Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/07/2018, 05:31(GMT+7)
 
Bàn về dự án luật

Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi: các quan điểm khác nhau và đề xuất lựa chọn
Quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi: các quan điểm khác nhau và đề xuất lựa chọn
Ảnh minh họa: Internet

 “Dù tôi rất ghét việc phải điền vào các mẫu kê khai tài sản nhưng đó là một lời nhắc nhở thường xuyên về nghĩa vụ đạo đức và bảo đảm trách nhiệm giải trình của tôi trước công chúng”.

 

(Phát biểu của Thẩm phán Toà tối cao Hoa Kỳ Stephen G.Breyer tại Diễn đàn Toàn cầu chống tham nhũng năm 1999).

 

 

 

Tóm tắt: Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi đang được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá XIV (tháng 5 - 6/2018). Dự thảo đã dành một chương riêng để quy định về minh bạch, kiểm soát tài sản, thu nhập với những thay đổi lớn mang tính căn bản. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau về các quy định của Dự thảo.

 

Từ khóa: kiểm soát tài sản; kê khai tài sản; xác minh tài sản; phòng, chống tham nhũng; cán bộ, công chức

 

Abstract: The draft Law on Anti-Corruption (the Amendments) is being submitted to the National Assembly for its comments at the 5th Session of the XIV National Assembly (May - June 2018). The draft has set a separate chapter for regulations on transparency, assets and incomes controlling with substantial changes. However, there are still controversial arguments on the provisions under this draft law.

 

Keywords: assets controlling; assets declarations; asset verification; anti-corruptions; cadres; public servants.

 

 

1.   Những bất cập, hạn chế trong cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức trong Dự thảo Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi

 

Kiểm soát tài sản, thu nhập (TSTN) của cán bộ, công chức (CBCC) chủ yếu được thực hiện thông qua việc kê khai, công khai TSTN của CBCC[1].

Tuy nhiên cần lưu ý rằng, một cơ chế kiểm soát TSTN chỉ thực sự hiệu quả khi pháp luật không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra việc thực hiện trách nhiệm kê khai, công khai TSTN của CBCC mà phải tập trung vào nhiệm vụ khó khăn hơn, đó là xác minh tính trung thực của nội dung kê khai thông qua việc giám sát sự hình thành và những biến động của TSTN của CBCC để có biện pháp xử lý kịp thời, thoả đáng khi CBCC không thực hiện nghĩa vụ kê khai hoặc kê khai không trung thực. Kinh nghiệm thế giới cho thấy, hiệu quả của cơ chế kiểm soát TSTN phụ thuộc rất nhiều vào quy định của các quốc gia về cơ quan có thẩm quyền kiểm soát TSTN; độ rộng/hẹp của đối tượng phải kê khai, công khai TSTN; nội dung và tần xuất kê khai, công khai; phạm vi và cách thức xác minh thông tin, tính trung thực của việc kê khai và chế tài đối với các vi phạm trong tương quan với nguồn nhân lực và cơ sở vật chất của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

 

1.1.           Thẩm quyền kiểm soát TSTN 

 

Theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng (PCTN) hiện hành, Việt Nam không có một cơ quan chuyên trách để quản lý thống nhất các bản kê khai, chịu trách nhiệm tiếp nhận các phản ánh về những nghi ngờ về tài sản, chủ động tiến hành theo dõi, xác minh khi thấy có những biến động đáng ngờ về TSTN của CBCC. Vì vậy, Điều 32 Dự thảo Luật PCTN sửa đổi hiện đề xuất 02 phương án: (1) Giao Thanh tra Chính phủ kiểm soát TSTN của người có nghĩa vụ kê khai hưởng phụ cấp chức vụ từ 0,9 trở lên công tác tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, chính quyền địa phương; Cơ quan thanh tra hoặc đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ nơi không có cơ quan thanh tra tại các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở trung ương, thanh tra cấp tỉnh kiểm soát TSTN đối với những người có hệ số phụ cấp chức vụ dưới 0,9 công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình; (2) Giao Thanh tra Chính phủ kiểm soát TSTN của người có nghĩa vụ kê khai hưởng phụ cấp chức vụ từ 0,9 trở lên công tác tại các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, chính quyền địa phương; Giao Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội kiểm soát TSTN của những người có nghĩa vụ kê khai công tác tại ngành hoặc cơ quan, tổ chức này và giao Ban Công tác đại biểu thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội kiểm soát TSTN của đại biểu Quốc hội chuyên trách. Theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân hạn chế hiệu quả của cơ chế kiểm soát TSTN hiện nay là do chúng ta đang thiếu một bộ máy chuyên trách và đủ năng lực để đảm nhiệm nhiệm vụ này khiến thẩm quyền bị phân tán và dàn trải qua rất nhiều đầu mối[2]. Do đó, việc giao Thanh tra Chính phủ (phương án 1) là cơ quan chuyên trách kiểm soát TSTN tỏ ra hợp lý hơn. Phương án này có ưu điểm là tập trung được đầu mối, đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, nguồn nhân lực với đội ngũ cán bộ chuyên trách, được đào tạo để đáp ứng nhiệm vụ được giao. Hơn nữa, do kiểm soát TSTN là một nội dung phức tạp, luôn đòi hỏi sự vào cuộc của nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau, vì vậy, việc hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa một cơ quan chuyên trách với các cơ quan khác có liên quan (ví dụ như cơ quan kiểm toán, thuế, cơ quan đăng ký tài sản, các thiết chế tài chính…) sẽ thuận lợi hơn việc cùng lúc phải hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa quá nhiều cơ quan khác nhau.

 

1.2.           Đối tượng kê khai TSTN  

 

Bên cạnh các đối tượng kê khai TSTN theo Luật PCTN hiện hành (bao gồm những người có chức vụ từ phó trưởng phòng cấp huyện trở lên và tương đương cùng một số chức danh khác), Điều 37 Dự thảo Luật PCTN được sửa đổi theo hướng mở rộng đối tượng phải kê khai TSTN, theo đó mọi CBCC đều có nghĩa vụ kê khai TSTN lần đầu. Với lập luận rằng, so với nhóm đối tượng được hưởng phụ cấp chức vụ từ 0,9 trở lên hoặc dưới 0,9 nhưng làm việc ở một số vị trí công tác trong lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao cần phải kiểm soát chặt chẽ thì trước mắt, nhóm đối tượng CBCC còn lại chỉ cần kiểm soát TSTN ở mức độ đơn giản hơn nhằm hình thành cơ sở dữ liệu chung phục vụ cho công tác quản lý cán bộ, nhưng không thuộc diện đối tượng bị kiểm soát TSTN. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, việc xác định đối tượng phải kê khai, công khai TSTN như hiện nay vẫn quá rộng, dàn trải và hình thức. Trách nhiệm quản lý thủ công khoảng hơn một triệu bản kê khai hằng năm là thách thức gây áp lực quá lớn cho các cơ quan chức năng khi nguồn lực nhà nước chưa đảm bảo, đặc biệt trong bối cảnh đầu mối cơ quan kiểm soát TSTN bị thu hẹp. Ngay cả khi quy định đối tượng có nghĩa vụ kê khai lần đầu chỉ nhằm phục vụ công tác dữ liệu thông tin mà không thuộc diện bị kiểm soát TSTN thì trên thực tế, khi cơ quan chức năng không theo dõi được biến động và xác minh tính trung thực trong việc kê khai của nhóm này thì yêu cầu họ phải kê khai, công khai TSTN là rất hình thức và tốn kém.

 

Ngoài ra, việc xác định đối tượng phải kê khai, công khai TSTN như hiện nay đã bỏ qua một nhóm đối tượng rất quan trọng, đó là những người thân thích khác của họ như bố, mẹ, con đã thành niên, cộng sự thân thiết của đối tượng phải kê khai TSTN. Có chuyên gia đã nhận định rằng, nếu giữ nguyên quy định như hiện ti thì việc kiểm soát TSTN sẽ giống như kiểm soát nước trong “bình thông nhau”. Bởi lẽ, TSTN bất hợp pháp có thể được CBCC chuyển dịch sang những đối tượng này để trốn tránh sự kiểm soát của pháp luật.

 

1.3.           TSTN phải kê khai

 

Về cơ bản, Điều 38 Dự thảo Luật PCTN sửa đổi giữ nguyên quy định về TSTN phải kê khai bao gồm: quyền sử dụng đất, nhà ở, công trình xây dựng và các tài sản khác gắn liền với đất, nhà ở, công trình xây dựng; kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các loại động sản khác mà mỗi tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên; tài sản, tài khoản ở nước ngoài. Bên cạnh đó, Điều luật này còn bổ sung thêm quy định kê khai: “tổng thu nhập tính từ lần kê khai trước đến thời điểm kê khai kế tiếp”. Dự thảo Luật tại Điều 42 cũng quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, đơn vị kiểm soát TSTN, trong đó yêu cầu người kê khai TSTN phải giải trình khi có biến động tăng về TSTN. Có thể thấy, nỗ lực của các nhà làm luật trong việc kiểm soát cả sự hình thành và biến động của TSTN. Tuy nhiên, Dự thảo Luật PCTN sửa đổi vẫn chưa khoả lấp được một lỗ hổng rất lớn trong quy định về kiểm soát TSTN khi bỏ qua việc kiểm soát cả sự giảm đi về TSTN của CBCC (để đầu tư hoặc chi tiêu... ) trong khi việc gia tăng hay giảm đi TSTN đều tiềm ẩn nguy cơ tham nhũng.    

 

1.4.           Công khai bản kê khai TSTN 

 

Điều 41 Dự thảo Luật PCTN sửa đổi không có những thay đổi lớn so với Luật PCTN hiện hành về vấn đề này. Theo số liệu của Bộ Công an[3], trong giai đoạn từ 1/6/2006 đến 31/8/2015, việc phát hiện tham nhũng từ các biện pháp nghiệp vụ của ngành công an là 1.187 vụ (chiếm 26%); từ các nguồn khác như thanh tra, kiểm toán, các cơ quan nhà nước là 733 vụ (chiếm 16%) và phát hiện từ nguồn tố giác, tin báo về tội phạm là 2.628 vụ (chiếm 58%). Như vậy, đa số vụ việc tham nhũng tại Việt Nam được phát hiện và xử lý dựa trên tố cáo của người dân và cơ quan báo chí. Có thể do những lo ngại về việc bảo đảm an toàn cho người có tài sản khi công khai bản kê khai TSTN của họ nên pháp luật chưa cho phép việc công khai bản kê khai TSTN tại nơi cư trú theo tinh thần rất tiến bộ của Kết luận 21 ngày 25/5/2012 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3. Tuy nhiên, với cách quy định như Dự thảo luật, pháp luật đã bỏ qua một lực lượng rất hùng hậu có thể chung sức tham gia và giám sát tính chính xác, trung thực của bản kê khai TSTN, đồng thời tạo điều kiện cho hiện tượng “đóng cửa bảo nhau” tại các cơ quan công quyền.

 

1.5.           Xác minh TSTN 

 

Ngoài 03 trường hợp cần xác minh theo quy định của Luật hiện hành (khi có dấu hiệu rõ ràng về việc kê khai không trung thực, khi có tố cáo về việc kê khai không trung thực; khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền), Dự thảo Luật đã bổ sung thêm 02 trường hợp đó là: (i) đối với người được lựa chọn ngẫu nhiên theo kế hoạch hàng năm; (ii) khi có biến động về tổng giá trị TSTN trong năm từ 300 triệu đồng trở lên. Như vậy, đối với người trước khi bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại vẫn có thể bị xác minh TSTN khi có 1 trong 5 căn cứ nêu trên. Tuy nhiên, việc quy định về trách nhiệm giải trình trước khi ra quyết định xác minh TSTN (Điều 49) tỏ ra không phù hợp. Bởi lẽ, đây nên là bước cần thực hiện sau khi cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xác minh yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai giải trình.

 

Về thời hạn xác minh TSTN. Điều 50 Dự thảo Luật PCTN sửa đổi quy định chậm nhất là 30 ngày và có thể kéo dài nhưng không quá 60 ngày kể từ khi ra quyết định xác minh, cơ quan có thẩm quyền xác minh phải ban hành kết luận xác minh TSTN. Quy định chưa thực sự phù hợp vì lý do sau:

 

Thứ nhất, nguồn hình thành TSTN ở Việt Nam rất phức tạp. Thu nhập của CBCC không chỉ từ lương mà chủ yếu từ nhiều nguồn khác nhau và tích luỹ dần thành những khối tài sản mà người sở hữu khó giải trình. Một nghiên cứu của Thanh tra Chính phủ năm 2012 về “Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn” đối với gần 2.000 CBCC ở 10 địa phương và 05 bộ, ngành cho thấy, gần 80% số người được hỏi thừa nhận có thu nhập ngoài lương và các khoản phụ cấp theo lương; mức thu nhập ngoài lương của CBCC rất đa dạng và bao gồm những khoản thu nhạy cảm, dễ liên quan đến tham nhũng;

 

Thứ hai, việc kiểm tra, xác minh nội dung kê khai TSTN cần được thực hiện trên cơ sở kiểm tra thông tin chéo với nguồn dữ liệu bên ngoài (từ cơ quan thuế, bảo hiểm, ngân hàng, cơ quan quản lý nhà đất…) mà những cơ sở dữ liệu này hiện nay thường ở dạng hỗn hợp hoặc còn chắp vá;

 

Thứ ba, cơ chế phối hợp, trao đổi thông tin giữa các cơ quan có thẩm quyền còn nhiều bất cập. Ví dụ, các ngân hàng thường vận dụng quy định chỉ khi có quyết định thanh tra, khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì mới cung cấp tài liệu cho cơ quan điều tra[4] để từ chối không cung cấp thông tin, tài liệu. Vì vậy, các nhà làm luật cần cân nhắc thêm về thời hạn xác minh TSTN để đảm bảo tính khả thi của quy định và không loại trừ khả năng phải đồng thời sửa đổi pháp luật về ngân hàng, bảo mật thông tin để đảm bảo tính tương thích, đồng bộ.

 

1.6. Xử lý TSTN kê khai không trung thực, TSTN tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý

 

Dự thảo Luật PCTN sửa đổi đã bổ sung Điều 59 quy định về xử lý TSTN thực tế lớn hơn TSTN đã kê khai hoặc TSTN tăng thêm mà người kê khai không giải trình được một cách hợp lý về phần TSTN chênh lệch hoặc tăng thêm theo 02 phương án sau:  

 

(1). Cơ quan, đơn vị kiểm soát TSTN yêu cầu cơ quan thuế thực hiện việc thu thuế thu nhập cá nhân. Đồng thời, Dự thảo Luật sửa đổi Luật Thuế thu nhập cá nhân (bổ sung Điều 18a và điểm g khoản 2 Điều 23), quy định mức thuế suất 45%  đối với thu nhập chịu thuế do vi phạm quy định của Luật PCTN (Điều 123 của Dự thảo Luật);

 

(2) Cơ quan, đơn vị kiểm soát TSTN yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt tiền bằng 45% giá trị của phần TSTN chênh lệch hoặc tăng thêm.

 

Trong cả hai trường hợp, dự thảo Luật đều quy định người bị thu thuế hoặc bị xử phạt hành chính có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện tại Tòa án hành chính về kết luận xác minh TSTN. Việc thu thuế hay xử phạt hành chính không loại trừ trách nhiệm hình sự nếu các cơ quan có thẩm quyền chứng minh tài sản đó do phạm tội mà có.

 

Phương án thứ nhất gây nhiều ý kiến trái chiều khi có nhiều người cho rằng, đánh thuế phần TSTN bất minh đồng nghĩa với việc đóng dấu hợp pháp cho khối tài sản này; ý kiến khác cho rằng, đối với các TSTN mà người có nghĩa vụ kê khai không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc nhưng các cơ quan tiến hành tố tụng cũng chưa chứng minh được nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản thì có thể coi đây là các khoản thu nhập phát sinh mà người kê khai chưa nộp thuế và buộc họ phải nộp thuế là phù hợp trong điều kiện hiện nay. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, vẫn có trường hợp vì mục đích cá nhân mà CBCC kê khai không trung thực về TSTN của mình (ví dụ, không kê khai một số bất động sản) nhưng khi được yêu cầu vẫn giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản và chứng minh tài sản đã được đóng thuế thì không thể tiếp tục đánh thuế lên khối tài sản này để tránh hiện tượng “đánh thuế hai lần”.

 

Có nhiều ý kiến đồng tình với phương án thứ 2 khi biện giải rằng, do mối quan hệ giữa Nhà nước với CBCC trong kiểm soát TSTN là mối quan hệ hành chính, CBCC có nghĩa vụ phải nghiêm chỉnh chấp hành Luật PCTN, trong đó có nghĩa vụ trung thực, minh bạch trong kê khai TSTN. Vì vậy, đối với TSTN thực tế lớn hơn TSTN đã kê khai hoặc TSTN tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai không giải trình được hợp lý về nguồn gốc thì Nhà nước có thể xử phạt hành chính đối với hành vi kê khai không trung thực, không minh bạch về TSTN. Tuy nhiên, vấn đề là hiện nay Luật Xử lý vi phạm hành chính chưa quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực PCTN, chưa quy định về thẩm quyền xử phạt và mức phạt. Do đó, nếu áp dụng theo phương án này thì cần sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính để bổ sung về lĩnh vực PCTN, cùng với đó là sửa đổi về thẩm quyền, mức phạt.

 

2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức ở Việt Nam

 

- Về thẩm quyền kiểm soát TSTN: Sửa đổi các quy định có liên quan để bảo đảm nguồn nhân lực và cơ sở vật chất đầy đủ cho việc tổ chức và kiểm tra, giám sát việc kê khai, công khai TSTN theo hướng giao Thanh tra Chính phủ làm đầu mối quản lý, theo dõi, giám sát, kiểm soát, tiếp nhận, xử lý thông tin, xác minh làm rõ nguồn gốc TSTN của người có nghĩa vụ kê khai trên toàn quốc; cho phép cơ quan này áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để kiểm tra, xác minh thông tin trong bản kê khai. Nếu người có nghĩa vụ kê khai giải trình không hợp lý về nguồn gốc hoặc biến động của tài sản, cơ quan này có quyền khởi kiện vụ án dân sự tại tòa để bảo vệ quyền, lợi ích của Nhà nước. Trong quá trình tiếp tục xác minh, nếu phát hiện dấu hiệu tham nhũng thì chuyển cơ quan điều tra có thẩm quyền xử lý về mặt hình sự. Ngoài ra, cần tăng cường thêm biên chế cho cơ quan thanh tra để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

 

- Về đối tượng phải kê khai TSTN: Thu hẹp hợp lý diện đối tượng có nghĩa vụ kê khai, công khai TSTN, theo tinh thần xử lý tiêu cực, tham nhũng của Nghị quyết Trung ương 3 là chống tham nhũng phải "trên trước, dưới sau; trong trước, ngoài sau”, nhấn mạnh trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, bao gồm những cán bộ cấp cao hoặc nhóm người làm việc trong những ngành, lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao, nên bắt đầu từ các công chức hiện giữ chức vụ và hưởng phụ cấp trách nhiệm từ 0,9 (Giám đốc Sở và tương đương) trở lên.

 

- Về TSTN phải kê khai và tần xuất kê khai, công khai: Quy định bổ sung vào danh mục phải kê khai thông tin về: (i) các khoản nợ, các tài sản giảm so với kỳ kê khai trước; (ii) các khoản chi đầu tư và chi tiêu dùng có giá trị lớn với mục chi và giá trị cụ thể nhằm đối chiếu với TSTN đã kê khai; (iii) sở hữu cổ phần tại các công ty; (iv) vị trí/chức vụ, tư cách thành viên hội đồng quản trị công ty; (iv) quà tặng có giá trị; (v) các lợi ích (vật chất và phi vật chất) khi những lợi ích đó có khả năng xung đột với trách nhiệm, nghĩa vụ của đối tượng kê khai trong quá trình thi hành công vụ;

 

Bổ sung quy định nghĩa vụ kê khai TSTN sau một khoảng thời gian (có thể từ 3-5 năm) sau khi thôi chức để phát hiện những TSTN bất minh mà người có chức vụ, quyền hạn giấu giếm khi đương chức. Cân nhắc thêm việc quy định kê khai bổ sung bởi  khó thực hiện trong thực tế, do những trở ngại về kỹ thuật (tính hợp lý của mốc số lượng hay tỷ lệ TSTN tăng thêm được xác định để phải khai bổ sung, cách tính TSTN tăng thêm…)[5];

 

- Về công khai bản kê khai TSTN: Sửa đổi các quy định có liên quan để cho phép người dân có thể tiếp cận nội dung của các bản kê khai, từ đó tăng cường sự giám sát của các cơ quan chức năng và xã hội với việc kê khai, công khai TSTN. Tuy nhiên, để vừa đảm bảo tính công khai, minh bạch mà vẫn đảm bảo được quyền riêng tư của đối tượng kê khai, có thể thực hiện việc này theo một trong hai phương án sau:

 

Phương án 1: Vẫn giữ nguyên các quy định như hiện tại nhưng tạo điều kiện cho người dân giám sát tính xác thực của bản kê khai thông qua việc cho phép tiếp cận có điều kiện và kiểm soát việc sử dụng thông tin để không bị lạm dụng, ảnh hưởng đến người kê khai. Căn cứ theo Luật Tiếp cận thông tin, có thể thiết lập một cơ chế cung cấp thông tin về bản kê khai TSTN nếu công dân yêu cầu cung cấp thông tin trình bày được lý do và cam kết bảo đảm việc sử dụng thông tin vào mục đích phát hiện những sai phạm hoặc bất minh của việc kê khai và phải chịu trách nhiệm về động cơ của mình; cam kết không sử dụng thông tin vào mục đích thương mại.

 

Phương án 2: Quy định cơ chế công khai rộng rãi bản kê khai TSTN tới công chúng (có thể trên cổng thông tin điện tử của cơ quan, đơn vị công tác) nhưng nghiên cứu phân loại nhóm thông tin công khai trước công chúng và nhóm thông tin bảo mật. Ví dụ, liên quan đến những bất động sản được liệt kê trong bản kê khai TSTN, có thể quy định chỉ công khai trước công chúng số lượng bất động sản, diện tích, giá trị, nhưng những thông tin về địa chỉ của bất động sản, số tài khoản tại ngân hàng... thì được bảo mật.

 

- Về việc xác minh TSTN: Bổ sung quy định về căn cứ xác minh TSTN khi có dấu hiệu cho thấy một người có mức sống không tương xứng với TSTN được kê khai, công khai. Đặc biệt, cần đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin vào việc kê khai và quản lý kê khai TSTN thông qua việc xây dựng phần mềm cơ sở dữ liệu quốc gia về TSTN theo hướng tích hợp, kết nối đa ngành cho phép kiểm tra chéo để nhận diện các dấu hiệu bất nhất, bất thường trong các bản kê khai giữa các kỳ kê khai.

 

- Về việc xử lý TSTN kê khai không trung thực, TSTN tăng thêm không được giải trình một cách hợp lý: Cân nhắc hình sự hóa hành vi làm giàu bất chính, theo đó, “người có TSTN   không tương xứng với TSTN hợp pháp có trách nhiệm giải trình về nguồn gốc TSTN của mình” để giảm tải gánh nặng chứng minh cho các cơ quan tiến hành tố tụng.

 

Sửa đổi các quy định về chế tài áp dụng trong trường hợp vi phạm các quy định về kê khai, minh bạch TSTN theo hướng quy định cụ thể các loại vi phạm về kê khai TSTN để tùy từng tính chất, mức độ của mỗi loại mà áp dụng một hoặc đồng thời các chế tài kỷ luật, hành chính, dân sự, hình sự.

 

Đối với trường hợp TSTN tăng thêm mà người có nghĩa vụ kê khai không giải trình được hợp lý thì cơ quan chức năng đánh thuế 45% đối với khối TSTN bất minh; cơ quan quản lý thuế có thẩm quyền xem xét, xử lý truy thu thuế đối với những khoản thu nhập tăng thêm mà không kê khai. Kiến nghị này không mâu thuẫn với các quy định hiện hành của pháp luật hình sự, dân sự và hạn chế ít nhất việc phải sửa đổi các luật có liên quan./.


 


 [1]Việc kiểm soát TSTN còn có thể được thực hiện thông qua một số giải pháp mang tính bổ trợ khác như: hệ thống thuế thu nhập cá nhân, phương thức thanh toán bằng tài khoản, kiểm soát việc nhận và trả lại quà tặng của CBCC.

2] Hiện nay, thẩm quyền xác minh việc kê khai TSTN hiện được giao cho nhiều cơ quan, đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ, trong khi các cơ quan, đơn vị này không đủ điều kiện về quyền hạn, nhân lực, nghiệp vụ để thực hiện. Cụ thể, Thanh tra Chính phủ không quản lý trực tiếp các đầu mối kê khai tài sản mà việc quản lý các đầu mối kê khai tài sản còn thông qua các cấp hành chính của 22 Bộ, 63 địa phương, 8 cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan Đảng, Quốc hội và các cơ quan tư pháp.

3]Thanh tra Chính phủ (2017), Tổng hợp các báo cáo chuyên đề tổng kết 10 năm thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng, Công tác phát hiện, điều tra và thi hành án hình sự đối với tội phạm tham nhũng giai đoạn 2005-2015.

 [4] Thông tư số 08/VBHN-NHNN ngày 21/5/2014 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, phần II mục 2 về Cung cấp thông tin.

 [5]Vũ Công Giao (2016), Báo cáo kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát TSTN của người có chức vụ, quyền hạn và khả năng áp dụng cho Việt Nam, GIG, tr.85.

 

     Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 11/2018.

ThS. Đỗ Thu Huyền - Thanh tra Chính phủ
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Hoàn thiện các chế tài để công khai, minh bạch tài sản và thu nhập (17/07/2018)
Dự thảo Luật Tố cáo sửa đổi và vấn đề tố cáo nặc danh, mạo danh (12/07/2018)
Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng (11/06/2018)
Một số góp ý đối với các quy định về luật áp dụng và các cơ quan giải quyết tranh chấp trong Dự thảo Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt (11/06/2018)
Một số bất cập của mô hình đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt theo Dự thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt Phú Quốc, Vân Đồn, Bắc Vân Phong (06/06/2018)
Đặc xá không chỉ là việc thực hiện chính sách nhân đạo (05/06/2018)
Một số bất cập của mô hình đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt theo Dự thảo Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt Phú Quốc, Vân Đồn, Bắc Vân Phong (06/06/2018)
3.jpg
Đồng chí Nguyễn Đình Quyền, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc UBTVQH và ông Rhee, Ik Hyeon, Viện trưởng Viện Nghiên cứu pháp luật thuộc Chính phủ Hàn Quốc ký thỏa thuận hợp tác giữa hai cơ quan nghiên cứu tại Hà Nội, ngày 7/6/2018
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Đặc điểm, yêu cầu và thực trạng phân cấp quản lý đất đai hiện nay

Tổ chức thi hành pháp luật theo Hiến pháp năm 2013 - nhân tố đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp quyền trong đời sống nhà nước và xã hội

Đồng bộ hóa luật tư hiện nay trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường: sự cần thiết và định hướng

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Một số góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật An ninh mạng

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách kiến quốc trên nền tảng dân chủ

Khai mạc Phiên họp thứ 25 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân