Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 16/11/2018, 02:39(GMT+7)
 
Bàn về dự án luật

Pháp luật về bảo vệ người tố cáo - thực trạng và một số kiến nghị
Pháp luật về bảo vệ người tố cáo - thực trạng và một số kiến nghị
Ảnh minh họa/nguồn internet

Tóm tắt: Pháp luật về bảo vệ người tố cáo là phương tiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo, của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước; góp phần tích cực vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Bài viết phân tích một số vấn đề lý luận, nêu  thực trạng về pháp luật bảo vệ người tố cáo hiện nay và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.

Từ khóa: pháp luật bảo vệ người tố cáo; bảo vệ người tố cáo; người tố cáo; bảo vệ người tố cáo bằng pháp luật.

Abstract: The law on the protection of denouncers is a means to protect the legitimate rights and interests of the denouncers, individuals, organizations and interests of the State; contributing positively to the prevention and fights against corruption; ensureing the social stability  and safety. This article provides analysis of a number of theoretical issues, the current status of the protection of the denouncers, and suggests some recommendations for improvements.

Keywords:  The law on denouncers, protection of denouncers, protection of denouncers, protection of denouncers by law.

 

1.   Khái niệm, nội dung pháp luật về bảo vệ người tố cáo

Hiến pháp năm 2013 khẳng định: tố cáo là quyền cơ bản của công dân. Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cán bộ, công chức, cơ quan, tổ chức, cá nhân. Để bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo, Nhà nước ban hành các quy định về quyền của người tố cáo và bảo vệ người tố cáo, ghi nhận quyền và nghĩa vụ của họ; xác định trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiếp nhận đơn, thư tố cáo và có biện pháp để bảo vệ người tố cáo; góp phần tích cực trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng; bảo đảm trật tự an toàn xã hội. Những quy định này hợp thành pháp luật về bảo vệ người tố cáo. Vì vậy có thể hiểu, pháp luật về bảo vệ người tố cáo là tổng thể các quy định pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bảo vệ người tố cáo, góp phần đấu tranh phòng chống tham nhũng và bảo đảm trật tự xã hội.

Nội dung pháp luật về bảo vệ người tố cáo gồm các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ thể bảo vệ người tố cáo (là các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tố cáo, cơ quan công an các cấp, Ủy ban nhân dân các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể...); quy định về đối tượng, phạm vi bảo vệ người tố cáo; quy định về trình tự, thủ tục bảo vệ người tố cáo; quy định về biện pháp, hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật (VPPL) bảo vệ người tố cáo.

Cũng như hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về bảo vệ người tố cáo phải đáp ứng những yêu cầu nhất định. Trước hết, giữa các nhóm, các bộ phận của pháp luật về bảo vệ người tố cáo phải có mối liên hệ chặt chẽ, cùng hướng đến mục tiêu bảo vệ người tố cáo. Các quy định của pháp luật trong lĩnh vực này phải xác định rõ phạm vi, đối tượng, quyền, nghĩa vụ của người tố cáo; quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bảo vệ người tố cáo; thủ tục và trình tự thực hiện hoạt động bảo vệ người tố cáo.

Quy định về trình tự, thủ tục bảo vệ người tố cáo phải nhanh gọn, tiện lợi và mang lại hiệu quả trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cũng như tính mạng và tài sản, vị trí việc làm, thu nhập của người tố cáo và người thân của họ. Quy định về các biện pháp và hình thức xử lý được áp dụng cho các chủ thể có hành vi VPPL bảo vệ người tố cáo phải có tác dụng giáo dục, răn đe, ngăn ngừa, đấu tranh phòng, chống các hành vi đe dọa, trù dập, trả thù của các đối tượng bị tố cáo; tạo tâm lý an tâm, môi trường xã hội an toàn, qua đó động viên công dân thực hiện quyền tố cáo; góp phần to lớn trong công tác đấu tranh phòng, chống các hành vi VPPL.

Pháp luật về bảo vệ người tố cáo có tính khả thi, hiệu quả sẽ khuyến khích người dân thực hiện quyền tố cáo của mình, góp phần tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng và các hành vi VPPL khác; đồng thời, hạn chế tình trạng những đơn thư nặc danh, mạo danh; loại bỏ dần những hành vi de dọa, trù dập, trả thù người tố cáo; góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Pháp luật về bảo vệ người tố cáo phải đồng bộ, thống nhất; quy định rõ ràng và cụ thể trách nhiệm của các cơ quan hành chính, cơ quan bảo vệ pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền và tổ chức khác, tránh tình trạng các cơ quan này đùn đẩy trách nhiệm không thực hiện, hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ bảo vệ người tố cáo.

2.   Thực trạng pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở nước ta hiện nay

Hiện nay, pháp luật về bảo vệ người tố cáo được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như: Hiến pháp năm 2013; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và 2012; Nghị định số 59/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/01/2013 chi tiết hoá và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2012; Luật Tố cáo năm 2011; Nghị định số 76/2012/NĐ-CP của Chính phủ ngày 03/10/2012 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Tố cáo; Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015… Đặc biệt, Luật Tố cáo năm 2011 dành một chương (Chương V) quy định về bảo vệ người tố cáo và giao trách nhiệm cho Chính phủ quy định chi tiết về các biện pháp bảo vệ người tố cáo, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo. Theo đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2012/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo. Nghị định đã chi tiết hóa các biện pháp bảo vệ người tố cáo và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc bảo vệ người tố cáo. Các văn bản nêu trên ghi nhận cụ thể các quyền, nghĩa vụ của người tố cáo; quy định khá rõ phạm vi, đối tượng, thủ tục tiến hành, quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ an toàn tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản của người tố cáo và các quyền, lợi ích vật chất, tinh thần cho người thân thích của người tố cáo. Pháp luật ghi nhận các biện pháp và hình thức xử lý đối với các hành vi VPPL về bảo vệ người tố cáo.

Bên cạnh những kết quả đạt được, nhìn chung, pháp luật về bảo vệ người tố cáo có những hạn chế nhất định, chưa hoàn toàn đáp ứng được yêu cầu và thực tiễn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo trong cuộc đấu tranh đối với các hành vi VPPL, chưa đóng vai trò tích cực trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay. Theo đánh giá của Thanh tra Chính phủ, “các quy định về bảo vệ người tố cáo khó thực hiện, chưa tạo nên thiết chế pháp lý cần thiết để bảo vệ người tố cáo một cách hiệu quả và thực chất, chưa phù hợp với thực tiễn nhằm bảo vệ kịp thời, hiệu quả người tố cáo và người thân thích của người tố cáo”[1]. Pháp luật về bảo vệ người tố cáo chưa đồng bộ nên dẫn đến tình trạng có nhiều trường hợp tố cáo về tham nhũng chưa được giải quyết kịp thời, hay tình trạng đùn đẩy giữa các cơ quan có trách nhiệm giải quyết. Thậm chí có tình trạng bao che, không giải quyết hoặc giải quyết không đúng yêu cầu, nội dung tố cáo.

Cụ thể, pháp luật về bảo vệ người tố cáo còn những hạn chế, bất cập sau đây:

Về trình tự, thủ tục bảo vệ người tố cáo: Luật Tố cáo năm 2011 chưa quy định đy đủ về trình tự, thủ tục, thời gian bảo vệ người tố cáo. Ví dụ, theo quy định của Điều 36 Luật Tố cáo năm 2011, Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khi tiếp nhận tố cáo, giải quyết tố cáo, khai thác, sử dụng thông tin, tài liệu do người tố cáo cung cấp có trách nhiệm giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của người tố cáo; đồng thời phải áp dụng biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc đề nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có biện pháp cần thiết để giữ bí mật thông tin và bảo vệ cho người tố cáo”. Như vậy, quy định này chỉ mới ghi nhận về trách nhiệm của cơ quan bảo vệ tố cáo một cách chung chung và chưa quy định chi tiết cụ thể về thời gian các biện pháp, quy trình để bảo vệ bí mật thông tin về người tố cáo. Tương tự, việc bảo vệ uy tín, danh dự, nhân phẩm và các quyền nhân thân khác của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo (tại khoản 2 Điều 16 và tại mục a, khoản 2, Điều 18 Nghị định số 76) cũng chưa cụ thể về thời gian thực hiện bảo vệ của người có thẩm quyền[2].

Trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền bảo vệ người tố cáo và mối quan hệ giữa các cơ quan này trong việc bảo vệ người tố cáo: Luật Tố cáo năm 2011 chưa xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, cơ quan trong việc tiếp nhận, xử lý tố cáo, trách nhiệm phối hợp bảo đảm thông tin về người tố cáo không bị tiết lộ ra bên ngoài, chưa xác định rõ cơ quan nào là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người tố cáo và người thân thích của họ[3]. Pháp luật cũng chưa có quy định về bảo vệ những người cung cấp thông tin, hỗ trợ người tố cáo, người nắm giữ các thông tin, tài liệu quan trọng làm chứng cứ cho nội dung tố cáo.

Các biện pháp bảo vệ người tố cáo: Quy định của pháp luật về các biện pháp bảo vệ người tố cáo chưa bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất và đầy đủ. Cụ thể, liên quan đến bảo vệ người tố cáo, trong số hành vi bị cấm, Luật Tố cáo năm 2011 quy định cấm 3 hành vi: Tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo; Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo; cản trở việc thực hiện quyền tố cáo; đe doạ, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo (Điều 8). Trong khi đó, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 chỉ cấm một hành vi: “đe doạ, trả thù, trù dập người… tố giác, tố cáo, cung cấp thông tin về hành vi tham nhũng” (Điều 68).

Pháp luật về bảo vệ người tố cáo chưa thực sự được coi là phương tiện để “bảo vệ, khen thưởng xứng đáng người dũng cảm tố cáo hành vi tham nhũng; đồng thời xử lý nghiêm mọi hành vi trù dập, trả thù người tố cáo tham nhũng hoặc lợi dụng việc tố cáo tham nhũng để gây mất đoàn kết nội bộ, vu khống, hãm hại người khác”[4], vì vậy, chưa huy động được sức mạnh của quần chúng nhân dân, sức mạnh cộng đồng, tập thể; cũng như “chưa động viên, khuyến khích được những người có trách nhiệm, dũng cảm đấu tranh chống các hành vi VPPL[5].

Việc áp dụng các biện pháp xử lý kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức và buộc thôi việc) hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự mới chỉ thực hiện được đối với người giải quyết tố cáo mà chưa đề cập đến các chủ thể khác có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo. Điều 46 Luật Tố cáo năm 2011 quy định: Người giải quyết tố cáo có hành vi tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác có thể làm lộ danh tính của người tố cáo; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo vệ người tố cáo; cản trở việc thực hiện quyền tố cáo; đe dọa, trả thù, trù dập, xúc phạm người tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật. Trong khi đó, Luật Trách nhiệm bồi thường (TNBT) của Nhà nước năm 2009 không quy định cụ thể về trình tự, thủ tục thực hiện TNBT về hành vi VPPL liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo mà gây thiệt hại cho người tố cáo và người thân của người tố cáo.

Bên cạnh đó, giữa Luật Tố cáo năm 2011 và BLHS năm 2015 chưa thống nhất trong quy định về các biện xử lý khi các chủ thể có trách nhiệm có hành vi VPPL. Cụ thể, Điều 8 Luật Tố cáo năm 2011 liệt kê 14 hành vi bị cấm trong đó có 03 hành vi liên quan đến bảo vệ người tố cáo. Tuy nhiên, Điều 166 BLHS năm 2015 không truy cứu tất cả các hành vi được liệt kê tại Điều 8 Luật Tố cáo năm 2011, mà chỉ quy định người nào “lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo gây thiệt hại cho người khiếu nại, tố cáo; trả thù người khiếu nại, tố cáo. Sự không thống nhất trong quy định của hai văn bản này có thể dẫn tới việc bỏ lọt tội phạm”[6].

Biện pháp xử lý hành chính: Điều 46 và Điều 48 Luật Tố cáo năm 2011 quy định biện pháp xử lý hành chính khi người giải quyết tố cáo và các chủ thể khác thực hiện các hành vi bị cấm tại Điều 8. Tuy nhiên, pháp luật chưa có quy định riêng về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo. Do vậy, những VPPL về bảo vệ người tố cáo nếu có thì sẽ bị xử lý theo Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012[7]. Điều này sẽ gặp không ít khó khăn bởi vì theo quy định của pháp luật thì vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm.

Kỹ thuật lập pháp: Tại một số quy định của pháp luật, ngôn ngữ lập pháp được sử dụng chưa rõ ràng, chưa tạo ra sự nhận thức thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật; một số quy định mang tính “tùy nghi” hay “định tính”, gây khó khăn cho quá trình áp dụng pháp luật, hoặc áp dụng không thống nhất. Ví dụ, Điều 48 Luật Tố cáo năm 2011 quy định “người tố cáo và người khác có liên quan có hành vi quy định tại các khoản 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 và 13 Điều 8 của Luật này hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về tố cáo và giải quyết tố cáo thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”. Ở đây, thuật ngữ “người khác” không rõ, khó xác định và áp dụng. Tương tự, khoản 1 Điều 14 Nghị định số 76 quy định: “Khi có căn cứ cho rằng việc tố cáo có thể gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe của mình hoặc người thân thích của mình, người tố cáo có quyền yêu cầu người giải quyết tố cáo, cơ quan công an nơi người tố cáo, người thân thích của người tố cáo cư trú, làm việc, học tập hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có thẩm quyền áp dụng biện pháp bảo vệ”; Khoản 3 Điều 14 Nghị định số 76/2012 quy định: “trường hợp xác định hành vi xâm hại người được bảo vệ đang diễn ra hoặc có nguy cơ xảy ra ngay tức khắc người có thẩm quyền giải quyết tố cáo phải chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan Công an nơi người được bảo vệ… bố trí lực lượng, phương tiện, công cụ để bảo vệ an toàn cho người được bảo vệ tại nơi cần thiết; tạm thời di chuyển người được bảo vệ đến nơi an toàn”. Ở đây, cụm từ “khi có căn cứ cho rằng…” hay các thuật ngữ “nơi cần thiết”, “nơi an toàn” dẫn đến những cách hiểu khác nhau[8], dễ dẫn đến việc các cơ quan chức năng áp dụng tùy tiện hoặc không có cơ sở xác minh làm tiền đề cho việc áp dụng các biện pháp bảo vệ[9].

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên đây, trong đó có thể kể đến nguyên nhân pháp luật về bảo vệ người tố cáo nhìn chung vẫn chưa thể theo kịp với những biến đổi nhanh chóng của cuộc sống; do nhận thức chưa đúng, chưa mang tính hệ thống, cho nên những sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực pháp luật về bảo vệ người tố cáo chưa đồng bộ; hoạt động nghiên cứu lý luận về pháp luật bảo vệ người tố cáo chưa được quan tâm đúng mức trong khi việc tổng kết thực tiễn thực hiện pháp luật lĩnh vực này chưa thường xuyên…

3.   Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo  

Để hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp như sau:

-    Bổ sung quy định về quyền được yêu cầu bồi thường của người tố cáo.

            Điều 35 Luật Tố cáo năm 2011 ghi nhận: Người tố cáo có quyền yêu cầu người có trách nhiệm giải quyết tố cáo, các cơ quan, tổ chức, cá nhân gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình và người thân của mình phải bồi thường những tổn thất do hành vi trái pháp luật gây ra. Việc thực hiện TNBT cho người tố cáo và người thân của người tố cáo theo quy định của Luật TNBT của Nhà nước. Tuy nhiên, Luật TNBT của Nhà nước năm 2009 chỉ xác định phạm vi thực hiện TNBT của Nhà nước là bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án. Như vậy, cần phải bổ sung nội dung, trình tự, thủ tục bồi thường cho người tố cáo khi sửa đổi, bổ sung Luật TNBT của Nhà nước hiện hành.

-    Xác định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị khi để xảy ra những hành vi VPPL về bảo vệ người tố cáo gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tố cáo và người thân của họ.

-    Hoàn thiện quy định về quy trình nghiệp vụ về tiếp nhận, xử lý và giải quyết tố cáo; trong đó, nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân, tổ chức trong việc bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo.

-    Bổ sung và tăng cường các biện pháp xử lý hình sự đối với các hành vi VPPL về bảo vệ quyền của người tố cáo và người thân của người tố cáo. Theo đó, cần bổ sung quy định của Điều 166 BLHS năm 2015 về một số hành vi VPPL liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo và người thân của người tố cáo được quy định tại Điều 8 Luật Tố cáo năm 2011 và Điều 68 Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005.

-    Cần phải xây dựng Quy chế phối hợp theo hướng xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, thời gian, trình tự, thủ tục giữa người giải quyết tố cáo với Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan Công an các cấp và các cơ quan hữu quan khác, có sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận ở các cấp, Ban Thanh tra nhân dân, trong đó xác định rõ cơ quan nào là cơ quan chịu trách nhiệm chính ở mỗi cấp để bảo vệ người tố cáo và người thân của người tố cáo. Bên cạnh đó, Quy chế phối hợp cần quy định rõ trách nhiệm của từng chủ thể, cơ quan trong việc tiếp nhận, xử lý tố cáo, trách nhiệm phối hợp bảo đảm thông tin về người tố cáo không bị tiết lộ ra bên ngoài.

-    Bổ sung quy định về biện pháp xử lý đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm nhưng vi phạm các quy định về bảo vệ người tố cáo. Như trên đã phân tích, việc áp dụng các biện pháp xử lý kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức và buộc thôi việc) hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự mới chỉ thực hiện được đối với người giải quyết tố cáo mà chưa đề cập đến các chủ thể khác có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo. Do vậy, Luật Tố cáo (sửa đổi) cần áp dụng các biện pháp trách nhiệm pháp lý không chỉ đối với người có trách nhiệm giải quyết tố cáo mà còn áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc bảo vệ người tố cáo.

-    Cần rà soát, chuẩn hóa một số điều luật hiện khó xác định hoặc dn đến những cách hiểu khác nhau, dễ dẫn tới việc các cơ quan chức năng áp dụng tùy tiện hoặc không có cơ sở xác minh làm tiền đề cho việc áp dụng các biện pháp bảo vệ. Luật Tố cáo (sửa đổi) cần bảo đảm ngôn ngữ, kỹ thuật lập pháp dễ hiểu, dễ sử dụng, bảo đảm sự thống nhất trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật.

-    Kịp thời ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn quy định cụ thể phương thức, biện pháp bảo vệ, kinh phí, phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác bảo vệ người tố cáo; đồng thời quy định chế độ khen thưởng đối với người tố cáo: cần có quy định khen thưởng đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân có thành tích về bảo vệ người tố cáo.

-    Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về Luật Tố cáo và các văn bản pháp luật về tố cáo nói chung, về bảo vệ người tố cáo nói riêng để cán bộ, công chức, viên chức, nhân dân hiểu được và yên tâm tham gia tố cáo các hành vi VPPL./.



[1]Thanh tra Chính phủ (2017), số 76 /TTr-CP Tờ trình dự thảo Luật Tố cáo (sửa đổi), tr. 2-3. Nguồn: http://duthaoonline.quochoi.vn.

[2]Nguyễn Bạch Tuyết (2016), Một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo, http://giri.ac.vn/mot-so-van-de-dat-ra-trong-viec-thuc-hien-cac-quy-dinh-phap-luat-ve-bao-ve-nguoi-to-cao_t104c2715n2164tn.aspx.

[4]Thanh tra Chính phủ (2017), Tờ trình số 76 /TTr-CP về dự án Luật Tố cáo (sửa đổi), tr. 4. Nguồn: http://duthaoonline.quochoi.vn.

[5] Thanh tra Chính phủ (2016), Báo cáo số 3537/BC – TTCP về Tổng kết 4 năm thi hành Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, tr. 22. Nguồn: http://duthaoonline.quochoi.vn.

[8] Nguyễn Kiều Hưng,Khó an tâm khi tố cáo tham nhũng”, trên http://nld.com.vn/thoi-su-trong-nuoc/kho-an-tam-khi-to-cao-tham-nhung-20141101214252654.htm, đăng ngày 01/11/2014.

[9] Xem https://towardstransparency.vn/vi/phap-luat-bao-ve-nguoi-to-cao-tham-nhung.

Nguyễn Đức Quang, ThS., Ủy ban nhân dân thị trấn Trạm Trôi, huyện Hoài Đức, Hà Nội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013 nhằm bảo đảm lợi ích người sử dụng đất nông nghiệp (13/11/2018)
Cơ cấu tổ chức trong các trường đại học công lập theo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học (06/11/2018)
Quy định hiện hành về quyền đình công của người lao động và các khuyến nghị hoàn thiện (05/09/2017)
Những vấn đề liên quan đến tuổi nghỉ hưu và góp ý hoàn thiện Dự thảo sửa đổi Bộ luật Lao động (16/08/2017)
Chính sách khoan hồng trong Dự thảo Luật Cạnh tranh nhìn từ lý thuyết trò chơi (08/08/2017)
Góp ý về trình tự, thủ tục tố cáo và giải quyết tố cáo trong Dự thảo Luật Tố cáo (sửa đổi) (03/08/2017)
Chính sách khoan hồng trong Dự thảo Luật Cạnh tranh nhìn từ lý thuyết trò chơi (08/08/2017)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân