Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ năm, 25/05/2017, 08:30(GMT+7)
 
Quốc phòng, an ninh

Lực lượng công an xã và Dự thảo Pháp lệnh công an xã
Lực lượng Công an xã ra đời và trưởng thành từ những ngày đầu thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 về "Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân", trong đó qui định phải có "một ủy viên hành chính cấp xã phụ trách công tác trị an".

                                                           

 

Lực lượng Công an xã ra đời và trưởng thành từ những ngày đầu thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số 63/SL ngày 22/11/1945 về "Tổ chức Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân", trong đó qui định phải có "một ủy viên hành chính cấp xã phụ trách công tác trị an". Đến ngày 10/10/1950, Chính phủ có Nghị định số 438/NV-NgĐ về thành lập Ban Công an xã để giữ gìn an ninh, trật tự trong xã. Gần đây nhất là ngày 23/6/1999, Chính phủ ban hành Nghị định số 40/1999/NĐ-CP quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của Công an xã. Có thể nói, lực lượng Công an xã ra đời cùng với chính quyền cách mạng; trải qua các thời kỳ cách mạng đều có những quy định pháp lý để Công an xã thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở.

Đến nay, lực lượng Công an xã đã trưởng thành và lớn mạnh về mọi mặt, có những đóng góp to lớn trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở. Trải qua hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và trong thời kỳ đổi mới, Công an xã đã được Đảng, Chính phủ trao tặng nhiều phần thưởng cao quý với 35 đơn vị Công an xã được trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang, 11 cá nhân được trao tặng danh hiệu Anh hùng. Công an xã là lực lượng trực tiếp phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội ở cơ sở, làm việc rất vất vả không kể ngày đêm, đối mặt với các tiêu cực trong xã hội và cả những hiểm nguy. Chỉ tính trong vòng 9 năm, từ khi có Nghị định số 40/1999/NĐ-CP đến nay, đã có 46 cán bộ Công an xã hy sinh và 397 cán bộ bị thương trong khi làm nhiệm vụ.

Nước ta hiện có gần 80% dân số là nông dân và gần 80% diện tích nông thôn, vẫn là một địa bàn chiến lược quan trọng của cách mạng. Mặt khác, đất nước đang trong tiến trình đô thị hóa nhanh chóng, tình hình an ninh, trật tự ở nông thôn diễn biến hết sức phức tạp, các loại tội phạm và tệ nạn cũng như các vụ trọng án đều đã diễn ra nhiều ở đây. Tại nhiều xã ven đô, ven thị đã là điểm nóng, tình hình tội phạm và tệ nạn phức tạp hơn cả những phường ở nội đô, nội thị. Trong khi đó, Nghị định số 40/1999/NĐ-CP ban hành đã lâu, một số quy định không còn đáp ứng được đòi hỏi của thực tế, nhất là tổ chức bộ máy, chính sách chế độ của Công an xã trong tình hình hiện nay. Vì vậy, cần thiết phải có một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn, cụ thể là Pháp lệnh Công an xã để quy định đầy đủ, toàn diện về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, hoạt động và chế độ chính sách đối với Công an xã. Hiện nay, Dự thảo Pháp lệnh Công an xã đã được trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại phiên họp thứ 9, ngày 30/6/2008.    

Theo chúng tôi, những quy định mới của Pháp lệnh Công an xã cần phải xuất phát từ thực tiễn và giải quyết những tồn tại vướng mắc của thực tế từ sự vận hành gần 9 năm qua của Nghị định số 40/1999/NĐ-CP ngày 23/6/1999 về Công an xã, đồng thời cập nhật những vấn đề mới, những định hướng trong tương lai. Theo chúng tôi, Pháp lệnh cần nâng cấp những quy phạm đã ổn định và được thực thi tốt của Nghị định số 40/1999/NĐ-CP về Công an xã, đồng thời tập trung giải quyết tốt một số vấn đề mà thực tế đang đặt ra cho cả hiện tại và tương lai.

Một là, Pháp lệnh này điều chỉnh về Công an xã hay cả Công an thị trấn (hiện nay, thị trấn chưa bố trí Công an chính quy). Trong toàn quốc hiện có 9.104 xã, 612 thị trấn; trong đó có 11 thị trấn ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có tổ chức Công an thị trấn như Công an phường. Như vậy, tuyệt đại đa số các thị trấn (601 thị trấn) vẫn bố trí lực lượng bán chuyên trách như Công an xã. Vấn đề đặt ra là, nếu chỉ điều chỉnh về Công an xã thì còn hơn 601 thị trấn như xã sẽ hoạt động theo cơ chế nào? Nếu hoạt động như Công an phường thì phải cần một số lượng biên chế cảnh sát và tiền lương để cho 601 thị trấn này hoạt động như Công an phường. Bình quân một thị trấn bố trí tám cảnh sát thì phải có 4.808 biên chế cảnh sát. Như vậy, trong điều kiện biên chế và ngân sách hiện nay thì theo chúng tôi, chưa cho phép chính quy hóa lực lượng công an 601 trị trấn ngay được. Vì vậy, Pháp lệnh Công an xã vẫn phải áp dụng cho Công an xã và các thị trấn, những nơi chưa bố trí được lực lượng Công an chính quy. 

Hai là, chức năng, nhiệm vụ của Công an xã phải rõ ràng cụ thể, có nhiệm vụ chung của Công an xã và nhiệm vụ cụ thể của Trưởng, Phó Công an xã và công an viên. Đi liền với nhiệm vụ phải có quyền hạn và trách nhiệm của Công an xã. Công an xã hàng ngày phải tiếp nhận, xử lý các vụ việc xảy ra tại cơ sở; có những xã phải đi 2-3 ngày đường mới tới nơi xảy ra vụ việc, nên không thể chờ Công an cấp trên đến giải quyết. Do đó, có những vụ việc cho phép công an xã được làm nghiệp vụ bước đầu, nếu không thì hiện trường sẽ bị xáo trộn, người bị hại chết không kịp lấy sinh cung. Vì thế phải cho phép Công an xã được giữ người, lấy lời khai người bị hại, người làm chứng, người vi phạm. Nếu trình độ Công an xã còn hạn chế thì phải hướng dẫn, đào tạo. Trong Chương II, Dự thảo Pháp lệnh Công an xã  (trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại phiên họp thứ 9, ngày 30/6/2008) đã thể hiện tương đối đầy đủ về nhiệm vụ của Công an xã, nhưng chúng tôi thấy nên bổ sung một số quy định cụ thể hơn để chống hiện tượng lạm dụng quyền hạn, đồng thời cũng không làm bó tay lực lượng Công an xã trước tình hình hoạt động manh động, liều lĩnh và nhất là việc chống lại người thi hành công vụ của một số người vi phạm pháp luật. Đó là quyền tạm giữ người vi phạm pháp luật, quyền được cưỡng chế áp giải những người vi phạm pháp luật nhưng không chấp hành yêu cầu của Công an xã về trụ sở; quyền bắt giữ, khám người, tước vũ khí của những người phạm pháp quả tang, những kẻ dùng hung khí gây rối, đâm đánh người để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm pháp, khi những vụ việc này nếu không kịp thời ngăn chặn trong chốc lát sẽ dễ thành án mạng hoặc gây thương tích nặng cho người khác. Việc lập biên bản phạm pháp và lấy lời khai ban đầu, nhất là những trường hợp buộc phải lấy sinh cung ngay, và làm những việc cần thiết ban đầu là hết sức quan trọng, vì lúc đó Công an huyện chưa đến kịp để giải quyết, thậm chí có xã phải đi 2-3 ngày đường mới tới nơi thì hiện trường đã bị xáo trộn, người bị hại đã chết, đối tượng đã cao chạy xa bay.

Ba là, tổ chức bộ máy của Công an xã (Điều 12 Dự thảo Pháp lệnh) đang là vấn đề lớn, có nhiều ý kiến khác nhau. Tổ chức bộ máy của Công an xã tốt, hợp lý thì mới hoàn thành được nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự đang diễn biến đầy phức tạp trong tình hình hiện nay. ở các nước phát triển, trật tự trị an cấp xã do lực lượng Công an chính quy đảm nhiệm bằng cách lập đồn cảnh sát hoặc trạm Cảnh sát thuộc lực lượng Công an chính quy. Chúng ta cũng đã nghiên cứu vấn đề này, nhưng trong điều kiện hạn chế về biên chế và ngân sách tiền lương, nên chưa thể thực hiện như các nước khác, nên đành phải chấp nhận phương án Công an xã là lực lượng tại chỗ, bán chuyên trách. Thử làm phép tính với 9.104 xã và 612 thị trấn, giả sử nếu bình quân một xã có năm cảnh sát thì phải có 48.580 biên chế, với mức lương bình quân một triệu đồng /tháng thì chúng ta phải có ngân sách lương hàng tháng gần 100 tỉ đồng. Vì vậy, chúng ta chưa thể lập đồn, trạm cảnh sát ở xã như các nước. Do vậy, trước mắt và trong tương lai gần, việc bố trí công an xã là lực lượng vũ trang bán chuyên trách là hợp lý. Song vấn đề bố trí bộ máy bán chuyên trách thế nào cho hợp lý cũng không phải là đơn giản, nó đụng đến biên chế cấp xã và chính sách tiền lương, vốn là những vấn đề làm phát sinh vướng mắc và phát sinh các ý kiến khác nhau. Trước đây, theo Nghị định số 40/1999/NĐ-CP, mô hình tổ chức Công an xã có một Trưởng, một Phó Công an xã, các xã trọng điểm phức tạp có hai Phó Công an xã và đều được hưởng lương từ ngân sách. Công an viên được bố trí ở xóm, làng, bản, ấp và được hưởng phụ cấp từ ngân sách địa phương và do địa phương quyết định; khi có Nghị định 114/2003/NĐ-CP và Nghị định số 121/2003/NĐ-CP về công chức và chế độ tiền lương cấp xã, thì chỉ còn Trưởng Công an xã là công chức, các Phó Công an xã không còn là công chức và không được hưởng lương, nên đã có hơn 2.663 cán bộ Công an xã xin nghỉ việc. Đây cũng là điều dễ hiểu khi họ làm việc vất vả, đối mặt với hiểm nguy mà chế độ tiền lương và bảo hiểm không có. Vì vậy, trong Dự thảo Pháp lệnh Công an xã cần khắc phục vấn đề này, cụ thể nên quy định ở mỗi xã cần có một Trưởng Công an xã, và một Phó Công an xã. Đây là cơ cấu cứng, còn đối với xã loại một; xã trọng điểm, có phức tạp về an ninh, trật tự; xã biên giới hải đảo thì cần có thêm một Phó Công an xã; là cán bộ được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Còn công an viên được bố trí ở thôn, bản, làng, phum, sóc, ấp; những nơi có đông dân cư (trên 1000 khẩu) thì nên có thêm một công an viên và bố trí thay nhau thường trực tại trụ sở Công an xã. Công an viên phải được hưởng phụ cấp. Số lượng, cơ cấu cụ thể và mức phụ cấp của công an viên nên giao cho Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phù hợp với tình hình thực tế ở từng địa phương. Hiện nay, tất cả các tỉnh đều có phụ cấp cho công an viên nhưng ở mức độ khác nhau, tỉnh cao nhất 900.000đồng /tháng, tỉnh thấp nhất 110.000đồng /tháng. Mức phụ cấp tùy theo khả năng của từng địa phương, nhưng trong tình hình giá cả hiện nay thì nên giải quyết phụ cấp cho công an viên ở mức tối thiểu 500.000đồng /tháng.

Bốn là, nơi làm việc của Công an xã cũng là vấn đề cần cân nhắc. Hiện nay có 6.751 đơn vị Công an xã có phòng làm việc riêng hay có trụ sở độc lập (72,24%), 2.517 đơn vị Công an xã làm việc chung với Văn phòng ủy ban nhân dân xã (26,94%), còn 77 đơn vị chưa có trụ sở làm việc phải nhờ nhà dân hoặc cơ quan khác (0,82%). Do vậy, Pháp lệnh quy định cho Công an xã có trụ sở hoặc nơi làm việc riêng là phù hợp và giao cho ủy ban nhân dân có trách nhiệm giải quyết. Nếu để làm việc chung trụ sở thì sẽ ảnh hưởng đến công việc của lực lượng khác, nhất là lúc tạm giữ người và giải quyết các vụ việc có nhiều người vi phạm.

Công an xã là lực lượng quan trọng, nòng cốt trong việc bảo đảm an ninh, trật tự ở cơ sở, hàng ngày tiếp xúc, giải quyết các vụ việc vi phạm pháp luật, nên rất cần có một hành lang pháp lý cụ thể và có hiệu lực cao, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chính sách chế độ và các điều kiện bảo đảm để Công an xã hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự ở địa bàn cơ sở. Trong điều kiện hiện nay chưa cho phép chính quy hóa lực lượng Công an xã, nhưng phải có bộ máy tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và chính sách phù hợp để Công an xã hoàn thành nhiệm vụ của mình.

PGS, TS. Đặng Anh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Chất vấn và hậu chất vấn

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân