở rộng cánh cửa đại học cho học sinh tốt nghiệp phổ thông và nói chung, cho tất cả những người mong muốn có được mảnh bằng khả dĩ cho phép xây dựng và củng cố vị trí cá nhân trong đời sống nghề nghiệp.      

Tuy nhiên cho đến nay, trường đại học tư ở Việt Nam vẫn chưa có được một chỗ đứng vững chắc cả trong luật và trong suy nghĩ của mọi người. Trong chừng mực nào đó, thậm chí còn có thể ghi nhận sự phổ biến không biết từ lúc nào của những định kiến xã hội bất lợi và rất ngặt nghèo đối với các trường đại học tư về nhiều phương diện: chất lượng đào tạo, khía cạnh đạo đức trong quan hệ thầy trò, uy tín xã hội... Các định kiến ấy tất yếu tạo ra xu hướng phân biệt đối xử của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp tuỳ theo nơi xuất xứ của họ là trường công hay trường tư. Định kiến này được ghi nhận rõ nét trong khu vực công, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các cơ quan công lập. So với ứng viên xuất thân từ trường công, ứng viên từ trường tư thường được các cơ quan công lập, các doanh nghiệp nhà nước tiếp đón với thái độ dè dặt, nghi ngại về khả năng chuyên môn, phẩm chất nghiệp vụ. Trong điều kiện khu vực công chiếm lĩnh một phần lớn nhu cầu sử dụng lao động có trình độ cao, điều này càng khiến lộ trình tự khẳng định của trường tư - như là một nhân tố tích cực trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục - càng thêm gai góc, khó khăn.

Vấn đề đặt ra có hai nội dung chính: trong khung cảnh nền giáo dục đại học xã hội chủ nghĩa thực sự có hay không chỗ đứng cho đại học tư? Nếu không, thì đại học công lập phải được xây dựng và củng cố như thế nào để đóng được tròn vai cơ sở đào tạo nhân lực trình độ cao và nghiên cứu khoa học để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội? Nếu có thì phải làm thế nào để cả đại học tư và đại học công đều có điều kiện phát huy hết năng lực của mình nhằm thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục đại học theo các mục tiêu nói trên?

Chính Luật Giáo dục đại học chứ không phải đạo luật nào khác, phải thể hiện quan điểm chính thức và chính thống về cách giải quyết vấn đề này. 

2. Đại học tư: tồn tại hay không tồn tại? 

Giải pháp cho bài toán đầu tư vào giáo dục của một nước nghèo. Mặc dù đạt được những thành tựu đáng kể về kinh tế, Việt Nam đến giờ vẫn là một nước nghèo. Bởi vậy, khả năng đầu tư cho sự phát triển toàn diện của đất nước bằng các nguồn lực nằm trong tay Nhà nước là rất hạn chế. Để đạt được các mục tiêu phát triển trong nhiều lĩnh vực trong thời gian thích hợp, cần  huy động các nguồn lực khác: viện trợ chính thức, đầu tư nước ngoài, đầu tư của các tổ chức phi chính phủ, các quỹ không vụ lợi và đặc biệt là từ các tư nhân trong nước.  

Nói riêng về lĩnh vực giáo dục, các nguồn lực do tư nhân trong nước nắm giữ rất dồi dào. Không chỉ có tiền, cơ sở vật chất, trang thiết bị và cả năng lực huy động những thứ đó từ trong nước cũng như ngoài nước, khu vực tư còn sở hữu một lực lượng nhà khoa học có chất lượng, có khả năng và sẵn sàng dấn thân cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, bên cạnh các nhà giáo về hưu có nhiều kinh nghiệm và vẫn đủ sức tiếp tục đảm nhận chức năng trồng người. Trong điều kiện giáo dục không cần và không nên là lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước, thì sự tham gia khai thác của tư nhân và nói chung của bất kỳ nhà đầu tư nào có thực lực và có tâm huyết trong lĩnh vực này là việc cần được khuyến khích1.

Cần có đối trọng cho đại học công. Được nuôi dưỡng quá lâu trong cơ chế quan liêu bao cấp, đa số đại học công tỏ ra đủng đỉnh, thậm chí ì ạch trong lộ trình tự chủ và tự chịu trách nhiệm về mọi phương diện. Đặc biệt, tâm lý ỷ lại vào đầu tư công khiến đại học công tỏ ra rất kém năng động trong việc xây dựng và khai thác các nguồn lực đa dạng trong xã hội nhằm đẩy nhanh sự phát triển của cơ sở.        

Mặt khác, cũng do quá lâu được thừa nhận (thậm chí được bảo đảm) giữ vai trò độc quyền trong lĩnh vực giáo dục ở trình độ cao, đại học công tự nhiên nuôi dưỡng tư tưởng tự mãn đặc trưng của người đứng một mình một chợ. Hệ quả tất yếu của tư tưởng này là một mặt, chất lượng đào tạo của đại học công không được quan tâm cải thiện nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của xã hội trong điều kiện kinh tế phát triển cũng như trong bối cảnh hội nhập quốc tế; mặt khác, vấn đề trách nhiệm xã hội của đại học không đươc đặt và giải quyết một cách nghiêm túc, khiến cho tệ nạn quan liêu và các hiện tượng tiêu cực khác có điều kiện sinh sôi, hoành hành.  

Từ thực trạng đó, sự phát triển đại học tư có thể được nhìn nhận, trong chừng mực nhất định, như là cách “đánh thức” đại học công khỏi giấc ngủ đông để tự nhìn lại mình, rồi phải tự hoàn thiện để sinh tồn. Việc sử dụng khu vực tư như chất xúc tác kích thích sự phát triển của khu vực công đã được kiểm chứng về hiệu quả trong lĩnh vực kinh tế: chính sự lớn mạnh nhanh chóng và nhất là sự năng động của kinh tế tư nhân đã làm lộ rõ những khuyết tật vốn đã tồn tại từ nhiều năm của các doanh nghiệp nhà nước, từ đó đặt những người hoạch định chính sách và bản thân các doanh nghiệp nhà nước dưới sức ép đổi mới. 

Có ý kiến quan ngại rằng, trong thời gian vừa qua không ít đại học tư chỉ chạy theo lợi nhuận mà không quan tâm đến chất lượng, thậm chí đến các chuẩn mực đạo đức đặc thù của môi trường giáo dục; hậu quả là những điều tiếng không hay về nạn mua điểm, bán bằng gắn với trường này, trường nọ. Trong bối cảnh đó, việc tạo điều kiện phát triển đại học tư cũng có thể đồng nghĩa với tạo điều kiện cho sự bùng phát các hiện tượng tiêu cực ảnh hưởng xấu đến diện mạo của nền giáo dục Việt Nam.

Đúng là chất lượng của không ít đại học tư ở trong tình trạng bị (hay được) thả nổi; nhưng, như đã nói, tình trạng này cũng được ghi nhận ở không ít trường đại học công lập. Thực ra, tệ nạn học giả bằng thật, nói chung, sự hoành hành của các loại ứng xử, giao tiếp phi chuẩn mực, phi đạo đức là vấn nạn chung của cả nền giáo dục chứ không riêng giáo dục đại học và càng không phải của riêng đại học tư. Nguyên nhân sâu xa của sự xuống cấp chất lượng giáo dục, chất lượng đạo đức trong môi trường học đường, giảng đường không chỉ đơn giản là thói hám lợi của các nhà đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, mà có mối liên hệ mật thiết với những khuyết tật của hệ thống quản lý xã hội đang vận hành, đặc biệt là với nạn tham nhũng và hối mại quyền thế. Việc khắc phục nguyên nhân đó, suy cho cùng, là việc được thực hiện trên quy mô toàn hệ thống quản lý chứ không phải là việc riêng của ngành giáo dục.     

3. Vị thế nào cho đại học tư?

Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể. Đã thừa nhận sự cần thiết phát triển đại học tư, thì điều tối cần thiết là phải tôn trọng nguyên tắc bình đẳng giữa các chủ thể trong ứng xử với cả đại học tư và đại học công. Cần phải nhấn mạnh điều này, bởi yêu cầu đó cũng được đặt ra cả trong lĩnh vực kinh tế, nhưng đã không được tôn trọng đúng mức và do đó, đã ít nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước2.

Suy cho cùng, không lý lẽ nào có thể được dùng để biện minh cho sự phân biệt đối xử dành cho các đối tượng quản lý dựa theo nguồn gốc xuất thân là khu vực công hay khu vực tư. Bởi trong điều kiện các chủ thể được giao đảm nhận cùng một chức năng xã hội, việc tạo ra một lợi thế cho chủ thể này trong qua trình thực hiện chức năng cũng đồng nghĩa với việc đẩy các chủ thể còn lại vào thế bất lợi. Sự phân biệt đối xử một mặt tạo tâm lý ỷ lại, kiêu binh ở người được ưu đãi, mặt khác, tạo ra mặc cảm bị xử tệ của người không được ưu đãi. Cả hai đều không tác dụng tích cực đối với việc xây dựng môi trường phát triển lành mạnh.

Tất nhiên, Nhà nước có quyền, đồng thời có trách nhiệm đầu tư đúng mức cho các cơ sở đào tạo công lập; còn tư nhân, trên nguyên tắc, phải tự đi trên đôi chân của mình trong công cuộc đầu tư vào lĩnh vực giáo dục. Thế nhưng, từ các xuất phát điểm khác nhau về phương diện gây dựng cơ sở, cả đại học công và đại học tư phải chịu sự chi phối của cùng một khung chuẩn mực trong quá trình vận hành. Một cách hợp lý, việc quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục, bao gồm cơ sở giáo dục đại học, cũng phải được thực hiện theo một cơ chế thống nhất. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, về phần mình, phải bảo đảm có thái độ đối xử không thiên lệch đối với các đại học, nhất là về các phương diện tiếp cận các lợi ích, các cơ hội tiếp nhận tài trợ, dự án hợp tác...

Đặc biệt, trong điều kiện đất đai thuộc sở hữu toàn dân và được sử dụng dưới sự giám sát của Nhà nước, nhằm phục vụ cho các mục tiêu đã được các nhà hoạch định chính sách chỉ rõ, việc cấp đất cho các cơ sở giáo dục phải được thực hiện trong những điều kiện như nhau, cả đối với  cơ sở công lập và cơ sở tư nhân. Cần xây dựng một bộ tiêu chí khách quan nhằm đánh giá các nhu cầu sử dụng đất hợp lý phục vụ cho hoạt động chuyên môn và áp dụng chung bộ tiêu chí đó cho cả cơ sở giáo dục công lập và cơ sở giáo dục tư thục. 

Mô hình quản lý nội tại nào cho đại học tư? Không thể quay lưng chối bỏ thực tại về xu hướng coi giáo dục như một khu vực sinh lợi có thể được khai thác tiềm năng như các khu vực kinh tế truyền thống. Trong bối cảnh xã hội hoá nền giáo dục, càng lúc càng có nhiều nhà đầu tư quan tâm đến lĩnh vực giáo dục và tìm cách áp dụng trong lĩnh vực đó cùng một mô hình đầu tư như đối với các lĩnh vực kinh doanh theo truyền thống. Nhưng bên cạnh đó, cũng có những người đến với giáo dục với mục tiêu không vụ lợi và những hoài bão tốt đẹp về xây dựng, phát triển tinh hoa trí tuệ và nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

Tuỳ mục tiêu tối hậu mà nhà đầu tư theo đuổi khi dấn thân vào lĩnh vực giáo dục đại học, trong chừng mực nào đó, có thể thiết lập sự phân biệt giữa hoạt động khai thác đại học tư vì mục tiêu lợi nhuận và hoạt động khai thác đại học tư không vì mục tiêu lợi nhuận. 

Vấn đề là bản thân cơ sở giáo dục nói chung và cơ sở giáo dục đại học nói riêng được giao chức năng xã hội mang tính chuyên môn đặc thù. Một mặt, cơ sở giáo dục là nơi tiến hành hoạt động đào tạo nhằm cung cấp cho xã hội những công dân có kiến thức tổng quát và kiến thức chuyên môn cần thiết cho các vị trí trong xã hội. Mặt khác, cơ sở giáo dục đại học còn là trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Bằng hoạt động của mình, đại học góp phần nâng cao mặt bằng học thuật và trình độ sản xuất của cải vật chất của quốc gia. Dù ở đại học công hay đại học tư, chất lượng đào tạo và chất lượng nghiên cứu khoa học đều được đánh giá, theo cùng một bộ tiêu chí khách quan.

Để có thể bảo đảm đáp ứng tốt các yêu cầu về chất lượng hoạt động, điều kiện cần thiết là các vị trí chuyên môn trong thiết chế đại học phải không bị vướng bận bởi các nỗi lo toan liên quan đến khía cạnh kinh tế của công việc để có thể tập trung đầu tư công sức, trí tuệ cho việc giải quyết các vấn đề chuyên môn. 

Rõ hơn, trong trường hợp trường đại học do tư nhân lập ra, thì cần thiết lập sự phân biệt giữa cơ sở giáo dục đại học như một thiết chế giáo dục và tổ chức khai thác cơ sở đó, như một thiết chế kinh tế, một công ty chẳng hạn. Thiết chế kinh tế kiểm soát cơ sở giáo dục đại học thông qua công cụ vốn và sử dụng công cụ đó để hoạch định chính sách khai thác đối với cơ sở giáo dục đại học nhằm đạt mục tiêu sinh lợi. Nhưng bản thân cơ sở giáo dục đại học là một thiết chế hoàn toàn độc lập và có toàn quyền quyết định đối với các vấn đề chuyên môn phát sinh trong quá trình vận hành.

Với ý tưởng đó, thì tổ chức hội đồng quản trị đối với trường đại học tư tỏ ra không phù hợp. Một hội đồng như thế có thể gắn với tổ chức khai thác và đảm nhận các chức năng thuần tuý kinh tế.

Một khi được độc lập với tổ chức khai thác, thì đại học tư hoàn toàn có thể tiếp nhận cùng một mô hình quản lý nội tại như đại học công, cụ thể là có hội đồng trường với các chức năng quản trị đại học đặc thù. Điều này đòi hỏi xác định lại chức năng của hội đồng trường, theo hướng tách biệt quản trị đại học về mặt chuyên môn và quản trị cơ sở giáo dục đại học như một đơn vị sự nghiệp có thu3. Trong trường hợp đại học được tư nhân khai thác, chức năng thứ hai phải được giao cho hội đồng quản trị của tổ chức khai thác. Đối với đại học công lập, chức năng này nên được trả lại cho các cơ quan quản lý công sản và quản lý ngân sách, tất nhiên, với điều kiện bộ máy của các cơ quan này phải được hoàn thiện để đảm nhận tốt chức năng được giao.

Sự tách biệt tổ chức khai thác và cơ sở giáo dục đại học cũng khiến cho việc xác định tính chất vì mục tiêu lợi nhuận hay phi lợi nhuận có đối tượng không phải là bản thân cơ sở đào tạo mà là tổ chức khai thác. Cũng chính tổ chức khai thác là người thụ hưởng các chính sách ưu đãi của Nhà nước, nếu có, dành cho nhà đầu tư vào lĩnh vực giáo dục. Bên cạnh đó, Nhà nước có thể xây dựng chính sách hỗ trợ vật chất trực tiếp cho các cơ sở giáo dục, cả công lập và tư thục, dựa theo chính các nhu cầu riêng và chính đáng gắn với hoạt động chuyên môn của cơ sở.

 

[1] Harvard của Mỹ hay ở vị trí thấp hơn một chút là Keio và Waseda của Nhật là những ví dụ tiêu biểu về sự thành công của mô hình đại học tư như là kết quả đầu tư của tư nhân vào sự nghiệp giáo dục. Có thể chúng ta không mơ đến sự thành công cỡ đó cho đại học tư Việt Nam, nhưng các đại học tư nghiêm túc, đạt yêu cầu bình thường của xã hội về chất lượng đào tạo là điều hoàn toàn khả thi.   

2 Nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp được thiết lập trong luật thực định thường xuyên bị che lấp bởi một nguyên tắc khác thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong hệ thống kinh tế của quốc gia.

3 Thực ra, hội đồng trường với cơ cấu theo các quy định hiện hành, không thể làm tròn chức năng quản lý cơ sở giáo dục đại học như một đơn vị sự nghiệp có thu, trong tư thế của đại diện chủ sở hữu, là Nhà nước. Đơn giản, có nhiều thành viên được pháp luật chỉ định vào hội đồng trường không có mối quan hệ, dù là gián tiếp, với các cơ quan quản lý tài sản công. Họ không thực sự có được trạng thái tâm lý của chủ sở hữu hoặc đại diện chủ sở hữu, để có thể giám sát hoạt động của trường đại học dưới sự thôi thúc của lợi ích thiết thân. 


PGS,TS. Nguyễn Ngọc Điện - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Pháp luật của Trung Quốc và Nhật Bản về ô nhiễm không khí và một số nhận xét, so sánh với pháp luật Việt Nam

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân