Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 28/11/2014, 04:32(GMT+7)
 
Bàn về dự án luật

Một số ý kiến về Dự thảo Luật Thi hành án dân sự
Một số ý kiến về Dự thảo Luật Thi hành án dân sự
Quốc hội thảo luận Dự án Luật Thi hành án dân sự tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XII
Dự án Luật Thi hành án dân sự (THADS) đã được Quốc hội cho ý kiến vào kỳ họp thứ ba và dự kiến thông qua tại kỳ họp thứ tư. Ngày 4/4/2008, Chính phủ đã có Tờ trình số 31/TTr-CP về dự án Luật THADS và Dự thảo luật THADS (Dự thảo luật) kèm theo. Dự thảo Luật THADS quy định nhiều điểm mới so với Pháp lệnh THADS (Pháp lệnh) năm 2004. Tuy nhiên, về các điểm mới này còn có ý kiến khác nhau. Bài viết góp ý về một số điểm cụ thể.

1. Ngạch, tiêu chuẩn chấp hành viên

 Tại các điều 19, 20 của Dự thảo luật quy định chấp hành viên có 3 ngạch: sơ cấp, trung cấp và cao cấp, đồng thời, tiêu chuẩn để bổ nhiệm chấp hành viên quy định chỉ cần có trình độ từ trung cấp luật trở lên. Tờ trình của Chính phủ nêu ý kiến cho rằng, trong thời gian qua, tình trạng thiếu chấp hành viên diễn ra khá phổ biến. Nguồn cán bộ có trình độ cử nhân luật để bổ sung và thu hút vào các cơ quan THADS gặp rất nhiều khó khăn (nhất là ở những đơn vị miền núi, vùng sâu, vùng xa). Trong khi đó, hoạt động THADS có những loại việc tương đối đơn giản, rõ ràng, giá trị lượng tiền, tài sản phải thi hành không lớn, nên chỉ cần những người có trình độ pháp lý ở mức độ vừa phải cũng có thể thực hiện được, nhưng do pháp luật hiện hành quy định cứng tiêu chuẩn bổ nhiệm chấp hành viên phải có trình độ cử nhân luật trở lên, dẫn tới việc cơ quan thi hành án không thể tuyển những người có trình độ trung cấp luật.
      Chúng tôi tán thành với quy định có ngạch chấp hành viên vì nếu tiếp tục quy định chức danh chấp hành viên như pháp luật hiện hành (chỉ có chấp hành viên cấp huyện, chấp hành viên cấp tỉnh) sẽ rất khó khăn cho việc tổ chức thực hiện, điều động luân chuyển cán bộ, khắc phục án tồn đọng. Do đó, việc Dự thảo luật quy định ngạch chấp hành viên không phụ thuộc vào cấp hành chính sẽ khắc phục được tình trạng nêu trên, đồng thời bảo đảm được chế độ lương, phụ cấp đối với các chấp hành viên khi được điều động, luân chuyển.
      Tuy nhiên, việc quy định chấp hành viên có 3 ngạch: sơ cấp, trung cấp và cao cấp như trong Dự thảo luật cũng cần được nghiên cứu thêm. Bởi lẽ, cơ quan thi hành án khác với các cơ quan tư pháp khác như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án đều có các cơ quan trực tiếp thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử ở trung ương với các chức danh tư pháp như Điều tra viên cao cấp, Kiểm sát viên cao cấp, Kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự trung ương, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương, đều là những người tiến hành tố tụng được bổ nhiệm theo trình tự thủ tục đặc biệt (phải qua Hội đồng tuyển chọn trung ương để trình Chủ tịch nước bổ nhiệm). Còn cơ quan THADS chỉ tổ chức ở 2 cấp là cấp tỉnh và cấp huyện, không có cơ quan THADS ở trung ương. Điều 6 Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cục THADS thuộc Bộ Tư pháp giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về THADS trong phạm vi cả nước, không có chức năng trực tiếp THADS và không có chấp hành viên ở Bộ Tư pháp mà chỉ có Cục trưởng, Phó Cục trưởng, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng, Thẩm tra viên, Thẩm tra viên chính, Thẩm tra viên cao cấp và công chức khác. Khoản 2 Điều 13 Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005  của Chính phủ cũng quy định THADS cấp tỉnh có Trưởng Thi hành án, Phó trưởng Thi hành án, Chấp hành viên, Thẩm tra viên, Thẩm tra viên chính, không có Thẩm tra viên cao cấp ở cấp tỉnh. Việc quy định chấp hành viên có cả ngạch cao cấp và chủ yếu ở cấp tỉnh là chưa hợp lý, chưa bảo đảm sự thống nhất giữa hệ thống các chức danh tư pháp hiện nay ngay trong cùng một địa phương (vì ở Toà án cấp tỉnh không có Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát cấp tỉnh không có Kiểm sát viên cao cấp nhưng cơ quan thi hành án cấp tỉnh theo dự thảo lại chủ yếu là Chấp hành viên cao cấp). Do vậy, vấn đề ngạch Chấp hành viên không nên quy định trong Dự thảo luật, mà để Chính phủ quy định để bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật về cán bộ, công chức.

Về tiêu chuẩn bổ nhiệm chấp hành viên sơ cấp, chúng tôi cho rằng, Dự thảo luật quy định chấp hành viên sơ cấp chỉ yêu cầu có trình độ trung cấp luật là không phù hợp với phương hướng và nhiệm vụ cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49-NQ/TW là xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hoá tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm. Theo chúng tôi, tiêu chuẩn về trình độ chấp hành viên - kể cả sơ cấp - phải là người có trình độ đại học. Mặt khác, trong hệ thống đào tạo chuyên ngành luật hiện nay không có hệ đào tạo chính quy trung cấp luật. Để đào tạo nguồn cho các cơ quan THADS ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, vùng có điều kiện đặc biệt khó khăn về đội ngũ cán bộ, trước mắt, chúng ta có thể tuyển dụng người đã có trình độ trung cấp luật vào làm việc để tạo nguồn, nhưng sau đó phải có kế hoạch đào tạo tiếp theo hình thức cử tuyển, tại chức để bảo đảm tiêu chuẩn tốt nghiệp đại học mới bổ nhiệm làm chấp hành viên.

      2. Biện pháp bảo đảm thi hành án
      Theo quy định tại các điều 68, 69, 70 và 71 của Dự thảo luật, thì chấp hành viên có quyền chủ động hoặc theo yêu cầu của đương sự áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án: phong toả tài khoản; tạm giữ tài sản; tạm dừng việc chuyển dịch tài sản, thay đổi hiện trạng tài sản, nhằm ngăn chặn việc tẩu tán tài sản mà không cần thông báo cho đương sự. Về vấn đề này, chúng tôi thấy rằng, biện pháp thi hành án quy định tại mục 1 Chương II Dự thảo luật không phải là các biện pháp cưỡng chế thi hành án, mà là ngăn chặn người phải thi hành án có thể tẩu tán, cất giấu tài sản trước khi chấp hành viên tổ chức cưỡng chế thi hành án. Việc áp dụng biện pháp này sẽ hạn chế rất lớn đến quyền tài sản của người bị áp dụng, người có tài sản (như hạn chế quyền của người có tài khoản trong lưu thông) nên cần phải quy định rõ thời hạn áp dụng, biện pháp xử lý sau khi áp dụng, trách nhiệm của chấp hành viên... để tránh tuỳ tiện trong quá trình áp dụng. Mặt khác, sau khi ra quyết định thi hành án, chấp hành viên có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm thi hành án, trong đó có thể áp dụng biện pháp cưỡng chế ngay số tiền tương ứng với nghĩa vụ phải thi hành án trong tài khoản của người phải thi hành án, mà không cần phải áp dụng biện pháp bảo đảm nói trên. Dự thảo đã quy định các biện pháp cưỡng chế để bảo đảm thi hành án nhưng lại quy định thêm các biện pháp bảo đảm thi hành án như biện pháp khẩn cấp tạm thời để cưỡng chế thi hành án. Do đó, đề nghị cần nghiên cứu bổ sung thêm các biện pháp cưỡng chế thi hành án để tránh phải áp dụng nhiều biện pháp bảo đảm thi hành án nêu trên.
      3. Sử dụng công cụ hỗ trợ trong thi hành án
      Tại khoản 9 Điều 22 của Dự thảo luật quy định chấp hành viên được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ. Trong quá trình tổ chức thi hành án, chấp hành viên thường gặp phải sự chống đối, đe doạ về tính mạng, sức khoẻ từ phía các đương sự, một số chấp hành viên, cán bộ thi hành án đã bị hành hung, gây thương tích. Vì vậy, việc quy định chấp hành viên được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành án là phù hợp.
 Pháp luật hiện hành đã có những quy định chấp hành viên là một trong các đối tượng được trang bị và sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ. Tại khoản 3 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ) quy định rất nhiều loại công cụ hỗ trợ, gồm: các loại roi cao su, roi điện, gậy điện, găng tay điện; lựu đạn cay; súng bắn hơi cay, ngạt, độc, gây mê; bình xịt hơi cay, ngạt, độc, gây mê; súng bắn đạn nhựa, cao su, súng bắn laze, súng bắn đinh, súng bắn từ trường và các loại công cụ hỗ trợ khác. Theo quy chế này, công cụ hỗ trợ chỉ trang bị cho Đội thi hành án (điểm k khoản 1 Điều 38).
    Tại Điều 33 Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 quy định: chấp hành viên được cấp công cụ hỗ trợ để sử dụng khi thi hành công vụ. Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an quy định về việc cấp, trang bị công cụ hỗ trợ cho chấp hành viên. Việc quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ được thực hiện theo quy định của pháp luật. Do Nghị định 47/CP của Chính phủ quy định chỉ trang bị công cụ hỗ trợ cho Đội thi hành án và Pháp lệnh năm 2004 không quy định chấp hành viên và cơ quan thi hành án được cấp và sử dụng công cụ hỗ trợ, nhưng tại Điều 33 Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 lại quy định cấp và trang bị công cụ hỗ trợ cho chấp hành viên, mà số công cụ hỗ trợ quy định tại Quy chế ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP rất nhiều, nên Uỷ ban Pháp luật của Quốc hội khoá XII cho rằng, quy định của Nghị định số 50/2005/NĐ-CP là không phù hợp với Pháp lệnh năm 2004. Tuy nhiên, trong thực tế Bộ Tư pháp chỉ trang bị cho cơ quan thi hành án một loại công cụ hỗ trợ là roi điện, chứ không trang bị cho tất cả chấp hành viên. Do vậy, cần phải rà soát lại các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để xác định rõ chủng loại công cụ hỗ trợ nào cần thiết, cơ số trang bị và chỉ trang bị cho cơ quan thi hành án quản lý, khi thi hành công vụ chấp hành viên mới được giao công cụ hỗ trợ để tránh tình trạng lạm dụng việc sử dụng công cụ hỗ trợ và sự lãng phí không cần thiết. Việc quản lý, bảo quản công cụ hỗ trợ của cơ quan thi hành án phải được quy định trong Dự thảo luật theo hướng cơ quan THADS được trang bị công cụ hỗ trợ. Bộ trưởng Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ trưởng Bộ Công an quy định về chủng loại, cơ số công cụ hỗ trợ cấp cho cơ quan THADS và việc sử dụng công cụ hỗ trợ. Việc quản lý, sử dụng công cụ hỗ trợ được thực hiện theo quy định của pháp luật.
       4. Thẩm quyền ra quyết định thi hành án
     Tờ trình của Chính phủ cho rằng, từ tháng 6/1993 đến nay, công tác THADS được chuyển giao từ Toà án các cấp sang các cơ quan của Chính phủ. Do vậy, từ năm 1993 đã có sự cắt khúc, tách rời giữa hoạt động xét xử với hoạt động THADS, giữa cơ quan thi hành án với Tòa án và trở thành một trong những nguyên nhân dẫn đến việc thi hành án bị chậm, tồn đọng, nhiều vụ việc gây khiếu kiện bức xúc, kéo dài. Do đó, Chính phủ đề nghị Quốc hội cho ý kiến về việc quy định trong Dự thảo luật theo hướng, Toà án là cơ quan có thẩm quyền ra lệnh THADS, tương tự như trong lĩnh vực thi hành án hình sự (THAHS). Riêng đối với các quyết định khác có liên quan đến hoạt động thi hành án như hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ, trả lại đơn, uỷ thác thi hành án vẫn giữ như quy định của Pháp lệnh THADS năm 2004.
     Trước hết, cần phải xác định THADS và THAHS là hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau từ tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc thi hành án, trình tự, thủ tục và phương thức tổ chức thực hiện. Thực tiễn trong thời gian qua, THADS về cơ bản không có vướng mắc trong khâu ra quyết định thi hành án. Việc quy định Thủ trưởng cơ quan THADS ra quyết định thi hành án là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự và các quy định khác trong các văn bản quy phạm pháp luật về THADS. Nếu để Toà án đã xét xử sơ thẩm vụ án ra quyết định THADS như đối với THAHS thì đây là một loại quyết định của Toà án và đương nhiên, quyết định của Toà án phải được các cơ quan, tổ chức, cá nhân nghiêm chỉnh thi hành. Từ đó, không thể quy định thời hiệu THADS và cũng không thể quy định người được THADS phải có đơn yêu cầu thi hành án, đồng thời mâu thuẫn với nguyên tắc tự nguyện, thoả thuận trong THADS, không bảo đảm quyền yêu cầu thi hành án và quyền tự định đoạt tài sản của các bên đương sự. Mặt khác, nếu quy định cho Toà án ra quyết định THADS sẽ tạo thêm áp lực cho công việc của Toà án và tạo ra một thủ tục trung gian (để thực hiện quyết định THADS của Toà án, cơ quan THADS lại phải ra một quyết định tổ chức thực hiện quyết định của Toà án), đồng thời các quyết định có liên quan đến hoạt động THADS như hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ phải do người ra quyết định THADS là Toà án quyết định. Do vậy, chúng tôi đề nghị giữ nguyên quy định về thẩm quyền ra quyết định THADS như pháp luật hiện hành.
      Tuy nhiên, để nâng cao trách nhiệm của Toà án đối với những bản án, quyết định khó thi hành, tuyên không chính xác hoặc có sai sót, cần quy định cụ thể, đầy đủ về trách nhiệm của Toà án trong việc giải thích bản án, xem xét kiến nghị của cơ quan THADS, quy định thời gian trả lời kiến nghị của Toà án. Đối với những quyết định giám đốc thẩm cần phải quyết định rõ để bảo đảm tính khả thi đối với những bản án có hiệu lực đã được thi hành án.
      5. Xã hội hoá trong hoạt động thi hành án
      Điều 14 của Dự thảo luật quy định: Nhà nước khuyến khích tạo điều kiện thực hiện việc xã hội hoá trong hoạt động thi hành án; cá nhân có điều kiện theo quy định của pháp luật thì được cấp giấy phép hành nghề thi hành án theo quy định của Chính phủ.
      Việc bổ sung quy định về xã hội hoá hoạt động thi hành án trong Dự thảo luật là cần thiết nhằm thể chế hoá nội dung của Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị quy định những hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc thi hành án. Tuy nhiên, xã hội hoá THADS là một chủ trương lớn về một vấn đề hoàn toàn mới mẻ, cần phải được nghiên cứu kỹ xác định những khâu nào được xã hội hoá, những công việc gì được giao cho tổ chức, cá nhân không phải là cơ quan nhà nước thực hiện, những công việc gì không giao (ví dụ tổ chức cưỡng chế thi hành án, ra lệnh hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ THADS…). Cần có sự phân biệt là xã hội hoá THADS hay là xã hội hoá một số công việc THADS - hai vấn đề khác nhau. Trước hết, THADS là một hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước, nên không thể giao cho cá nhân không phải là chấp hành viên thực thi quyền lực đó và nếu có thì chỉ giao cho một số khâu nhất định. Do vậy, Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị cũng chỉ quy định "từng bước thực hiện việc xã hội hoá", "nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành viên); trước mắt có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo". Mặt khác, cho đến nay chưa có địa phương nào làm thí điểm, chưa có tổng kết, đánh giá thực tiễn nên quy định như Điều 14 của Dự thảo luật là chưa thể hiện rõ nguyên tắc và phạm vi cũng như nội dung xã hội hoá trong hoạt động THADS theo đúng tinh thần Nghị quyết 49/NQ-TW của Bộ Chính trị. Chúng tôi cho rằng, nội dung Điều 14 của Dự thảo luật chỉ nên quy định về mặt nguyên tắc và giao cho Chính phủ hướng dẫn thực hiện, trong đó hướng dẫn về điều kiện tổ chức, cá nhân có thể thực hiện một số công việc thi hành án, phạm vi, nội dung xã hội hoá, hình thức, thủ tục để giao cho tổ chức, cá nhân không phải là cơ quan nhà nước thực hiện một số công việc nhất định. Đồng thời, làm cơ sở để trong Nghị quyết thi hành luật này giao cho Chính phủ tổ chức thí điểm xã hội hoá một số hoạt động THADS, trong đó có vấn đề thừa phát lại.
      6. Thời hiệu yêu cầu thi hành án
     Theo quy định tại Điều 32 của Dự thảo luật, thì thời hiệu yêu cầu thi hành án được kéo dài thêm thành 5 năm (hiện hành là 3 năm) với lý do thời hiệu yêu cầu thi hành án hiện nay chưa đủ để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người được thi hành án thực hiện quyền của mình.
      Pháp luật hiện hành quy định thời hiệu THADS ba năm là phù hợp với các quy định về thời hiệu khởi kiện bảo vệ quyền dân sự, thời hạn kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm. Hết thời hạn ba năm, người được thi hành án không có quyền yêu cầu cơ quan THADS thi hành án thì bản án hoặc quyết định dân sự hết hiệu lực tổ chức thi hành, đương sự không có quyền yêu cầu cơ quan THADS thi hành. Quy định như vậy nhằm đề cao trách nhiệm của các bên đương sự đối với quyền về tài sản của mình, đồng thời bảo đảm nguyên tắc tự thoả thuận và tự nguyện, bảo đảm quyền bình đẳng trong các quan hệ dân sự giữa các bên (quyền dân sự trước hết do các bên đương sự tự định đoạt, quyết định). Do đó, Dự thảo luật quy định kéo dài thời hiệu yêu cầu THADS là không phù hợp, không bảo đảm quyền lợi của người phải thi hành án, đồng thời góp phần làm cho việc THA phải kéo dài, dẫn đến tăng số lượng án tồn đọng.
      7. Thẩm quyền quyết định miễn, giảm thi hành án đối với khoản nộp ngân sách
      Tại các điều 66, 185 và 186 của Dự thảo luật quy định, UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện là cấp có thẩm quyền xét miễn, giảm thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước, bao gồm tiền phạt, án phí và các khoản thu nộp ngân sách khác nhằm khắc phục tình trạng thủ tục phức tạp như hiện tại trong việc xét miễn, giảm thi hành án.
       Các quy định này không phù hợp với quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Ngân sách nhà nước, bởi vì việc quy định các khoản thu nộp ngân sách trong các bản án, quyết định do Toà án xét xử vụ án quyết định, còn việc miễn, giảm các loại hình phạt không phải là phạt tù (trong đó có khoản tiền phạt) thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực. Nếu giao cho cơ quan hành chính các cấp (là UBND tỉnh, UBND huyện) thẩm quyền xét miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án các khoản thu nộp ngân sách nhà nước sẽ làm thay đổi các quyết định của Toà án, đồng nghĩa với việc sửa các quyết định của Toà án về nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước, không bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Mặt khác, theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước thì các khoản tiền phạt, án phí là khoản thu nộp ngân sách trung ương, không thuộc thẩm quyền quyết định của UBND cấp tỉnh, cấp huyện. Do đó, cần giữ quy định hiện hành về thẩm quyền miễn, giảm thi hành án đối với các khoản thu nộp ngân sách nhà nước vẫn do Toà án quyết định.
      Để khắc phục tình trạng thủ tục phức tạp trong việc xét miễn giảm nhưng nhiều trường hợp số tiền chi phí cho hoạt động xét miễn giảm còn nhiều hơn số tiền được miễn giảm, dẫn đến nguồn nộp ngân sách nhà nước bị giảm đi một cách không cần thiết, chúng tôi đề nghị cần quy định cụ thể trình tự, thủ tục xét miễn, giảm theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng để góp phần khắc phục án tồn đọng trong quá trình THADS và giảm chi phí không cần thiết trong quá trình xét miễn, giảm.

8. Tổ chức và quản lý cơ quan THADS

      Mô hình tổ chức và quản lý cơ quan THADS là vấn đề rất quan trọng, có tính chất quyết định đến hiệu quả công tác THADS. Nhưng Tờ trình của Chính phủ cũng chưa đưa ra một loại mô hình cụ thể nào mới, chưa xác định rõ địa vị pháp lý, mối quan hệ công tác của cơ quan thi hành án. Do đó, trong Dự thảo luật cần phải xác định rõ cơ chế quản lý và mô hình tổ chức cơ quan THADS theo hướng tập trung, thống nhất quản lý, chỉ đạo điều hành, không nên duy trì mô hình cơ quan THADS thuộc Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp như hiện nay, đồng thời cần xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước về THADS của Bộ Tư pháp, trách nhiệm của UBND cấp tỉnh, cấp huyện trong công tác THADS theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND. Vấn đề mô hình tổ chức cơ quan THADS cần phải được tiếp tục nghiên cứu làm rõ, thuyết minh lý giải đầy đủ những cơ sở lý luận và thực tiễn, đồng thời phải đưa ra được một mô hình mới phù hợp với hệ thống pháp luật, giải quyết được những vướng mắc, bất cập hiện nay nhằm đáp ứng được yêu cầu nâng cao chất lương hoạt động THADS.
      Tuy nhiên, trong dự thảo Nghị định của Chính phủ về hệ thống tổ chức thi hành án và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án đã thể hiện cơ quan thi hành án dân sự được tổ chức ở hai cấp (cấp tỉnh và cấp huyện). Về cơ bản, mô hình tổ chức và cơ chế quản lý thi hành án vẫn giữ như hiện nay, có sự đổi mới như dự kiến sẽ nâng Cục THADS lên thành Tổng cục THADS thuộc Bộ Tư pháp. Bộ máy giúp việc của Tổng cục gồm 7 đơn vị cấp vụ và tương đương. Cơ quan THADS cấp tỉnh vừa có nhiệm vụ tổ chức thi hành án, hướng dẫn nghiệp vụ đối với THADS cấp huyện, vừa có nhiệm vụ giúp cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Tư pháp thực hiện một số nhiệm vụ về công tác tổ chức, cán bộ thi hành án ở địa phương. Trong cơ quan thi hành án thi hành án cấp tỉnh có các phòng chức năng. Dự thảo vẫn duy trì quy định về sự song trùng chỉ đạo của Tổng cục THADS về tổ chức, cán bộ, công chức, kinh phí và nghiệp vụ, chịu sự quản lý chỉ đạo của UBND cấp tỉnh theo quy định của pháp luật; vẫn duy trì quy định của cơ quan giúp UBND cấp tỉnh, cấp huyện quản lý nhà nước về thi hành án ở địa phương là Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp. Cơ quan soạn thảo cho rằng, việc tổ chức mô hình quản lý cơ quan THADS giống như mô hình tổ chức và quản lý của cơ quan thuế. Tóm lại, về cơ bản mô hình tổ chức và quản lý cơ quan THADS không có gì mới, ngoại trừ việc nâng cục lên tổng cục và trong cơ quan THADS cấp tỉnh có một số phòng chức năng.
      Về vấn đề này, trước hết, cần làm rõ việc có chủ trương cần tiếp tục thành lập các tổng cục trong các bộ và các cơ quan ngang bộ không? Ngoài Tổng cục THADS có cần nâng các cục khác (như Cục Trợ giúp pháp lý) lên tổng cục? Thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, Bộ Tư pháp sẽ quản lý công tác thi hành án phạt tù và như vậy là trong tương lai có Tổng cục THADS bên cạnh Tổng cục THAHS là không phù hợp. Cơ quan soạn thảo cũng không làm rõ tính chất đặc thù và sự giống nhau giữa hệ thống các cơ quan thuế và cơ quan THADS. Trong Dự thảo luật cũng không xác định địa vị pháp lý của cơ quan THADS cấp tỉnh và các phòng chức năng thì có phải là cơ quan ngang sở, ngành không và có là cơ quan chuyên môn của UBND cấp tỉnh và cấp huyện không? Nếu cơ quan THADS cấp tỉnh có các phòng chức năng thì là ngang cấp sở, nhưng lại do Sở Tư pháp quản lý. Mặt khác, thi hành án chỉ tổ chức thực hiện ở địa phương (ở cấp tỉnh và cấp huyện) nên cần đề cao địa vị pháp lý, việc tổ chức thực hiện của các cơ quan THADS ở địa phương. Cần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc thành lập Tổng cục THADS với các vụ chức năng để không ảnh hưởng đến tổ chức bộ máy, tăng biên chế, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cách tư pháp.
      Tại khoản 2 Điều 15 của Dự thảo luật đưa ra mô hình tổ chức cơ quan thi hành án liên huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là THADS khu vực). Mô hình dự kiến này để đáp ứng chủ trương thành lập Toà án khu vực trong tương lai, nhưng hiện tại, Toà án khu vực chưa được thành lập, mặt khác không nhất thiết khi có Toà án khu vực thì phải có cơ quan THADS khu vực. Nếu thành lập cơ quan THADS khu vực sẽ trở thành một cơ quan trung gian vừa không phù hợp và kém hiệu quả. Bởi lẽ đặc thù của THADS là thi hành theo nơi cư trú, nơi công tác hoặc nơi có tài sản và cơ chế uỷ thác thi hành án, đa số các vụ việc được thi hành án tại cơ quan THADS cấp huyện. Do đó, không cần thiết phải thành lập cơ quan THADS khu vực như trong Dự thảo luật.
      9. Uỷ quyền trong THADS
     Theo quy định tại Điều 62 của Dự thảo luật, Chấp hành viên, Thủ trưởng cơ quan thi hành án được uỷ quyền cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện các hoạt động: xác minh về thi hành án; thông báo về thi hành án; Bán đấu giá tài sản thi hành án và thu chi tiền, tài sản thi hành án. Đồng thời, tại Điều 143 của Dự thảo luật quy định cơ quan thi hành án được uỷ quyền cho trại giam thu án phí, tiền phạt của người phải thi hành án đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam.
      Quy định của pháp luật hiện hành chỉ quy định có hai cơ chế uỷ quyền là uỷ quyền hành chính được thực hiện giữa cấp trên và cấp dưới trong cùng một hệ thống cơ quan tổ chức và uỷ quyền dân sự được thực hiện giữa các chủ thể bình đẳng trong quan hệ dân sự thông qua hợp đồng. Đối chiếu với hai cơ chế uỷ quyền nói trên, thì các quy định trong Dự thảo luật không thể coi là uỷ quyền, bởi lẽ cơ quan THADS, chấp hành viên không thể uỷ quyền cho cơ quan, tổ chức khác thực hiện thẩm quyền pháp lý do pháp luật giao cho chính mình. Thẩm quyền THADS gắn liền với chức danh chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ tổ chức THADS, không thể uỷ quyền cho người khác giúp chấp hành viên thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Các quy định này cũng tương tự như việc chuyển giao thực hiện một số vụ việc THADS có giá trị không quá 500.000 đồng cho UBND cấp xã trực tiếp đôn đốc thi hành, đây không phải là cơ chế uỷ quyền mà hiệu quả chuyển giao cũng không cao.
      Quy định tại Điều 143 thực chất là quy định giao cho trại giam thu án phí, tiền phạt trong bản án hình sự. Đối với phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù tại các trại giam, hầu hết họ đều không có tiền, tài sản để thi hành án và chỉ trong một số trường hợp như để phục vụ cho việc xét đặc xá, miễn giảm hình phạt, thì thân nhân của họ đem đến nộp để thi hành nghĩa vụ dân sự và không phải chỉ có khoản án phí, tiền phạt. Mặt khác, trong một số vụ án mức tiền phạt rất lớn thì phạm nhân càng không có điều kiện thi hành. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp một phạm nhân phải THADS nhiều khoản nếu tách khoản án phí, tiền phạt ra thì còn các khoản khác lại do cơ quan THADS thi hành, dẫn đến khi xem xét miễn, giảm sẽ không thống nhất và gặp nhiều trở ngại. Đối với trại giam không có chức năng THADS nên sẽ rất khó khăn trong việc đôn đốc thu nộp, thống kê quản lý sử dụng khoản thu nộp, trong khi đó chức năng chính của trại giam là tổ chức thi hành hình phạt tù. Theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù thì ở các trại tạm giam thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng có các phân trại thi hành án phạt tù, vậy nếu quy định như Dự thảo luật thì số phạm nhân này nộp khoản án phí, tiền phạt như thế nào? Vì vậy, trong Dự thảo luật không nên quy định về uỷ quyền thực hiện THADS. Đồng thời, Dự thảo luật cần quy định cụ thể cơ chế phối hợp giữa cơ quan THADS và các cơ quan hữu quan như Công an, Trại giam, Bảo hiểm xã hội, Toà án, Ngân hàng, Tổ chức tín dụng, Kho bạc nhà nước, Tổ chức bán đấu giá tài sản, Tổ chức thẩm định giá trong việc THADS.
      10. Kinh phí thi hành án
       Theo quy định của Pháp lệnh THADS năm 2004, ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các cơ quan, tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng nguồn vốn ngân sách để thi hành án. Điều 67 Dự thảo luật quy định ngân sách nhà nước sẽ bảo đảm kinh phí để cho các cơ quan, tổ chức thuộc diện trên trong trường hợp phải thi hành án. Chúng tôi thấy rằng, trách nhiệm của từng cơ quan được quy định trong các văn bản pháp luật chung và các văn bản quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức đó. Do đó, trường hợp cơ quan phải thi hành án, thì ngân sách nhà nước chỉ tạm ứng để cho cơ quan đó thi hành án, bảo đảm quyền lợi cho người được thi hành án. Còn trách nhiệm hoàn trả ngân sách do cá nhân, tổ chức, cơ quan đó phải chịu trách nhiệm. Việc quy định ngân sách bảo đảm cho việc thi hành án sẽ tạo ra gánh nặng cho ngân sách, đồng thời không đề cao được trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó.
      11. Điều khoản chuyển tiếp
      Khoản 3 Điều 194 Dự thảo luật quy định: "Đối với việc thi hành các khoản thu cho ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng mà thời gian tổ chức thi hành án đã quá 5 năm tính đến thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành, nhưng người phải thi hành án không có điều kiện thi hành án, thì được miễn thi hành đối với khoản nghĩa vụ đó".
      Về vấn đề này chúng tôi cho rằng, việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước đã được quy định tại Điều 66 của Dự thảo luật, với trình tự thủ tục cụ thể nên không thể có một cơ chế đương nhiên được miễn khoản thu nộp ngân sách như quy định này. Nếu quy định như vậy có thể dẫn đến sự tuỳ tiện trong áp dụng pháp luật, tạo điều kiện cho người phải thi hành án ỷ lại, không tích cực thực hiện nghĩa vụ của mình.
       Nhưng trong thực tế có những vụ việc mà nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu nộp ngân sách nhà nước có giá trị không quá 500.000 đồng, nhưng đương sự không có điều kiện thi hành, gây tồn đọng kéo dài, khó giải quyết dứt điểm. Vì vậy, Chính phủ cần trình ra Quốc hội xem xét quyết định vấn đề này khi ra Nghị quyết thi hành luật này mà không nên quy định như khoản 3 Điều 194.
      Ngoài các vấn đề nêu trên, có một số nội dung cụ thể được quy định trong Dự thảo luật chưa phù hợp với các quy định của các đạo luật khác, chưa bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ với các văn bản pháp luật có liên quan, nên cần được rà soát để chỉnh lý cho chính xác, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

TS. Dương Ngọc Ngưu
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Công tố và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự (26/11/2014)
Một số vấn đề đặt ra trong tổ chức chính quyền cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (24/11/2014)
Những yêu cầu hiện nay về tổ chức chính quyền địa phương (19/11/2014)
Góp ý sửa đổi Điều 195 Dự thảo Luật Hàng không dân dụng về lực lượng kiểm soát an ninh hàng không (14/11/2014)
Xác định hình thức văn bản sửa đổi Hiến pháp trong Luật Tổ chức Quốc hội (10/11/2014)
Đảm bảo sự công bằng giữa các cổ đông trong Dự thảo Luật Doanh nghiệp(sửa đổi) (03/11/2014)
Dự thảo Luật Doanh nghiệp (sửa đổi): Quy định về mua lại cổ phần cần tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động giao dịch cổ phiếu quỹ (31/10/2014)
Đảm bảo sự công bằng giữa các cổ đông trong Dự thảo Luật Doanh nghiệp(sửa đổi) (03/11/2014)
Đ/c: Nguyễn Hạnh Phúc chụp ảnh cùng Ban lãnh đạo Viện Nghiên cứu lập pháp
Lễ Công bố Quyết định thành lập Đảng bộ cơ sở Viện nghiên cứu lập pháp
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Hội đồng Hiến pháp - nhu cầu và dự báo tính khả thi

Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em trước yêu cầu sửa đổi, bổ sung

Trao Quyết định bổ nhiệm Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

Chất vấn và hậu chất vấn

Góp ý sửa đổi Điều 195 Dự thảo Luật Hàng không dân dụng về lực lượng kiểm soát an ninh hàng không

Quyền lập quy của Chính phủ Liên bang Nga

Xác định hình thức văn bản sửa đổi Hiến pháp trong Luật Tổ chức Quốc hội

Đảm bảo sự công bằng giữa các cổ đông trong Dự thảo Luật Doanh nghiệp(sửa đổi)

Quốc hội thông qua Luật tổ chức Quốc hội sửa đổi

Quyền lập quy của Chính phủ Liên bang Nga

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân