Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 25/05/2017, 08:34(GMT+7)
 
Tổ chức bộ máy nhà nước

Về đối tượng điều chỉnh của Luật cán bộ, công chức
Dù Luật Cán bộ, công chức (Dự án luật) đã được Chính phủ trình Quốc hội (khoá XII) xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ ba (tháng 5/2008) và dự kiến sẽ thông qua vào kỳ họp thứ tư.

 

Dù Luật Cán bộ, công chức (Dự án luật) đã được Chính phủ trình Quốc hội (khoá XII) xem xét, cho ý kiến tại kỳ họp thứ ba (tháng 5/2008) và dự kiến sẽ thông qua vào kỳ họp thứ tư. Đây là một Dự án luật quan trọng, với nhiều vấn đề phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến tất cả các cơ quan, tổ chức và đội ngũ gần hai triệu cán bộ, công chức (CBCC) đang làm việc trong  hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, cơ sở. Tính phức tạp của Dự án luật xuất phát từ chính sự đa dạng, phức tạp của các chủ thể thuộc đối tượng điều chỉnh của nó, trước hết thể hiện ở những yêu cầu rất khác nhau trong quản lý và hoạt động của các loại CBCC trong hệ thống chính trị hiện nay. Đội ngũ CBCC này không chỉ bao gồm những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, mà còn cả những người làm việc trong tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức khác; ngay trong các cơ quan nhà nước cũng có nhiều loại CBCC hình thành từ nhiều nguồn với phương thức hoạt động khác nhau, công tác trong các cơ quan khác nhau như cơ quan dân cử, cơ quan hành chính, cơ quan tư pháp, được quản lý, sử dụng theo các tiêu chuẩn, cơ chế do các cơ quan có thẩm quyền khác nhau ban hành

Trong suốt quá trình từ khi nghiên cứu, soạn thảo, Chính phủ xem xét, thông qua và cho đến khi Quốc hội thảo luận, cho ý kiến về Dự án Luật CBCC, vấn đề đối tượng điều chỉnh của Dự án luật này luôn được coi là vấn đề quan trọng và phức tạp nhất, liên quan đến các vấn đề then chốt thuộc nội dung của Dự án luật, đặt ra không ít những khó khăn, phức tạp về kỹ thuật lập pháp. Chính vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi vấn đề này đã có nhiều loại ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau. Mỗi một loại ý kiến đều có cách tiếp cận riêng, cố gắng đưa ra đầy đủ các cơ sở lập luận khoa học để thuyết phục, với cùng một mục đích chung là xây dựng, hoàn thiện các cơ sở pháp lý thúc đẩy các nỗ lực nhằm khắc phục những bất cập, yếu kém trong công tác quản lý và sử dụng CBCC, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của cả hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu cấp bách của công cuộc đổi mới, phát triển và hội nhập của đất nước.

 1. Các loại ý kiến trong việc xác định đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC

Có hai loại ý kiến chủ yếu về đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC:

1.1. Loại ý kiến thứ nhất xuất phát từ thực tiễn điều chỉnh pháp lý về vấn đề CBCC ở nước ta trước khi ban hành Pháp lệnh CBCC năm 1998[1] và trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm phổ biến của các nước trên thế giới, cho rằng, chỉ cơ quan nhà nước và công chức nhà nước mới là đối tượng điều chỉnh của Luật CBCC. Không quá chú trọng vào việc kế thừa thực tiễn pháp lý đang tồn tại, những người đưa ra và ủng hộ loại ý kiến này mong muốn có một bước cải cách triệt để chế độ pháp lý về quản lý, sử dụng CBCC. Cơ sở lý luận then chốt của loại quan điểm này là dựa trên quan niệm phổ biến về khái niệm công vụ, công chức. Theo đó, công vụ được hiểu là hoạt động gắn liền với thực thi quyền lực nhà nước, nhân danh nhà nước và được thực hiện bởi đội ngũ công chức nhà nước; công chức được hiểu là người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong cơ quan nhà nước, hưởng lương từ ngân sách nhà nước[2]; công vụ và công chức có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong thực thi quyền lực nhà nước để quản lý nhà nước mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật. Quan điểm này cũng dựa trên định hướng chính trị của Đảng được nêu ra tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, nêu rõ: "ban hành Luật về Công chức, công vụ; xác định rõ cơ quan, công chức nhà nước được làm những gì luật cho phép". 

Loại ý kiến trên đề nghị, cán bộ làm việc trong tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội là cán bộ chính trị hưởng lương từ ngân sách không thuộc đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC, mà được điều chỉnh bởi một đạo luật riêng, đó là Luật Cán bộ chính trị; đội ngũ viên chức làm việc trong các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công được điều chỉnh bởi Luật Viên chức.

Có thể thấy rõ, loại ý kiến này tiếp cận vấn đề theo hướng coi trọng, đề cao những đặc điểm riêng, những yêu cầu cụ thể khác nhau trong hoạt động tác nghiệp, cũng như phương thức quản lý đối với từng loại CBCC: CBCC làm việc trong cơ quan nhà nước, cán bộ làm việc trong tổ chức chính trị, cán bộ làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội. Từ đó, đối với mỗi loại CBCC cần thiết phải có một đạo luật riêng để điều chỉnh nhằm xây dựng và hoàn thiện các chuẩn mực pháp lý trong việc quản lý, sử dụng phù hợp với tính chất, đặc điểm, yêu cầu đối với từng loại CBCC, thúc đẩy việc chuyên môn hoá, chuyên nghiệp hoá, nâng cao chất lượng, đặc biệt là chất lượng chuyên môn của từng loại CBCC.

1.2. Loại ý kiến thứ hai cho rằng, xuất phát từ tính đặc thù của hệ thống chính trị ở nước ta - hệ thống có đặc điểm lớn nhất là do một đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền và bảo đảm tính kế thừa và phát triển các quy định của Pháp lệnh CBCC hiện hành, bảo đảm sự ổn định trong quản lý đội ngũ CBCC của cả hệ thống chính trị, thì cần quy định đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và CBCC làm việc trong các cơ quan, tổ chức này. Phù hợp với đối tượng điều chỉnh này thì tên gọi Luật CBCC là hợp lý. Cần nói thêm là trong việc nhấn mạnh tính kế thừa Pháp lệnh CBCC hiện hành trong xây dựng Luật CBCC, đã có hai loại ý kiến: một loại cho rằng, nên kế thừa nguyên vẹn; loại khác lại đề nghị cần bổ sung tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, đồng thời nên xem xét lại vấn đề có nên đưa CBCC cấp xã vào đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật.

Có thể thấy, loại ý kiến này nhấn mạnh vào tính thống nhất của hệ thống chính trị do một đảng duy nhất lãnh đạo. Và để bảo đảm tính thống nhất này, những đặc điểm, yêu cầu chung trong quản lý, sử dụng các loại CBCC trong cả hệ thống chính trị từ trung ương, đến địa phương, cơ sở phải được coi trọng và phải được điều chỉnh bởi một hệ thống chuẩn mực pháp lý chung tập trung vào một đạo luật.

1.3. Điểm chung của hai loại ý kiến trên là đều thống nhất về việc coi những người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công không phải đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC. Tuy còn có ý kiến khác nhau về việc có nên coi những người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các đơn vị sự nghiệp công là CBCC thuộc đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC, nhưng rõ ràng, đạt được sự thống nhất cơ bản về việc không đưa đội ngũ hơn 1, 4 triệu viên chức đang làm việc trong các tổ chức sự nghiệp dịch vụ công (chiếm 71% tổng số biên chế CBCC của cả hệ thống chính trị) vào phạm vi đối tượng điều chỉnh của Dự án luật, cũng như nhất trí về lộ trình, bước đi, giải pháp được Chính phủ đề ra để thực hiện việc này, thực sự là một bước đột phá mạnh mẽ trong cải cách hành chính. 

Như vậy, có hai cách tiếp cận chủ yếu trong việc xác định, lựa chọn đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC. Các nhà soạn thảo, các cơ quan có thẩm quyền đứng trước hai lựa chọn khó khăn trong việc quy định đối tượng điều chỉnh của Dự án luật. Mỗi lựa chọn đều có những cơ hội, thuận lợi nhất định, nhưng cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, phức tạp, thách thức cần phải vượt qua trong việc giải quyết những vấn đề thuộc về tư tưởng chỉ đạo và nội dung cơ bản của Dự án luật, bảo đảm đúng mục tiêu, quan điểm chỉ đạo đặt ra cho việc xây dựng Dự án[3]. Trên thực tế, Chính phủ đã chấp nhận quan điểm và cách tiếp cận của loại ý kiến thứ hai, theo đó, Dự án Luật CBCC đã quy định: "Luật này áp dụng đối với CBCC và các cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội"[4].

2. Việc xác định đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC - cơ sở lý luận và thực tiễn

Vấn đề đặt ra là việc quy định đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn nào là hợp lý, xuất phát và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, đồng thời cũng tiếp cận được các chuẩn mực chung được thừa nhận rộng rãi trên thế giới trong vấn đề công vụ, công chức, bảo đảm thể hiện được tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu đề ra. 

Đặc điểm lớn nhất của hệ thống chính trị nước ta là hệ thống một đảng duy nhất lãnh đạo - Đảng Cộng sản Việt Nam. CBCC, xét đến cùng vẫn là khâu then chốt trong việc bảo đảm cho tính ổn định, thống nhất, tính mục tiêu và duy trì bản chất và sự sống còn của hệ thống chính trị này. Quan điểm cơ bản nhất của Đảng ta về cán bộ là Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời đề cao trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và người đứng đầu tổ chức[5]. Đổi mới công tác cán bộ trong bộ máy nhà nước, cũng như trong các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị, không thể tách rời đổi mới công tác quản lý cán bộ trong cả hệ thống chính trị. Luật CBCC phải là đạo luật cơ bản về CBCC, là cơ sở pháp lý thúc đẩy và tạo điều kiện cho Đảng thực hiện tốt vai trò, chức năng lãnh đạo, quản lý thống nhất công tác CBCC trong cả hệ thống chính trị. Nói cách khác, Luật CBCC trước hết phải đem lại sức mạnh luật pháp cho các nguyên tắc lãnh đạo, quản lý CBCC của Đảng cầm quyền. Đó là yêu cầu cơ bản nhất mang tính chất sống còn, bảo đảm duy trì và củng cố tính chất đặc thù của hệ thống chính trị nước ta, trước khi muốn nói đến những đặc điểm và yêu cầu riêng, đặc thù về tiêu chuẩn trình độ, năng lực, phẩm chất, về chức trách và phận sự, về quản lý, sử dụng đối với từng loại CBCC làm việc trong bộ máy Đảng, đoàn thể, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công.    

Về mặt thực tiễn, nếu mỗi loại CBCC có một đạo luật riêng để điều chỉnh thì rõ ràng tính thống nhất, đồng bộ trong lãnh đạo, quản lý của Đảng đối với công tác CBCC trong cả hệ thống chính trị sẽ khó được bảo đảm một cách tốt nhất. Bởi vì, nếu mỗi loại CBCC được điều chỉnh bởi một mặt bằng pháp lý riêng, theo đó, mỗi đạo luật sẽ chú trọng, tập trung chủ yếu vào các quy định cụ thể nhằm củng cố và phát triển những đặc điểm và yêu cầu riêng đối với mỗi loại CBCC, tất yếu làm cho hệ thống pháp luật về CBCC đứng trước nguy cơ thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán và ổn định cần thiết. Điều này có thể dẫn đến sự chia tách, phân biệt về pháp lý, sự khác biệt trong quản lý, sử dụng, đãi ngộ đối với CBCC công tác tại các cơ quan, tổ chức khác nhau trong hệ thống chính trị; tạo ra những trở ngại cho việc phát huy tiềm năng, sức mạnh tổng hợp của đội ngũ CBCC trong cả hệ thống chính trị (một lợi thế do đặc điểm của hệ thống chính trị ở nước ta đem lại), ảnh hưởng đến việc bảo đảm thực hiện tính liên thông, thực hiện luân chuyển liên tục giữa các loại CBCC trong hệ thống chính trị. Việc thực hiện thống nhất lãnh đạo và quản lý công tác cán bộ của Đảng sẽ không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc từ thể chế pháp luật về CBCC. Và đó chính là nguy cơ góp phần làm hạn chế, thậm chí có thể làm suy yếu vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.   

Có thể thấy, việc quy định đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC do Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến là hợp lý. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, công cuộc đổi mới, đẩy mạnh hội nhập kinh tế và hợp tác quốc tế đang đặt ra những yêu cầu cấp bách về nâng cao chất lượng của từng loại CBCC, đặc biệt là đội ngũ công chức hành chính nhà nước. Và dưới góc độ xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền, xét đến cùng, CBCC vẫn là khâu then chốt, quyết định nhất trong thực hiện pháp luật, thực thi công vụ. Chính vì lẽ đó, không thể không tính đến mục đích của cách tiếp cận trong vấn đề quản lý, sử dụng CBCC của loại ý kiến thứ nhất nói trên.

3. Khó khăn, thách thức đặt ra từ quy định về đối tượng điều chỉnh của Dự án Luật CBCC

Từ việc xác định đối tượng điều chỉnh là "CBCC và các cơ quan, tổ chức, đơn vị của nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội", thì khó khăn và thách thức lớn nhất đối với Dự án Luật CBCC là phải xác định rõ khái niệm và quy định cụ thể về CBCC trong từng loại cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị. Tránh tình trạng quy định chung như Dự thảo luật, có thể dẫn đến việc hiểu và vận dụng trong thực tế khác nhau, gây trở ngại cho việc công tác quy hoạch, đào tạo và quản lý đối với từng loại CBCC. Đó chính là vấn đề phân loại CBCC trong hệ thống chính trị để có những điều chỉnh cụ thể trong Dự án luật. Việc phân loại và phân định rõ từng loại công chức trong hệ thống chính trị dựa vào tính chất, vị trí, vai trò và chức năng của từng cơ quan, tổ chức là tạo cơ sở cho việc quy định cụ thể những yêu cầu về tiêu chuẩn trình độ, năng lực, phẩm chất, nội dung và phương thức quản lý đối với từng loại CBCC làm việc trong các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị.

Trong các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của công chức, cũng như việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý CBCC, cách tiếp cận trong Dự án Luật CBCC vẫn giống cách tiếp cận của Pháp lệnh CBCC hiện hành: chỉ điều chỉnh những vấn đề chung nhất của CBCC trong cả hệ thống chính trị, còn những điểm đặc thù, khác biệt của từng loại CBCC: cán bộ chính trị, CBCC của bộ máy nhà nước, cán bộ của tổ chức chính trị - xã hội, thì giao lại cho Chính phủ hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định cụ thể. Quy định theo cách tiếp cận này của Dự án luật có ưu điểm là tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho việc phát triển, hoàn thiện những quy định chung nhất đối với các loại CBCC hiện có; nhấn mạnh và đề cao những yêu cầu cơ bản nhất đối với đội ngũ CBCC trong cả hệ thống chính trị, tạo điều kiện cho việc thống nhất lãnh đạo, quản lý đội ngũ cán bộ của Đảng, nhất là thuận lợi cho việc bố trí, điều động, sử dụng linh hoạt, liên thông các loại CBCC giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, trong cả chiều ngang và chiều dọc. Tuy vậy, bên cạnh những đặc điểm và yêu cầu chung về vị trí, vai trò của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị thì giữa tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan nhà nước có những điểm khác nhau rất cơ bản; đội ngũ CBCC hoạt động trong từng loại cơ quan, tổ chức này có những đặc điểm riêng, có yêu cầu đặc thù. Trước yêu cầu bảo đảm ổn định, chuyên nghiệp hoá trong bố trí, phân công nhiệm vụ cho CBCC, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động công vụ, nhiệm vụ, thì những đặc điểm, yêu cầu riêng của từng loại CBCC đòi hỏi phải được coi trọng và điều chỉnh bởi hệ thống các chuẩn mực pháp lý riêng, nhằm phát huy tiềm năng và phù hợp với đặc điểm của mỗi loại CBCC; tạo cơ sở để khắc phục khuynh hướng "hành chính hoá" hoặc "nhà nước hoá" đội ngũ cán bộ trong tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, góp phần đổi mới hệ thống chính trị. Chính vì vậy, Dự án Luật CBCC cần phân loại CBCC, trên cơ sở đó, bổ sung những quy định điều chỉnh những vấn đề cụ thể hơn, phù hợp với đặc điểm và yêu cầu của từng loại CBCC (cán bộ làm việc trong tổ chức chính trị, CBCC nhà nước, cán bộ làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội). Làm được như vậy cũng sẽ góp phần khắc phục đáng kể tính chất "khung", tính chất "nguyên tắc" trong các quy định của Dự thảo Luật CBCC.

Theo hướng này, kết cấu và nội dung của Dự án Luật CBCC phải có sự thay đổi rất lớn. Ngoài những quy định chung, Dự án luật cần có những phần (hoặc chương) quy định riêng về từng loại CBCC: Phần về cán bộ công tác trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, phần về CBCC nhà nước và phần về cán bộ làm việc trong các tổ chức chính trị - xã hội. CBCC thuộc đối tượng điều chỉnh của mỗi phần quy định này, nhất là CBCC nhà nước, cũng cần tiếp tục được phân loại để có sự điều chỉnh cụ thể hơn.

Như vậy, sự lựa chọn và hướng xử lý như trên về đối tượng điều chỉnh, về kết cấu nội dung của Dự án Luật CBCC sẽ bảo đảm thực hiện được mục tiêu, yêu cầu, cách tiếp cận của cả hai loại ý kiến nói trên về điều chỉnh pháp lý đối với vấn đề quản lý, sử dụng đội ngũ CBCC ở nước ta trong thời kỳ mới. Tuy nhiên, nếu vậy, Dự án Luật CBCC sẽ là một dự án luật lớn và càng phức tạp hơn, phải thu hút được sự tham gia đóng góp rộng rãi của các cơ quan, tổ chức trong cả hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, cơ sở, cần phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, trí tuệ của các chuyên gia, các nhà khoa học, thì mới có thể hoàn thành được. Điều này lại là một thách thức mới đặt ra cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc tiếp tục nghiên cứu, chỉnh lý và thông qua Dự án Luật, để Luật CBCC thực sự là một công cụ pháp lý mạnh, có tính khả thi, tạo được bước đột phá trong việc khắc phục những bất cấp, yếu kém về quản lý, sử dụng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC của cả hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới, phát triển và hội nhập của đất nước.


 

[1] Quy chế công chức Việt Nam ban hành theo Sắc lệnh số 76-SL ngày 20/5/1950 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký. Lời nói đầu của Quy chế này quy định: "Công chức Việt Nam là những công dân giữ một nhiệm vụ trong bộ máy Nhà nước của chính quyền nhân dân, dưới sự lãnh đạo tối cao của Chính phủ".

Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ): công chức được hiểu là "Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ở nước ngoài đã được xếp vào một ngạch hưởng lương theo ngân sách nhà nước"   

[2] Dự án cải cách hành chính – VIE/92/002 - Từ điển hành chính Anh – Pháp - Việt, HN 1992, tr.69, 70,71, 72, 73

[3] Tư tưởng chỉ đạo của Dự án Luật CBCC là "đổi mới một cách cơ bản hoạt động công vụ và quản lý CBCC phù hợp với thể chế chính trị ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, gắn với quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa"; Mục tiêu hàng đầu của Dự án Luật là Luật CBCC phải trở thành công cụ hữu hiệu nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, góp phần vào thực hiện đổi mới hệ thống chính trị và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" (Tờ trình số 53/TTr-CP ngày 23/4/2008 của Chính phủ về Dự án Luật CBCC)

 

[4] Khoản 2 Điều 1 Dự thảo Luật CBCC.

 

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam – Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXBCTQG, HN 2006, Tr.293  

Ths. Nguyễn Phước Thọ
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Một số ý kiến xung quanh việc sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (13/09/2010)
Tiêu chí và yếu tố bảo đảm hiệu quả tính đại diện của Quốc hội (06/09/2010)
Về việc sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (16/12/2009)
Về tiêu chí đại biểu Quốc hội trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO (16/12/2009)
Bất cập trong tổ chức, hoạt động thanh tra và định hướng đổi mới (02/07/2009)
Phân định thanh tra hành chính - thanh tra chuyên ngành: Những vướng mắc đặt ra cho việc sửa đổi Luật Thanh tra (15/05/2009)
Định hướng mô hình tổ chức và hoạt động thanh tra (04/05/2009)
Phân định thanh tra hành chính - thanh tra chuyên ngành: Những vướng mắc đặt ra cho việc sửa đổi Luật Thanh tra (15/05/2009)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân