Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 19/02/2018, 08:39(GMT+7)
 
Kinh tế - dân sự

Giảm thuế suất chung và điều chỉnh ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

 

Thuế suất, cơ sở tính thuế và ưu đãi thuế là những bộ phận cấu thành cơ bản nhất của hệ thống thuế nói chung và ở từng sắc thuế nói riêng. Nếu như cơ sở tính thuế thể hiện phạm vi điều chỉnh (diện thu thuế) rộng hay hẹp, thì thuế suất phản ánh quan điểm về mức động viên cao hay thấp trên mỗi đơn vị thu nhập (đối với thuế trực thu) hoặc trên giá trị các khoản tiêu dùng (đối với thuế gián thu). Xu hướng cải cách thuế những năm gần đây cho thấy, việc mở rộng cơ sở thuế cùng với điều chỉnh giảm thuế suất đánh vào thu nhập được diễn ra khá phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, kể cả những nước có thu nhập cao và nhóm nước thu nhập trung bình. Trái lại, đối với thuế gián thu, xu hướng chung của nhiều nước là vừa mở rộng diện đánh thuế, vừa nâng mức thuế suất, ngoại trừ những hàng hoá, dịch vụ cơ bản, thiết yếu. Quan điểm chính sách hàm ý trong xu hướng trên là cần phải san sẻ mức đóng góp thuế cho diện rộng, áp dụng mức thuế hợp lý hơn khi đánh vào thu nhập để khuyến khích đầu tư, khuyến khích nỗ lực lao động, trên cơ sở đó sẽ gia tăng nguồn lực cho xã hội, tạo cơ sở thuế rộng hơn cho các chu kỳ tiếp theo. Trong khi đó, các biện pháp ưu đãi thuế cũng được thiết kế trong một số sắc thuế nhằm tạo ra những thuận lợi hơn, nhẹ thuế hơn đối với những khu vực có khó khăn hơn hoặc cần khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển trong những giai đoạn cụ thể của mỗi nền kinh tế.

Là một sắc thuế điều tiết vào thu nhập của các pháp nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh, thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) có tác động trực tiếp đến hoạt động đầu tư và phân bổ nguồn lực xã hội. Tài liệu nghiên cứu của nhiều học giả và các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế đã chỉ ra rằng: trong điều kiện nền kinh tế thị trường phát triển và tự do cạnh tranh thì biện pháp lý tưởng là áp dụng một mức thuế suất theo tỷ lệ phần trăm đối với tất cả các khoản thu nhập của mọi loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên, với một nền kinh tế ở điều kiện thấp hơn, các khu vực chưa phát triển đồng đều hoặc có một số lĩnh vực cần được ưu tiên phát triển thì không thể thiếu các biện pháp ưu đãi như: khấu trừ chi phí đầu tư, thuế suất thấp hơn, miễn thuế đối với một số loại thu nhập hoặc có chế độ miễn, giảm thuế trong một thời hạn nhất định. Những vấn đề này đang được quan tâm, nghiên cứu để trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN trong kỳ họp tới đây. Trong bài viết này, chúng tôi xin được trao đổi và cung cấp thông tin đa chiều liên quan đến việc đề xuất điều chỉnh giảm thuế suất chung, đồng thời với việc khôi phục một số nội dung về chính sách ưu đãi thuế.

1. Quan điểm điều chỉnh thuế suất và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011- 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 732/2011/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 đã xác định mục tiêu, yêu cầu cụ thể là:

(i) Xây dựng và thực hiện chính sách huy động từ thuế, phí và lệ phí hợp lý nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư nhất là đầu tư áp dụng công nghệ cao, vào vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững, góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo nhu cầu chi tiêu cần thiết hợp lý của ngân sách nhà nước (NSNN).

(ii) Hệ thống chính sách thuế, phí và lệ phí được sửa đổi, bổ sung phù hợp với định hướng phát triển kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước; góp phần chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, bảo vệ lợi ích quốc gia; khuyến khích thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế và đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; bảo hộ hợp lý, có chọn lọc, có thời hạn các sản phẩm, hàng hoá sản xuất trong nước phù hợp với các cam kết, thông lệ quốc tế.         

(iii) Hệ thống chính sách thuế được xây dựng, hoàn thiện bảo đảm minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện; mở rộng cơ sở thuế để phát triển nguồn thu, bao quát các nguồn thu mới phát sinh và cơ cấu lại theo hướng tăng nguồn thu nội địa (không kể thu từ dầu thô) đến năm 2015 đạt trên 70% tổng thu NSNN và đến năm 2020 đạt trên 80% tổng thu NSNN.

Tỷ lệ huy động thu NSNN giai đoạn 2011-2015 khoảng 23-24% GDP, trong đó tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí khoảng 22-23% GDP; tốc độ tăng trưởng số thu thuế, phí và lệ phí bình quân hàng năm đạt từ 16-18%/năm.

Giai đoạn 2016-2020: Tỷ lệ huy động thu NSNN và tỷ lệ động viên từ thuế, phí và lệ phí trên GDP ở mức hợp lý theo hướng giảm mức động viên về thuế trên một đơn vị hàng hoá, dịch vụ để khuyến khích cạnh tranh, tích tụ vốn cho sản xuất kinh doanh”.

Để thực hiện mục tiêu, yêu cầu nêu trên, nội dung định hướng sửa đổi Luật thuế TNDN về thuế suất và ưu đãi thuế là: Điều chỉnh giảm mức thuế suất chung theo lộ trình phù hợp để thu hút đầu tư tạo điều kiện để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích luỹ để đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh; đơn giản hoá chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực, tiếp tục khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ trợ, sử dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, dịch vụ chất lượng cao, lĩnh vực xã hội hoá, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn;...

Tuy nhiên, việc nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN lần này được diễn ra trong lúc nền kinh tế có những diễn biến mới, những khiếm khuyết không mong đợi sau thời gian tăng trưởng nóng và hệ luỵ của tình trạng đầu tư dàn trải, đầu tư ngoài ngành ngày càng bộc lộ rõ nét. Nhiều khó khăn phát sinh khi thực hiện đề án tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, sự dịch chuyển đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia sau cuộc khủng hoảng, suy thoái kinh tế toàn cầu cùng với các “sự kiện” của khu vực đồng tiền chung châu Âu, của khu vực Đông Bắc Á,... là những vấn đề mà chúng ta không thể không tính đến khi đề xuất sửa đổi thuế TNDN. Khi Chính phủ có Tờ trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội số 107/TTr-CP ngày 14/3/2013 về Dự thảo sửa đổi, bổ sung Luật thuế TNDN, đã có rất nhiều ý kiến đề xuất giảm mức thuế suất chung xuống dưới 25% đồng thời, xem xét khôi phục lại việc ưu đãi thuế đối với một số lĩnh vực. Tuy nhiên, các vấn đề lớn đã và đang được đặt ra trong suốt quá trình soạn thảo dự án là: (i) Mức thuế suất chung sẽ hạ xuống bao nhiêu? (ii) Có cần công bố ngay lộ trình giảm thuế tiếp theo? (iii) Khôi phục ưu đãi thuế đến mức nào, cho đối tượng nào, với những ràng buộc gì? (iv) Nguồn nào sẽ bù đắp cho số thuế thiếu hụt và khả năng của ngân sách có cho phép chúng ta giảm nhanh thuế suất và mở rộng diện ưu đãi thuế TNDN?

2. Giảm mức thuế suất chung thuế thu nhập doanh nghiệp

Luật thuế TNDN hiện hành 2008 quy định mức thuế suất áp dụng chung là 25%; hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quí hiếm khác áp dụng mức thuế cao hơn (từ 32% đến 50%) tuỳ thuộc vào vị trí, điều kiện khai thác và trữ lượng mỏ. Để định hướng thu hút đầu tư vào một số lĩnh vực cần khuyến khích, đầu tư vào địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, Luật quy định mức thuế suất ưu đãi có thời hạn tương ứng là 20% và 10%.

Qua tổng kết, đánh giá 4 năm thực hiện Luật cho thấy mức thuế suất phổ thông 25% là phù hợp với thực tế thời gian qua và là mức trung bình so với các nước trong khu vực (bằng với Trung Quốc). Gần đây, các nước cũng có xu thế giảm dần mức thuế suất phổ thông để tạo sự hấp dẫn, tăng tính cạnh tranh trong thu hút đầu tư: các nước ASEAN và một số nước châu Á, điển hình là Malaysia, giảm từ 28% năm 2005 xuống mức 27% năm 2007 và mức 26% năm 2008 và từ năm 2009 đến nay là 25%. Thái Lan đã giảm thuế suất từ 30% xuống 23% vào năm 2012. Nhiều nước quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa được áp dụng mức thuế suất thấp hơn như: Trung Quốc quy định 20% (thuế suất phổ thông là 25%); Thái Lan quy định 15% (thuế suất phổ thông là 23%); Malaysia cũng quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa áp dụng mức thuế suất 20% trong khi mức thuế suất phổ thông là 25%,...

Để thực hiện Chiến lược cải cách thuế và phù hợp với xu thế cải cách thuế của các nước, Chính phủ trình giảm mức thuế suất phổ thông từ 25% xuống còn 23% từ năm 2014. Đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa (thoả mãn 2 tiêu chí sử dụng dưới 200 lao động và có tổng doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng) sẽ được áp dụng thuế suất 20%.  Đề xuất này vừa đảm bảo tính cạnh tranh, hấp dẫn thu hút đầu tư so với các nước trong khu vực và cũng không gây tác động giảm thu đột ngột tạo sức ép về cân đối ngân sách của năm áp dụng, đồng thời không xáo trộn nhiều tới hệ thống chính sách ưu đãi. Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa được áp dụng thuế suất thấp hơn so với các trường hợp thông thường sẽ có điều kiện tăng tích tụ, tích luỹ tái đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao được năng lực cạnh tranh. Cơ sở của đề xuất 2 tiêu chí doanh nghiệp được áp dụng thuế suất 20% được dựa trên tiêu chí lao động định theo mức bình quân giữa các ngành của Nghị định số 56/2009/NĐ-CP[2] dựa trên cơ sở phân tích dữ liệu theo dõi, cập nhật tờ khai thuế của ngành thuế (63 Cục thuế và 75 Chi cục thuế lớn). Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đa số các nước sử dụng đồng thời 02 tiêu chí trở lên để xác định doanh nghiệp được áp dụng mức thuế suất thấp hơn mức phổ thông[3].

Với đề xuất của Chính phủ, dự kiến thu NSNN từ thuế TNDN sẽ giảm đi mỗi năm khoảng 12.064 tỷ đồng, nếu áp dụng thuế suất 20% đối với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thì dự kiến NSNN từ năm 2014 sẽ giảm thêm khoảng trên 2.000 tỷ đồng, đưa tổng số giảm thu lên 14.064 tỷ đồng.

Có ý kiến đưa thuế suất chung xuống 20% ngay từ năm 2014 (giữ mức 32% đến 50% đối với khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm) để tăng mức độ hấp dẫn đối với cả các doanh nghiệp quy mô lớn, có khả năng tạo ra nhiều lợi nhuận, đồng thời giảm nhẹ được chi phí quản lý và cũng là tạo sức ép để tăng tính cạnh tranh trong cộng đồng doanh nghiệp. Đề xuất này cho thấy ưu điểm là tăng mức độ hấp dẫn trong thu hút đầu tư, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài do mức 20% có tính cạnh tranh cao hơn so với các nước trong khu vực. Tuy nhiên, phương án này có tác động quá lớn đến cân đối NSNN: Số thu từ năm 2014 giảm đi khoảng 30.160 tỷ đồng/mỗi năm; nếu tính thêm cả số giảm thu về thuế thu nhập cá nhân theo Luật số 26/2012/QH13 (khoảng 13.350 tỷ đồng mỗi năm) và việc bổ sung ưu đãi thuế kéo theo giảm thu khoảng 2.081 tỷ đồng,... thì tổng số giảm thu NSNN năm 2014 lên tới 45.591 tỷ đồng. Chúng ta có thể tin rằng việc giảm ngay thuế suất xuống 20% sẽ được bù lại các năm sau khi kinh tế phát triển do đầu tư tăng lên, tuy nhiên, số thu tăng các năm sau mới chỉ là kỳ vọng trong khi số giảm thu là tiền thật. NSNN sẽ rất khó cân đối cho các mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng an ninh trong điều kiện hàng năm phải tiếp tục cắt giảm thuế nhập khẩu và nguồn dầu thô khai thác ngày một giảm dần theo quy trình khai thác. Rủi ro cũng cần tính đến với phương án này là sức ép yêu cầu phải giảm tiếp mức thuế suất ưu đãi 20% hiện hành xuống thấp hơn nữa, và khi đó cân đối NSNN còn căng thẳng hơn rất nhiều.

Phương án hợp lý có thể cân đối được giữa nhu cầu ngắn hạn với mục tiêu trung và dài hạn của NSNN mà vẫn tạo thêm động lực phấn khích đầu tư là kết hợp của 2 phương án nêu trên. Theo đó, nên quy định rõ lộ trình áp dụng thuế suất phổ thông 20% từ năm 2016 (hoặc từ 2017), đồng thời giữ nguyên các mức thuế suất ưu đãi là 20% và 10% tuỳ theo lĩnh vực, địa bàn được Luật quy định. Đề xuất này có được những ưu điểm sau đây:

Thứ nhất, việc công bố trước lộ trình áp dụng thuế suất 20% cho phép doanh nghiệp chủ động trong việc lựa chọn, ra quyết định đầu tư ngay từ bây giờ và kéo theo tác động thị trường sớm được phục hồi. 

Thứ hai, sẽ có tác động mạnh trong thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài do mức thuế suất này có tính cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực, nhất là việc thu hút các luồng vốn đầu tư từ Nhật Bản và Hàn Quốc (hiện các nhà đầu tư từ các nước này đang rất chú ý tới môi trường đầu tư của Việt Nam);

Thứ ba, việc quy định lộ trình thuế suất ngay trong Luật cũng đã có tiền lệ từ Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt và thực tế có hiệu quả (ví dụ quy định lộ trình về thuế tiêu thụ đặc biệt đối với ô tô chở người trong lần sửa đổi 2003, tăng thuế mặt hàng bia trong lần sửa đổi 2009).

Thứ tư, việc quy định trước lộ trình áp dụng thuế suất 20% sẽ không gây tác động giảm thu NSNN đột ngột của năm 2014 và 2015.

Có thể nói, việc đề xuất công bố ngay lộ trình giảm thuế với biện pháp ưu tiên cho các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa được áp dụng sớm mức thuế suất 20% còn có ưu điểm tạo sự minh bạch hơn trong chính sách, phù hợp thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và cũng không ảnh hưởng lớn tới số thu NSNN. Đây là những doanh nghiệp có khó khăn hơn, dễ bị tổn thương nhưng lại chiếm số đông (gần 88% số doanh nghiệp hiện có) và thu hút được nhiều việc làm cho xã hội. Việc sử dụng tiêu chí doanh thu và số lao động sử dụng bình quân cần phải có nguyên tắc để doanh nghiệp và cơ quan quản lý xác định được ngay. Theo đó, những doanh nghiệp đang hoạt động thì dựa vào số bình quân thực tế của 02 năm trước liền kề; doanh nghiệp mới hoạt động chưa đủ 2 năm thì dựa trên số liệu của năm đầu tiên; đối với doanh nghiệp thành lập mới thì việc xác định trong kỳ tính thuế đầu tiên dựa trên doanh thu tạm tính, số lao động đăng ký sử dụng và sẽ điều chỉnh theo số thực tế khi doanh nghiệp quyết toán thuế năm.

3. Điều chỉnh quy định về ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

Điều 13, Điều 14 Luật Thuế TNDN hiện hành quy định 2 hình thức ưu đãi thuế là thuế suất ưu đãi có thời hạn và thời gian được miễn thuế, giảm thuế đối với một số lĩnh vực, địa bàn cần khuyến khích đầu tư. Theo đó mức ưu đãi cao nhất (mức thuế suất 10% trong 15 năm, được miễn thuế tối đa trong 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp tối đa trong 9 năm tiếp theo) dành cho các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước, sản xuất sản phẩm phần mềm và doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao. Đối với dự án cần đặc biệt khuyến khích đầu tư có quy mô lớn và công nghệ cao, thời gian ưu đãi thuế suất có thể kéo dài thêm (tối đa thêm 15 năm nữa). Doanh nghiệp thực hiện hoạt động xã hội hoá trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường (lĩnh vực xã hội hoá) được áp dụng thuế suất 10% đối với phần thu nhập từ hoạt động này. Mức ưu đãi thấp hơn với thuế suất 20% trong 10 năm, miễn thuế TNDN tối đa 2 năm, giảm 50% số thuế tối đa trong 4 năm tiếp theo được áp dụng đối với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp, quỹ tín dụng nhân dân được áp dụng thuế suất 20%. Cũng theo quy định của Luật hiện hành thì không áp dụng ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng, các doanh nghiệp thành lập mới trong các khu công nghiệp không còn được ưu đãi thuế như trước đây (các doanh nghiệp được cấp ưu đãi trước đó thì được bảo lưu đến hết thời hạn).

Qua tổng hợp ý kiến đóng góp cho thấy, đa số đều có đề xuất lần này không trình sửa đổi mức thuế suất ưu đãi thuế, thời gian áp dụng thuế suất và thời gian miễn, giảm thuế 50%. Tuy nhiên, cần rà soát khôi phục một phần quy định về ưu đãi thuế đối với một số trường hợp đầu tư mở rộng, doanh nghiệp thành lập mới trong khu công nghiệp, bổ sung quy định rõ hơn, cụ thể hơn để thực hiện được những trường hợp ưu đãi thuế đang quy định trong các Luật chuyên ngành đang còn hiệu lực mà lâu nay không thực hiện được. Chúng tôi cho rằng, các đề xuất đó cần được nghiêm túc tiếp thu, cụ thể như sau:

Một là, bổ sung ưu đãi thuế đối với tổ chức tài chính vi mô: Đây là loại hình doanh nghiệp xã hội mới[4] xuất hiện trong thời gian gần đây mà Luật Thuế TNDN hiện hành chưa có quy định về ưu đãi thuế đối với loại hình này. Theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ. Hoạt động của các tổ chức này có nhiều điểm đặc thù so với các tổ chức tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân như chủ yếu hoạt động tại vùng sâu, vùng xa, cung cấp dịch vụ tới tận tay cá nhân, thông qua đó kết hợp đào tạo, hướng dẫn, giúp đỡ cá nhân nâng cao năng lực, nâng cao vị thế của phụ nữ, tự hoạt động để xoá đói nghèo. Với ý nghĩa xã hội to lớn đó, thời gian qua, Chính phủ đã vận dụng quy định thuế suất 20% như mức đang áp dụng đối với các quỹ tín dụng nhân dân tại Nghị định số 122/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 124/2008/NĐ-CP. Để chính sách rõ ràng, minh bạch và tạo cơ sở pháp lý cao, nay đề nghị bổ sung vào quy định tại khoản 4 Điều 13 Luật Thuế TNDN.

Hai là, bổ sung quy định về ưu đãi thuế với dự án đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua: Đầu tư xây dựng phát triển nhà ở xã hội là chủ trương lớn và lâu dài của Đảng và Nhà nước nhằm giải quyết nhu cầu về nhà ở cho các đối tượng cần được Nhà nước quan tâm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi người lao động không đủ việc làm, thu nhập bị giảm sút, tiền thuê nhà cao so với thu nhập của người lao động[5].

Để tăng cường an sinh xã hội, góp phần giải quyết nhu cầu cấp bách về nhà ở xã hội, thực hiện các chính sách ưu đãi theo quy định của Luật Nhà ở, cần thiết bổ sung quy định ưu đãi thuế TNDN để khuyến khích doanh nghiệp tham gia bỏ vốn đầu tư xây dựng nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua đối với các đối tượng quy định tại Luật Nhà ở. Tính đến đặc thù của các dự án nhà ở xã hội: mỗi dự án chính là một sản phẩm được hoàn thành ngay nên nếu quy định ưu đãi về thời gian miễn, giảm thuế thì có khả năng không thu được thuế hoặc doanh nghiệp nếu bán hết ngay trong năm được miễn; hoặc doanh nghiệp không được ưu đãi nếu trong năm miễn thuế không bán được sản phẩm do quy trình bình xét người mua rất chặt chẽ. Vì vậy, ưu đãi thuế được đề xuất là áp dụng thuế suất ưu đãi 10% đối với phần thu nhập từ thực hiện dự án đầu tư - kinh doanh nhà ở xã hội quy định tại Điều 53 của Luật Nhà ở (không áp dụng miễn, giảm thuế).

Ba là, bổ sung ưu đãi thuế đối với thu nhập từ hoạt động báo in (kể cả quảng cáo trên báo) của cơ quan báo chí và hoạt động xuất bản theo quy định của pháp luật: Theo quy định của Luật Báo chí, sản phẩm báo chí là sản phẩm văn hoá. Báo chí hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và thực hiện nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước giao. Hoạt động xuất bản, đặc biệt là các nhà xuất bản đang gặp rất nhiều khó khăn do vừa phải thực hiện tốt nhiệm vụ công tác tư tưởng, văn hoá của Đảng theo quy định của Luật Xuất bản, vừa phải thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh để tồn tại và phát triển. Thực tế vừa qua cũng cho thấy, hoạt động phát hành của hầu hết các cơ quan báo chí bị lỗ và phải lấy nguồn thu từ quảng cáo để bù đắp. Riêng các báo in, trong năm 2011 tính cả hoạt động phát hành và hoạt động quảng cáo cũng bị lỗ. Đối với báo hình thì ít bị ảnh hưởng hơn do có lợi thế về quảng cáo truyền hình. Trong khi đó, lợi thế về xã hội hoá trong khi quảng cáo trên báo chỉ là một phần hoạt động quảng cáo nói chung. Để thu hút được quảng cáo thì nội dung tin, bài phải hay, hấp dẫn độc giả, hơn nữa quảng cáo cũng không thể đăng nhiều vì bị giới hạn về diện tích, khuôn khổ và thời lượng.

Để tháo gỡ khó khăn cho các cơ quan báo trong hoạt động báo in, các cơ quan xuất bản trong hoạt động xuất bản và tạo điều kiện giúp cơ quan báo chí, xuất bản có nguồn lực để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị được giao, chúng tôi đề xuất bổ sung khoản 2 Điều 13 Luật Thuế TNDN quy định áp dụng thuế suất ưu đãi 10% đối với hoạt động báo in và hoạt động xuất bản. Các cơ quan báo chí, xuất bản nếu phát sinh (những hoạt động khác như chuyển nhượng bất động sản, tổ chức sự kiện, kinh doanh khách sạn, du lịch,... ) thì phải nộp theo mức thuế suất chung.

Bốn là, bổ sung quy định ưu đãi thuế đối với lĩnh vực ưu đãi thuế các hoạt động của doanh nghiệp liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn: Theo danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư tại Nghị định số 108/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư thì lĩnh vực nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thuỷ sản đang thuộc cả lĩnh vực, ngành nghề đặc biệt ưu đãi và lĩnh vực, ngành nghề ưu đãi, theo đó được hưởng ưu đãi về tài chính (tiền sử dụng đất, tiền thuê đất) và về thuế xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, Luật Thuế TNDN hiện hành không quy định ưu đãi thuế đối với các hoạt động này của doanh nghiệp. Do vậy, để góp phần thực hiện chính sách tam nông và cũng là phù hợp với thực tế, cần sửa đổi, bổ sung khoản 2, khoản 4 Điều 13 Luật Thuế TNDN theo hướng: (i) Bổ sung vào diện được áp dụng thuế suất ưu đãi cao nhất (10%) đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện các dự án đang thuộc diện đặc biệt khuyến khích đầu tư (như trồng, chăm sóc rừng, nuôi trồng nông, lâm, thủy sản trên đất hoang hoá hoặc vùng nước chưa được khai thác, đánh bắt hải sản ở vùng biển xa bờ, sản xuất giống cây trồng mới, giống vật nuôi mới và sản xuất, khai thác, tinh chế muối); (ii) Bổ sung vào diện được áp dụng thuế suất ưu đãi 20% đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện các dự án đang thuộc diện khuyến khích đầu tư (như trồng cây dược liệu; dự án đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông, thủy sản và thực phẩm; dự án sản xuất, tinh chế thức ăn gia súc, gia cầm, thuỷ sản, dịch vụ kỹ thuật trồng cây công nghiệp và cây lâm nghiệp, chăn nuôi, thuỷ sản, bảo vệ cây trồng, vật nuôi; dự án sản xuất, nhân và lai tạo giống cây trồng và vật nuôi; phát triển ngành nghề truyền thống).

Năm là, bổ sung vào diện áp dụng ưu đãi thuế đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực bảo vệ môi trường; phát triển công nghệ sinh học; sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới không sử dụng nhiên liệu hoá thạch: Đây là các lĩnh vực thuộc Danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo Nghị định 108/2006/NĐ-CP và thực tế vẫn cần thiết phải khuyến khích đầu tư ở mức cao. Tuy nhiên, chưa có quy định về ưu đãi thuế trong Luật Thuế TNDN hiện hành mà mới chỉ có quy định áp thuế suất 10% đối với thu nhập từ thực hiện hoạt động xã hội hoá trong lĩnh vực môi trường. Để khắc phục bất cập này và cũng là góp phần thực hiện chủ trương phát triển bền vững, cần sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 13, khoản 1 Điều 14 Luật Thuế TNDN để quy định rõ: Doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới thuộc các lĩnh vực nêu trên được áp dụng thuế suất 10 % trong 15 năm, miễn 4 năm, giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

Sáu là, bổ sung quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện được ưu đãi thuế theo quy định của Luật Công nghệ cao: khoản 1 Điều 13, khoản 1 Điều 14 Luật Thuế TNDN quy định, doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại khu công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo. Luật Công nghệ cao còn quy định, doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế TNDN. Tuy nhiên, do Luật Thuế TNDN hiện hành chỉ có quy định ưu đãi đối với doanh nghiệp thành lập mới, không có quy định ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đang hoạt động, trong khi đặc thù của hoạt động công nghệ cao là phải có thời gian đầu tư về công nghệ, thiết bị, nguồn nhân lực và khi đủ điều kiện mới được cấp Giấy chứng nhận công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, do vậy nếu theo quy định của Luật Thuế TNDN hiện hành thì các doanh nghiệp này sẽ không thể được hưởng ưu đãi thuế.

Để khắc phục bất cập này và thực hiện được chính sách khuyến khích phát triển công nghệ cao, chúng tôi đề xuất sửa đổi, bổ sung khoản 1, khoản 2, khoản 6 Điều 13 và khoản 1, khoản 3 Điều 14 nội dung: doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được áp dụng thuế suất 10% trong 15 năm, được miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo kể từ khi được công nhận là doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tương tự, cần có quy định rõ: Đối với doanh nghiệp thực hiện hoạt động nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, dự án ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao thì phần thu nhập từ các hoạt động này được áp dụng thuế suất ưu đãi 10%.

Bảy là, bổ sung quy định ưu đãi thuế đối với khu công nghiệp (KCN): Trước đây, Luật Thuế TNDN năm 2003 và văn bản hướng dẫn quy định doanh nghiệp mới thành lập tại KCN được hưởng ưu đãi thuế bằng với mức ưu đãi của địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn (thuế suất 20% trong 10 năm, miễn 2, giảm 6); trường hợp doanh nghiệp thuộc lĩnh vực sản xuất trong KCN thì được hưởng ưu đãi ở mức cao hơn (thuế suất 15% trong 12 năm, miễn 3, giảm 7). Luật Thuế TNDN 2008 đã không có quy định về ưu đãi thuế TNDN đối với những trường hợp này mà chỉ bảo lưu ưu đãi cho những doanh nghiệp đã đầu tư tại KCN trước năm 2009 cho đến hết thời hạn được quy định.

Thực tế thực hiện cho thấy, hầu hết các KCN được phân bố ở vùng kinh tế trọng điểm (chiếm khoảng 80% trong tổng số KCN), không thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn. Tuy có thuận lợi về vị trí, hạ tầng, nhưng chi phí đền bù, xây dựng hạ tầng cao, dẫn đến giá thuê lại đất trong KCN rất cao, vì vậy, nếu không có chính sách ưu đãi thuế TNDN đối với KCN thì rất ít doanh nghiệp đầu tư vào KCN, dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý về môi trường, lao động, an ninh, trật tự cũng như phát triển ngành công nghiệp theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, việc ưu đãi thuế cũng cần có chọn lọc, tránh dàn trải; đối với các thành phố trực thuộc trung ương (Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ) đã được định hướng phát triển thành các trung tâm dịch vụ, tài chính, văn hoá của cả nước nên không cần thiết khuyến khích phát triển các KCN thuộc các thành phố này.

Để thu hút doanh nghiệp đầu tư vào KCN, chúng tôi đề xuất khôi phục lại một phần quy định về ưu đãi thuế nhưng ở mức thấp hơn trước năm 2009 và phạm vi có chọn lọc: chỉ ưu đãi cho KCN đặt tại các tỉnh, không ưu đãi cho các KCN thuộc 5 thành phố trực thuộc trung ương. Mức ưu đãi thuế cần được quy định thấp hơn trước đây, cụ thể là chỉ nên quy định miễn thuế TNDN trong 2 năm, giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 4 năm tiếp theo (không ưu đãi về thuế suất).

Tám là, khôi phục một phần quy định trước đây về ưu đãi thuế đối với đầu tư mở rộng: Trước đây, Luật thuế TNDN 2003 và văn bản hướng dẫn quy định, doanh nghiệp đang hoạt động có hoạt động đầu tư mở rộng được ưu đãi đối với phần thu nhập tăng thêm do đầu tư mở rộng mang lại. Luật thuế TNDN 2008 không có quy định về ưu đãi thuế TNDN đối với đầu tư mở rộng (chỉ bảo lưu ưu đãi cho những dự án đầu tư mở rộng hoàn thành và đi vào sản xuất kinh doanh trong năm 2009). Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp đang hoạt động có hoạt động đầu tư mở rộng dưới nhiều hình thức đa dạng: hoặc lập ra một phân xưởng sản xuất mới, một dây chuyền sản xuất mới hoặc một cơ sở sản xuất mới tại cùng địa bàn hoặc ở địa bàn khác mà không hình thành pháp nhân; hoặc đầu tư mở rộng dẫn đến thành lập pháp nhân mới; một số trường hợp doanh nghiệp có đăng ký phân kỳ đầu tư ngay từ khi đăng ký dự án đầu tư ban đầu, trường hợp dự án đầu tư ban đầu thuộc diện được ưu đãi nhưng do Luật hiện hành không quy định ưu đãi đối với đầu tư mở rộng nên các trường hợp đầu tư mở rộng không thành lập pháp nhân mới, đầu tư mở rộng theo tiến độ đã đăng ký phân kỳ đầu tư ngay tại khâu được cấp phép hoặc Giấy chứng nhận đầu tư đều không được hưởng ưu đãi thuế.

Nhiều ý kiến cho rằng, doanh nghiệp đang hoạt động bỏ thêm vốn đầu tư cũng mang lại hiệu quả cao về kinh tế và xã hội, thậm chí có thể cao hơn so với dự án đầu tư mới do đầu tư mở rộng có thể tận dụng được thị phần, lợi thế thương mại sẵn có của cơ sở đang hoạt động. Tuy nhiên, do Luật hiện hành không có quy định ưu đãi thuế nên chưa tạo động lực khuyến khích, thu hút đầu tư để góp phần vào việc phân bổ nguồn lực có hiệu quả.

Nghiên cứu trên giác độ lý luận và thực tiễn, việc áp dụng ưu đãi đối với các doanh nghiệp đang hoạt động là phù hợp nếu như hoạt động mở rộng quy mô đầu tư đó vẫn được thực hiện ở các ngành, lĩnh vực và địa bàn đang được nhà nước khuyến khích đầu tư. Xét về mặt lợi ích kinh tế - xã hội tổng thể thì ưu đãi đối với đầu tư mở rộng trong nhiều trường hợp còn hiệu quả hơn so với việc thành lập doanh nghiệp mới (tiết kiệm được nhiều chi phí liên quan như tiếp cận thị trường, quản lý…). Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn và khuyến khích, thu hút đầu tư, góp phần vào việc phân bổ nguồn lực có hiệu quả, chúng tôi kiến nghị bổ sung thêm một khoản mới (khoản 4) vào Điều 14 Luật thuế TNDN theo hướng bổ sung quy định miễn thuế, giảm thuế đối với dự án đầu tư phát triển dự án đầu tư đang thực hiện thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế TNDN theo quy định của Luật này nhằm mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ sản xuất. Đồng thời, để khắc phục hạn chế khi thực thi ưu đãi đối với đầu tư mở rộng quy định tại Luật thuế TNDN 2003, đề nghị được quy định rõ các vấn đề sau:

- Chỉ áp dụng với dự án mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao công suất, đổi mới công nghệ sản xuất thuộc lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế TNDN theo quy định của Luật này;

- Đối với dự án mở rộng trong lĩnh vực đang được áp dụng thuế suất ưu đãi 10%, thuế suất ưu đãi 20% trong suốt thời gian thực hiện, không phân biệt mới, cũ thì không được áp dụng ưu đãi theo diện đầu tư mở rộng;

- Đối với hoạt động mở rộng bằng cách nhận sáp nhập, mua lại doanh nghiệp, dự án đầu tư đang hoạt động thì không được áp dụng ưu đãi theo diện đầu tư mở rộng, mà trường hợp này sẽ được tiếp tục hưởng ưu đãi cho thời gian còn lại (nếu doanh nghiệp hoặc dự án được mua lại đang trong thời gian hưởng ưu đãi về thuế TNDN) để tránh việc lợi dụng, tránh vướng mắc trong thực hiện;

- Về mức ưu đãi thuế: thời gian miễn, giảm thuế áp dụng đối với đầu tư mở rộng bằng với thời gian miễn thuế, giảm thuế áp dụng đối với dự án đầu tư mới cùng địa bàn, lĩnh vực ưu đãi thuế TNDN, không áp dụng ưu đãi về thuế suất. Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm dự án đầu tư hoàn thành đưa vào sản xuất, kinh doanh;

- Trường hợp doanh nghiệp đang hoạt động có đầu tư mở rộng theo tiến độ đã ghi trong hồ sơ cấp Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đầu tư được cấp lần đầu thì đối với phần thu nhập từ hoạt động đầu tư mở rộng, doanh nghiệp sẽ được lựa chọn hưởng ưu đãi theo diện đầu tư mở rộng hoặc hưởng ưu đãi (thuế suất, thời gian miễn thuế, giảm thuế) cho thời gian còn lại của dự án đầu tư ban đầu (nếu có);

- Về điều kiện được áp dụng ưu đãi: ngoài việc quy định dự án đầu tư mở rộng phải thuộc lĩnh vực, ngành nghề và địa bàn ưu đãi đầu tư theo quy định của Luật Thuế TNDN, để đảm bảo rõ ràng và hạn chế việc lợi dụng thì dự án đầu tư mở rộng được miễn thuế, giảm thuế phải đáp ứng tiêu chí về quy mô vốn đầu tư hình thành tài sản, công suất tăng thêm do Chính phủ quy định (dự kiến tỷ trọng vốn đầu tư thêm, công suất tăng thêm phải đạt tỷ lệ tối thiểu nhất định trên tổng vốn đầu tư, công suất hiện có);

- Để bảo đảm ưu đãi đúng, hạn chế lợi dụng, cần quy định phần thu nhập tăng thêm do thực hiện dự án đầu tư mở rộng được hưởng ưu đãi thuế TNDN phải được hạch toán riêng. Trường hợp không hạch toán riêng được thì thu nhập từ hoạt động đầu tư mở rộng được ưu đãi thuế xác định theo tỷ lệ giá trị tài sản cố định đầu tư mới đưa vào sử dụng cho sản xuất, kinh doanh trên tổng nguyên giá tài sản cố định thực tế dùng cho sản xuất, kinh doanh.

Chín là, bổ sung quy định về thẩm quyền của Chính phủ trong việc quyết định ưu đãi đầu tư đối với các dự án có quy mô lớn và có tác động lớn tới kinh tế - xã hội: Thực tế vừa qua, một số dự án đầu tư đáp ứng được tiêu chí về quy mô lớn và có tác động lớn tới kinh tế - xã hội của địa phương, của vùng (ví dụ như trường hợp của Sam Sung, Nokia, LG, Canon...). Tuy nhiên, theo Luật hiện hành, các dự án này chưa được hưởng ưu đãi thuế hoặc mức ưu đãi chưa cao, trong khi vấn đề ưu đãi thuế đối với các dự án loại này thường là của những tập đoàn lớn đa quốc gia và với họ, quy định về ưu đãi thuế là một trong những tiêu chí đàm phán với Chính phủ khi nhà đầu tư quyết định việc lựa chọn đầu tư vào Việt Nam hay đầu tư vào các nước khác có điều kiện tương tự hoặc thuận lợi hơn.

Để có thể xử lý được các trường hợp đặc thù phát sinh trong thực tiễn, góp phần thu hút các dự án lớn đầu tư vào Việt Nam, cần bổ sung quy định về thẩm quyền của Chính phủ (hoặc báo cáo Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến để quyết định ưu đãi thuế đối với trường hợp doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư có quy mô lớn và phạm vi tác động lớn đến kinh tế - xã hội). Theo đó, các tiêu chí lựa chọn có thể được quy định trong Luật (ví dụ: các tiêu chí về quy mô vốn đầu tư tối thiểu từ vài trăm triệu hay một tỷ USD, thực hiện giải ngân nhanh dưới 3 năm, có tổng doanh thu đạt 5 tỷ đô la Mỹ trở lên khi đi vào sản xuất kinh doanh ổn định và dự án sử dụng trên 5.000 lao động trong một số lĩnh vực khuyến khích đầu tư như điện, điện tử…; Dự án sử dụng công nghệ tiên tiến trong một số lĩnh vực khuyến khích đầu tư và có cam kết tỷ lệ nội địa hoá từ 50% trở lên; Dự án có sản phẩm nằm trong chuỗi giá trị toàn cầu của các Tập đoàn hàng đầu thế giới (có thể nằm trong 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới,...)./.

 



[1]  Bài viết thể hiện quan điểm độc lập của người viết, không phản ánh quan điểm của Bộ Tài chính cũng như các tổ chức khác mà người viết là thành viên. Xin trân trọng cảm ơn và đánh giá cao sự đóng góp của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu xây dựng luật pháp, các nhà quản lý, cộng đồng doanh nghiệp và những ai quan tâm đến chủ đề này. Thông tin trao đổi xin được gửi về địa chỉ email của người viết:  nguyenvanphung@mof.gov.vn

 

[2] Theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP: tiêu chí vốn, lao động tuỳ theo lĩnh vực, ngành nghề: đối với lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp và xây dựng: vốn dưới 100 tỷ đồng, lao động dưới 300 người được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa; đối với lĩnh vực thương mại, dịch vụ: vốn dưới 50 tỷ đồng, lao động dưới 100 người.

[3] Ví dụ Pháp sử dụng tiêu chí doanh thu và thu nhập hoặc Lithuania sử dụng tiêu chí lao động và thu nhập hoặc Trung Quốc sử dụng đồng thời 03 tiêu chí về số lao động, doanh thu và tổng tài sản. Một số nước khác sử dụng một trong hai tiêu chí doanh thu hoặc lao động (ví dụ Malaysia) hoặc chỉ sử dụng 01 tiêu chí là thu nhập như Hàn Quốc, Thái Lan,...

[4] Tại Việt Nam hiện mới có 02 tổ chức được thành lập và hoạt động theo mô hình này là Quỹ tình thương thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và M7.

[5] Theo số liệu thống kê của Bộ Xây dựng, đến cuối năm 2009, trên cả nước có khoảng 2 triệu cán bộ, công chức, viên chức; khoảng 2 triệu công nhân, lao động tại các khu công nghiệp; trên 3 triệu học sinh, sinh viên của các cơ sở đào tạo. Trong đó, số có chỗ ở ổn định mới chỉ có khoảng 30% cán bộ, công chức, viên chức; 20% công nhân, lao động; 20% học sinh, sinh viên; số còn lại chưa có chỗ ở hoặc đang sống trong điều kiện chật hẹp, tạm bợ. Tại khu vực đô thị, hiện có khoảng 325.000 hộ có diện tích ở bình quân dưới 5 m2; có diện tích ở bình quân từ 6-10 m2 khoảng 1.176.000 hộ; chưa tính đến nhiều đối tượng, hộ gia đình cần hỗ trợ để giải quyết về chỗ ở khác.

Nguyễn Văn Phụng - Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thuế - Bộ Tài chính
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Mấy ý kiến về phần quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài trong Bộ luật Dân sự 2005 (13/02/2014)
Về nội hàm của một số khái niệm trong pháp luật đất đai (09/12/2013)
Bàn thêm về các quyền nhân thân của cá nhân trong Bộ luật Dân sự năm 2005 (24/10/2013)
Nguyên tắc “quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự” trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính (15/10/2013)
Kiến nghị bổ sung quy định về đại lý điều tiết (Regulated Agent) vào Dự thảo Luật Hàng không (02/10/2013)
Cần điều chỉnh một số nội dung trong Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi (25/09/2013)
Xác định thời hiệu khởi kiện trong pháp luật dân sự (17/09/2013)
Cần điều chỉnh một số nội dung trong Dự thảo Luật Đất đai sửa đổi (25/09/2013)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Tổng quan và đánh giá các quy định của pháp luật về đại biểu Quốc hội ở Việt Nam

Những nội dung về bảo vệ môi trường trong xây dựng và phát triển các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

kinh nghiệm xây dựng thể chế tự quyết cho các thành phố văn minh

Mô hình hợp tác nghề cá ở các vùng biển chồng lấn, đang tranh chấp của một số quốc gia

Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em và vấn đề bảo vệ quyền trẻ em qua công tác xét xử ở khu vực miền Trung - Tây nguyên

Đối tượng của quyền hưởng dụng trong pháp luật Việt Nam

về tính độc lập và quyền miễn trừ của thẩm phán

Vai trò của Toà Hành chính trong bảo đảm quyền công dân theo Luật Tố tụng hành chính năm 2015

Mười sự kiện trọng đại trong năm 2017 của Quốc hội Việt Nam

một số vấn đề trong công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lí

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân