Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Chủ nhật, 28/05/2017, 22:08(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Về việc sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội
Về việc sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội
Ngày 20-5-2007, cùng với cử tri cả nước, đồng bào Xê Đăng ở tỉnh Kon Tum đi bầu cử Quốc hội.
Hiện nay đang có hai loại ý kiến về việc sửa đổi Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, trên cơ sở Luật hiện hành sẽ sửa đổi...

1. Lựa chọn phương án

Hiện nay đang có hai loại ý kiến về việc sửa đổi Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, trên cơ sở Luật hiện hành sẽ sửa đổi, bổ sung một số vấn đề cho hoàn thiện và phù hợp với tình hình thực tiễn. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, phải thay đổi hoàn toàn cách thức bầu cử mà nội dung cốt lõi là đại biểu Quốc hội do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bầu, lần đầu bầu đủ số lượng đại biểu theo quy định; nâng thời gian nhiệm kỳ Quốc hội lên 6 năm; sau đó cứ 2 năm bầu lại 1/3 số đại biểu.

Theo chúng tôi, loại ý kiến thứ hai đặt trong hoàn cảnh hiện nay là rất khó thực hiện, vì:

- Phải khẩn trương sửa đổi rất nhiều vấn đề của Hiến pháp năm 1992 mới có thể sửa đổi được Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội.

- Phải sửa đổi trước Luật tổ chức và hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân rồi mới sửa đổi được Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội.

- Xác định tiêu chí nào để sau 2 năm thì 1/3 số đại biểu phải thôi làm nhiệm vụ đại biểu; sau 4 năm thì 1/3 số đại biểu cũ nghỉ tiếp?

- Trong hoàn cảnh đó thì việc thay đổi nhân sự cấp cao trong bộ máy nhà nước được tiến hành như thế nào; việc thành lập các cơ quan của Quốc hội có thể ổn định được không; tổ chức và hoạt động của các Đoàn đại biểu Quốc hội thế nào cho hợp lý?

Nghĩa là hàng loạt vấn đề phải được đặt ra và phải được giải quyết trước nếu tiến hành “cách mạng hóa” cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội theo loại ý kiến thứ hai. Rõ ràng là thời gian không cho phép làm được các công việc trên trong một sớm một chiều, do đó, nội dung ấy chỉ nên đặt ra trong nghiên cứu chiến lược cải cách tư pháp thì mới có thì giờ xem xét.

Theo quy trình chuẩn bị bầu cử hiện hành thì tháng 8/2010, Ban Công tác đại biểu đã phải trình những dự thảo văn bản đầu tiên ra Ủy ban thường vụ Quốc hội và Đảng đoàn Quốc hội để tháng 9/2010, Đảng đoàn Quốc hội có thể trình Bộ Chính trị các văn bản về phương án bầu cử và dự thảo Chỉ thị của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII. Vì vậy phải thực hiện theo loại ý kiến thứ nhất và cũng phải tiến hành quyết liệt thì mới kịp.

2. Một số ý kiến về việc sửa đổi Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội

2.1. Tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội

Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) sửa đổi nên bắt đầu xem xét từ Điều 2, với sự phân biệt người bầu cử và người ứng cử. Ngoài việc phân biệt độ tuổi, nên phân biệt trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ. Người bầu cử, dù ở trình độ nào (kể cả mù chữ) thì họ cùng phải làm nghĩa vụ công dân; còn người ứng cử ĐBQH trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực phải đạt đến một trình độ nhất định thì mới làm được nhiệm vụ ĐBQH. Vì thế Điều 2 có thể sửa như sau:

“Công dân nước CHXHCNVN không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử theo quy định của pháp luật;

Công dân nước CHXHCNVN không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 21 tuổi trở lên, có đủ tiêu chuẩn ĐBQH được quy định tại Điều 3 Luật này đều có quyền ứng cử ĐBQH theo quy định của pháp luật”.

Sở dĩ phải phân biệt trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ giữa người bầu cử và người ứng cử ĐBQH vì ĐBQH phải có đủ “tiêu chuẩn ĐBQH”, không thể là ĐBQH khi chỉ có trình độ tiểu học hay mù chữ, không có chuyên môn, nghiệp vụ gì mà lại đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, tham gia quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước. Đồng thời, phải cụ thể hóa Điều 3 của Luật (về tiêu chuẩn ĐBQH). Ở đây, đang có hai loại ý kiến là cụ thể hóa vào điều luật hay cụ thể hóa bằng văn bản hướng dẫn của Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH). Thực tế hai lần hướng dẫn của UBTVQH và Ban Tổ chức trung ương tại cuộc bầu cử ĐBQH khóa XI và XII là hướng dẫn một số điều của Luật Bầu cử ĐBQH, trong đó có tuổi của ĐBQH chuyên trách, chưa lần nào cụ thể hóa một tiêu chuẩn nào trong 5 tiêu chuẩn của  người ứng cử. Đặc biệt, trong lần hướng dẫn bầu cử ĐBQH khóa XII, đã có hướng dẫn độ tuổi của ứng cử viên dự kiến làm ĐBQH chuyên trách như sau: “Đại biểu ứng cử lần đầu hoặc tái cử vào Quốc hội nói chung phải đủ tuổi để làm trọn khóa”. Hướng dẫn này đã buộc các ĐBQH đang chuyên trách nếu đã ngoài 50 tuổi đối với nữ, ngoài 55 tuổi đối với nam nói chung không được tái cử, vì không trọn khóa. Vì vậy, tính kế thừa đã bị hạn chế khá nhiều...

Vấn đề cần bàn là trong lần sửa đổi Luật Bầu cử ĐBQH này có cụ thể hóa tiêu chuẩn ĐBQH hay không, còn việc hướng dẫn thi hành luật là việc đương nhiên. Theo chúng tôi, nên cụ thể hóa, trước hết là tiêu chuẩn thứ 3 và tiêu chuẩn thứ 5. Còn cụ thể hóa vào luật hay cụ thể trong văn bản hướng dẫn thi hành luật thì tùy UBTVQH quyết định. Ý kiến chúng tôi, nếu cụ thể hóa được thì nên đưa vào luật.

Tiêu chuẩn 3 trong luật hiện hành quy định: “Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ ĐBQH, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước”. Vấn đề cần bàn ở đây là năng lực, trình độ nào, sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học hay trên đại học? Kết quả bầu cử ĐBQH khóa XI cho thấy, chỉ có 6,63% số đại biểu trúng cử là có trình độ trung học trở xuống, 93,37% số đại biểu có trình độ cao đẳng, đại học trở lên. Khóa XII, tương ứng là 4,01% và 95,99%. Như vậy, trong hai khóa này, đại biểu có trình độ thấp nhất là văn hóa phổ thông trung học và nghiệp vụ trung cấp cũng chỉ chiếm trên dưới 5% tổng số đại biểu. Các khóa tới chắc chắn không thể hạ thấp trình độ đại biểu so với hai khóa trước. Vì vậy tiêu chuẩn 3 có thể sửa đổi như sau: “Có năng lực, trình độ văn hóa và nghiệp vụ từ trung học trở lên để thực hiện nhiệm vụ đại biểu, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; trường hợp đặc biệt do UBTVQH hướng dẫn” (trường hợp đặc biệt ở đây là một số dân tộc ít người, nhiều khóa chưa có đại biểu, nay có khả năng cơ cấu đại biểu thì trình độ của ứng cử viên này có thể thấp hơn trung học).

Tiêu chuẩn 5 trong luật hiện hành quy định “Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội”. Thực ra 4 tiêu chuẩn đầu (Trung thành với Tổ quốc...; Có phẩm chất đạo đức tốt...; Có trình độ và năng lực...; Liên hệ chặt chẽ với nhân dân...) là những điều kiện “cần”, còn tiêu chuẩn 5 là điều kiện “đủ”. Nếu một người có đầy đủ năng lực, phẩm chất, lòng trung thành... (điều kiện “cần”) nhưng không có thời gian, không có sức khỏe và một số yếu tố cần thiết khác để hoạt động thì điều kiện “cần” có cao đến bao nhiêu cũng chỉ là tiềm năng, không biến thành hiện thực được. Ví dụ, một người có quốc tịch Việt Nam nhưng sinh sống ở nước ngoài, tuy rất giỏi về một chuyên môn, nghiệp vụ, có lòng yêu nước cao độ; nhưng ba, bốn năm mới thu xếp được thời gian vài tuần về thăm quê hương đất nước một lần thì làm sao làm nhiệm vụ ĐBQH được. Hay một một giáo sư - tiến sĩ khoa học, rất tài năng, đức độ; nhưng đã nhiều năm lâm trọng bệnh, nằm liệt giường, thì chắc chắn cũng không ai đề cử vị giáo sư - tiến sĩ đó ứng cử ĐBQH. Tuy nhiên lần này cũng chỉ nên sửa những vấn đề đã rõ ràng và cần thiết. Ví dụ “định lượng thời gian” cho đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, bằng cách đưa quy định thời gian hoạt động tối thiểu ở Điều 47 Luật Tổ chức và hoạt động của Quốc hội (năm 2007) vào khoản 5 Điều 3 của Luật này. Khoản 5 có thể sửa như sau: “Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội, trong đó đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách phải dành ít nhất một phần ba thời gian làm việc để làm nhiệm vụ đại biểu” (đây cũng là một trong các điều kiện để xem xét một kiều bào có làm ĐBQH được không).

2.2. Quyền ứng cử

Có hai loại ứng cử viên là người được giới thiệu ứng cử và người tự ứng cử. Sự khác nhau giữa họ là được giới thiệu tự giới thiệu - tự ứng cử. Theo chúng tôi, đã là ứng cử viên thì tiêu chuẩn như nhau (không phân biệt), nhưng giữa người được giới thiệu và người tự giới thiệu thì điều kiện phải có điểm khác nhau. Người được giới thiệu thì trước hết cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về nhân sự được giới thiệu; sau đó người được giới thiệu còn được “kiểm nghiệm” bởi mức độ tín nhiệm của cử tri nơi công tác và nơi sinh sống thông qua công đoạn lấy ý kiến cử tri. Còn người tự ứng cử - tự giới thiệu thì rất cần thiết phải chứng minh bản thân mình có thể có được một sự tín nhiệm cần thiết (giống như người được giới thiệu, có được tín nhiệm thì mới được giới thiệu). Muốn vậy thì người tự ứng cử trước tiên phải được cử tri nơi mình cư trú và cử tri nơi công tác (nếu có) đồng tình, thể hiện bằng cách trong một thời gian nhất định phải lấy được một lượng chữ ký của cử tri (ví dụ 15% chữ ký của cử tri nơi cư trú và 50% chữ ký cử tri nơi công tác chẳng hạn). Cần thiết phải có điều kiện này cho người tự ứng cử, vì: một là, theo quan điểm lấy dân làm gốc, nhân dân là tai mắt, họ biết ai tốt, ai xấu, họ là “mắt sàng” đầu tiên để sàng lọc; hai là, từ đó mà tránh được tình trạng bắt đầu công tác chuẩn bị bầu cử đã có hàng trăm người sẵn sàng nộp hồ sơ tự ứng cử, trong khi số đại biểu được bầu cũng chỉ đến con số hàng trăm.

Theo chúng tôi, không nên đặt ra nhiều điều kiện khác đối với người tự ứng cử (như lý lịch tư pháp, chứng nhận sức khỏe...) vì sẽ có ý kiến cho là “phân biệt đối xử” rất khó giải thích. Riêng kiều bào có quốc tịch Việt Nam tự ứng cử cũng chỉ cần hướng dẫn thêm là “lấy chữ ký của cử tri nơi tạm trú ở trong nước” (không phải lấy chữ ký cử tri ở ngoài nước).

Các điều kiện đối với người tự ứng cử (cả trong nước và ngoài nước) như trên là chặt chẽ và đơn giản. Lấy chữ ký của cử tri là thông lệ bầu cử của nhiều Nghị viện trên thế giới và qua lấy chữ ký cử tri, ai có tiền án, tiền sự hay có “dấu tích” gì thì cử tri cũng biết. Đối với kiều bào có quốc tịch Việt Nam tự ứng cử, thì tiêu chuẩn ĐBQH là phải dành ít nhất 1/3 thời gian cho hoạt động của Quốc hội, có nghĩa là người Việt Nam định cư ở nước ngoài muốn làm ĐBQH thì ít nhất cũng phải tạm trú ở trong nước mỗi năm 1/3 thời gian theo quy trình làm việc của Quốc hội, nên trước khi ứng cử, họ phải có thời gian tạm trú ở Việt Nam và để cử tri nơi họ tạm trú đã biết rõ về họ.

2.3. Tổng số đại biểu Quốc hội

Trước hết, đây là con số rất quan trọng, chi phối rất nhiều chế định của Luật Bầu cử ĐBQH và công tác triển khai thực hiện Luật, do đó hầu như chưa bao giờ Luật giao cho UBTVQH quyết định tổng số ĐBQH mà phải quy định cụ thể trong Luật. Lần này, nếu Quốc hội giao cho UBTVQH thì phải ghi vào Luật: “Quốc hội giao UBTVQH quy định tổng số ĐBQH của mỗi khóa trên cơ sở số lượng đơn vị hành chính cấp tỉnh và dân số cả nước ở thời điểm tiến hành bầu cử ĐBQH”.

Thứ hai là Luật Bầu cử ĐBQH (sửa đổi) rất cần thiết phải quy định lại tổng số ĐBQH. Một trong những căn cứ để quy định tổng số ĐBQH mỗi khóa là dân số ở thời điểm bầu cử. Năm 2002 bầu cử ĐBQH khóa XI, tính bình quân cứ 160.000 dân thì bầu 01 đại biểu; năm 2007 bầu cử ĐBQH khóa XII, do không sửa Luật Bầu cử ĐBQH nên số đại biểu được bầu vẫn chỉ không quá 500 đại biểu, trong khi dân số đã tăng thêm 5,42 triệu người và phải 173.000 dân mới được bầu 01 đại biểu. Cuộc bầu cử ĐBQH khóa XIII vào năm 2011 trong điều kiện số đơn vị hành chính cấp tỉnh giảm từ 64 xuống 63, nhưng tổng dân số cả nước ước tính sẽ là 90 triệu người, tăng 4,85 triệu so với năm 2007 và tăng 10,27 triệu so với năm 2002. Nếu quy định 01 đại biểu trên 173.000 dân thì tổng số đại biểu được bầu sẽ là 520 người; nếu 01 đại biểu trên 160.000 dân thì tổng số đại biểu được bầu sẽ là 562 đại biểu. Theo chúng tôi, nên lấy con số tròn là bầu 560 đại biểu (10 năm dân số tăng thêm gần 10,3 triệu người, số đại biểu tăng thêm 60 người) là hợp lý. Nghĩa là Luật nên quy định: “Tổng số ĐBQH nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mỗi khóa không quá 560 người; UBTVQH quy định cụ thể”.

2.4. Vấn đề bầu thêm và số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu được bầu

Thực ra, đây là việc bầu thiếu (bầu chưa đủ) ở đơn vị bầu cử nên dẫn đến số lượng đại biểu được bầu ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chưa đủ theo theo số lượng đại biểu được phân bổ, do đó cần xem xét có bầu tiếp cho đủ hay thôi. Trước hết, cần xác định nguyên nhân bầu thiếu, có thể do các nguyên nhân sau:

- Do số người ứng cử quá nhiều so với số đại biểu được bầu. Nếu số người ứng cử chỉ nhiều hơn số đại biểu được bầu là 1 (4 bầu lấy 3 hoặc 3 bầu lấy 2) thì gần như chắc chắn không bầu thiếu; nhưng nếu số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu được bầu từ 2 trở lên là có nguy cơ bầu thiếu, đặc biệt là ở những đơn vị bầu cử có số người ứng cử nhiều gấp đôi trở lên so với số đại biểu được bầu thì nguy cơ bầu thiếu là khá rõ. Tại cuộc bầu cử ĐBQH khóa XII, ở 7 đơn vị bầu cử thuộc 5 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã bầu thiếu 7 đại biểu thì đều rơi vào trường hợp số ứng cử viên nhiều hơn số đại biểu được bầu từ 2 người trở lên (trong đó 5 đơn vị có số người ứng cử là 6, bầu lấy 3 và 2 đơn vị có số người ứng cử là 5, bầu lấy 3).

- Do số người ứng cử có trình độ năng lực không thật nổi trội, lại sàn sàn như nhau, làm cho cử tri rất khó lựa chọn, kết quả là phiếu bầu bị phân tán ở mức độ lớn; người trúng cử và không trúng cử đều có yếu tố may rủi và hơn kém nhau rất ít phiếu.

- Do chỉ đạo bầu cử không chặt chẽ, xếp người ứng cử vào đơn vị bầu cử không  phù hợp với cơ cấu nên cử tri khó lựa chọn. Ví dụ tại cuộc bầu cử ĐBQH khóa XII, ở một đơn vị bầu cử của một tỉnh, Ủy ban bầu cử đã xếp 4 ứng cử viên đều là phụ nữ, đều là dân tộc thiểu số, 3 trong số 4 người đều cư trú ở một thị trấn vào cùng một đơn vị bầu cử... Kết quả là chỉ có một nữ do trung ương giới thiệu trúng cử, trong khi đơn vị bầu cử này bầu thiếu 1 đại biểu...

Vấn đề cần xem xét ở đây là, trong khi mở rộng và phát huy dân chủ (bằng cách tăng thêm nhiều ứng cử viên để cử tri rộng đường lựa chọn) thì nhiều hơn bao nhiêu là phù hợp để cử tri có thể lựa chọn được chính xác. Cũng cần phải tính đến các trường hợp, khi nào thì nhất thiết số người ứng cử phải nhiều hơn ít nhất là 2, khi nào chỉ nhiều hơn là 1. Sở dĩ tại cuộc bầu cử ĐBQH khóa XII, còn thiếu 7 đại biểu nhưng Hội đồng bầu cử và UBTVQH khóa XI quyết định không bầu thêm vì thấy trước là bầu thêm sẽ không có kết quả. Ở 7 đơn vị bầu thiếu thì 5 đơn vị còn 4 người, nếu bầu thêm sẽ bầu lấy 1 người; 2 đơn vị còn 3 người bầu lấy 1 người. Rõ ràng, bầu 4 lấy 1 và bầu 3 lấy 1 đều cực kỳ khó khăn.

Thực tiễn các cuộc bầu cử ĐBQH các khóa gần đây cho thấy, việc xác định số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu được bầu ở một đơn vị bầu cử là cực kỳ quan trọng. Có thể coi việc bảo đảm cho cho người ứng cử có cơ hội trúng cử từ 50% trở lên như một “nguyên tắc”. Theo “nguyên tắc” đó thì: nếu được bầu 3 đại biểu thì số lượng người ứng cử chỉ nên là 5, trường hợp cá biệt (nhiều người ứng cử đạt tiêu chuẩn ở mức cao) thì mới để 6; nếu được bầu 2 đại biểu thì số lượng người ứng cử tối đa là 4. Tất cả các trường hợp trên đều phải lãnh đạo, chỉ đạo rất sát sao, rất chặt chẽ mới đạt được kết quả tốt.

Đối với việc bầu thêm thì từ thực tế cuộc bầu cử ĐBQH khóa XII nói trên, lần này UBTVQH có thể phải hướng dẫn các trường hợp bầu thêm. Trước hết, đã quyết định bầu thêm là phải bầu cho đủ. Phương án 1: Nếu 4 người bầu lấy 1 thì chỉ để hai người có số phiếu bầu lần đầu cao hơn và bầu thêm lấy 1, ai có số phiếu quá bán là người trúng cử. Phương án 2: Tất cả những người không trúng cử lần đầu đều thuộc danh sách bầu thêm và bầu lấy 1, ai có số phiếu cao nhất là người trúng cử cho dù số phiếu có quá bán hay không (phương án thứ hai này đã được áp dụng trong cuộc bầu cử ĐBQH khóa IX tại Ủy ban bầu cử tỉnh Thanh Hóa, ở đơn vị bầu cử số 6, số người ứng cử là 5, số đại biểu được bầu là 3, bầu lần đầu được 2 (thiếu 1 đại biểu), trong lần bầu thêm, vẫn để danh sách 3 người ứng cử lần đầu nhưng chưa trúng cử, kết quả bầu thêm được 1 đại biểu trúng cử có số phiếu cao nhất là 47,08%). 

Thực tế, chưa có đơn vị bầu cử nào bầu lần đầu không có ai trúng cử, cũng chưa có đơn vị nào bầu thiếu đến 2 đại biểu nên không đặt ra các trường hợp này để xử lý.

2.5. Tình trạng thiếu người ứng cử sau hiệp thương

Việc thay đổi người ứng cử, trước hết về nguyên tắc, chỉ có thể thay đổi trong lần hiệp thương thứ nhất, vì đến lần hiệp thương sau mới thay đổi thì không thể tổ chức lại hiệp thương lần đầu để xem xét nhân sự mới được (chưa hiệp thương lần đầu mà đã vào danh sách vòng sau là trái luật).

Trong cuộc bầu cử ĐBQH khóa XI có 2 đơn vị bầu cử ở 2 tỉnh, mỗi đơn vị khuyết mất 1 ứng cử viên. Trong cuộc bầu cử ĐBQH khóa XII cũng có một đơn vị khuyết 1 ứng cử viên. Ở các đơn vị này, do số lượng người ứng cử chỉ nhiều hơn số đại biểu được bầu là 1 người, do đó ở mỗi đơn vị đều phải rút bớt 1 đại biểu được bầu để bảo đảm số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu được bầu. Thực tế này cho thấy, nếu ở các đơn vị bầu cử đều có số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu được bầu là 2 thì cơ bản sẽ khắc phục được tình trạng trên. Tuy nhiên, số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu được bầu ít nhất là 2 chỉ áp dụng cho lần bầu thứ nhất. Nếu phải bầu thêm thì phải theo các phương án nói tại điểm 2.4 ở trên.

2.6. Thời điểm công bố ngày bầu cử

Thực ra việc này phụ thuộc chủ yếu vào sự chuẩn bị của UBTVQH. Nếu vẫn để 105 ngày nhưng công bố trước 5 - 6 tháng và đốc thúc chuẩn bị khẩn trương thì vẫn có thể xử lý được công việc. Nhưng để tránh bị động thì nên theo phương án “cứng” là nâng thời gian chuẩn bị lên 135 ngày và điều chỉnh thời gian của mỗi công đoạn cho hợp lý hơn.

2.7. Quy định số người ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử

Như đã nói ở trên, cần phân biệt 2 trường hợp bầu lần đầu và bầu thêm. Bầu lần đầu thì mỗi đơn vị bầu cử có số người ứng cử nhiều hơn số đại biểu được bầu là 2, cá biệt mới gấp đôi. Bầu thêm thì theo các phương án nói ở điểm 2.4.

2.8. Danh sách cử tri

Nên sửa Điều 22 và Điều 27 luật hiện hành theo hướng, một số trường hợp cá biệt, đến gần ngày bầu cử, nếu cử tri nào đã đi khỏi nơi ghi danh sách cử tri (không thể về kịp) thì báo cáo với UBND xã, phường, thị trấn nơi đó để xóa tên và báo cáo với UBND xã, phường, thị trấn nơi mới đến để được ghi tên vào danh sách cử tri và tham gia bầu cử ở nơi mới.

2.9. Những trường hợp không được ứng cử ĐBQH

Theo chúng tôi, nên luật hóa 4 trường hợp sau đây:

- Người bị kỷ luật từ hình thức khiển trách trở lên mà đến thời điểm tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ 3, quyết định hình thức kỷ luật ấy vẫn còn hiệu lực;

 - Người không trung thực trong kê khai lý lịch ứng cử, gian dối về chứng chỉ, bằng cấp, không trung thực trong kê khai tài sản;

- Người đứng đầu để xảy ra những việc tham nhũng, mất đoàn kết, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị mình, gây dư luận xấu;

- Người có hành vi vi phạm chính sách, pháp luật có đơn tố cáo đã được cơ quan có thẩm quyền kết luận nhưng chưa kịp xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

2.10. Số lượng cử tri ở mỗi khu vực bỏ phiếu

Nên nâng mức trần tối đa số lượng cử tri ở mỗi khu vực bỏ phiếu lên 4.000 người cho phù hợp với tình hình thực tế về dân số ở các điểm dân cư hiện nay.

2.11. Số lượng các cuộc tiếp xúc cử tri, vận động bầu cử

Đây là vấn đề cần được thống nhất để bảo đảm sự bình đẳng giữa những người ứng cử (tránh tình trạng có người chỉ tiếp xúc vài ba cuộc, có người tới vài chục cuộc) vì luật không quy định cụ thể. Theo chúng tôi, trong hai tuần vận động bầu cử thì tiếp xúc từ 8 đến 10 cuộc là vừa (vì có nhiều tỉnh địa bàn rất rộng).

2.12. Phân bổ người ứng cử của trung ương về địa phương

Rất cần thiết phải quy định một số tiêu thức cho việc phân bổ, nếu không UBTVQH và bộ phận giúp việc rất khó thực hiện, có khi còn bị nghi ngờ. Theo chúng tôi, phải bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa những người ứng cử trong việc phân bổ. Có thể xem xét một số tiêu thức sau:

- Người ứng cử được ghi tối đa 5 nguyện vọng; nếu không thể sắp xếp được nguyện vọng nào thì phải trao đổi lại với người ứng cử để thống nhất ý kiến;

- Đại biểu tái cử nói chung tiếp tục được ứng cử ở nơi đã được bầu làm đại biểu khóa trước;

- Những người ứng cử đang giữ các vị trí lãnh đạo cấp cao trong bộ máy Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị phải ứng cử ở các vùng, các khu vực trung tâm...

2.13. Tổng kết và khen thưởng sau bầu cử

- Nên có một Điều quy định việc tổng kết cuộc bầu cử ĐBQH khóa mới.

- Sửa lại Điều 21 ...Các Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử, Tổ bầu cử hết nhiệm vụ khi Hội đồng bầu cử tổng kết xong cuộc bầu cử trong cả nước”.

Luật Bầu cử ĐBQH (sửa đổi) nên được xem xét thông qua tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII tháng 6/2010 để sau đó có thời gian triển khai công tác chuẩn bị bầu cử ĐBQH khóa XIII vào tháng 4/2011.

TS. Bùi Ngọc Thanh - Tổng thư ký cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Một số ý kiến xung quanh việc sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (13/09/2010)
Tiêu chí và yếu tố bảo đảm hiệu quả tính đại diện của Quốc hội (06/09/2010)
Về tiêu chí đại biểu Quốc hội trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO (16/12/2009)
Bất cập trong tổ chức, hoạt động thanh tra và định hướng đổi mới (02/07/2009)
Phân định thanh tra hành chính - thanh tra chuyên ngành: Những vướng mắc đặt ra cho việc sửa đổi Luật Thanh tra (15/05/2009)
Định hướng mô hình tổ chức và hoạt động thanh tra (04/05/2009)
Phân định thanh tra hành chính - thanh tra chuyên ngành: Những vướng mắc đặt ra cho việc sửa đổi Luật Thanh tra (15/05/2009)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân