Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ bảy, 23/09/2017, 07:26(GMT+7)
 
Khoa học - công nghệ, môi trường

Một số ý kiến tham gia Dự thảo Luật Đa dạng sinh học
Một số ý kiến tham gia Dự thảo Luật Đa dạng sinh học
Ảnh: Một góc vườn quốc gia Mũi Cà Mau
Việc Quốc hội khoá XII đưa Dự án Luật đa dang sinh học vào Chương trình xây dựng luật, pháp luật của Nhiệm kỳ và dự kiến thông qua tại Kỳ họp thứ IV cho thấy quyết tâm của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Là người được Nhà nước giao nhiệm vụ quản lý công tác bảo vệ rừng, bảo tồn thiên nhiên và tham gia các hoạt động có liên quan tới đa dạng sinh học, tác giả có một số ý kiến về một số vấn đề đang được xã hội quan tâm với mong muốn góp phần để Luật Đa dạng sinh học sau khi được ban hành sẽ đáp ứng được tốt những mục tiêu và kỳ vọng đặt ra.

 

1.  Về tên gọi của Luật

            Chúng tôi cho rằng, tên gọi của Luật nên là “Luật Đa dạng sinh học” là phù hợp vì: tên như vậy là ngắn gọn, bao quát hết các nội dung mà nó điều chỉnh cả về bảo tồn – phát triển - sử dụng bền vững; đồng thời, cũng phù hợp với cách gọi theo thông lệ giao dịch và Công ước quốc tế về đa dạng sinh học mà Việt Nam là thành viên.

2. Về phạm vi điều chỉnh của Luật

            Chúng tôi cho rằng, Luật ĐDSH cần điều chỉnh các hành vi xã hội về đa dạng sinh học cả trong tự nhiên, nuôi, trồng, nguồn gen (kể cả nguồn gen đã được biến đổi).

Như vậy, vấn đề đặt ra là: chúng ta cần xây dựng Luật này với  tính chất là một luật khung quy định những nguyên tắc, vấn đề chung, trên cơ sở kế thừa và dẫn chiếu các quy định của pháp luật chuyên ngành (như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Thuỷ sản, Pháp lệnh giống cây trồng, vật nuôi…) và bổ sung, hoàn thiện các quy định khác để bảo đảm tính thống nhất giữa Luật này với các văn bản pháp luật có liên quan trong hệ thống pháp luật chung của quốc gia.

3. Về vấn đề gây nuôi động vật hoang dã

a)      Quy định của Công ước quốc tế và  pháp luật hiện hành

Việt Nam tham gia Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã và các sản phẩm, dẫn xuất của chúng (Công ước CITES) từ năm 1994 cùng với 173 quốc gia thành viên khác. Công ước CITES phân chia các loài động vật, thực vật thành Phụ lục I, Phụ lục II và Phụ lục III, với tổng số 5.170 loài động vật và 28.340 loài thực vật hoang dã. Công ước CITES không cấm hoạt động nuôi sinh sản, trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc các Phụ lục của Công ước. Để nội luật hoá các quy định của Công ước CITES, trong những năm qua Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng để thực hiện các quy định của Công ước  quốc tế này.

Theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, thì loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm là loài thực vật, động vật có giá trị đặc biệt về kinh tế, khoa học và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiên có nguy cơ tuyệt chủng. Căn cứ quy định của Luật này, Chính phủ đã ban hành 02 Nghị định liên quan đến các loài nguy cấp, quý, hiếm sau:

- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm quy định thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được phân thành hai nhóm:

 Nhóm I: nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số luợng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ  tuyệt chủng cao, bao gồm: 15 loài và nhóm loài thực vật rừng (nhóm I A); 62 loài động vật rừng (nhóm I B).

Nhóm II: hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng, bao gồm: 37 loài, nhóm loài thực vật rừng (nhóm II A); 98 loài động vật rừng (nhóm II B).

Đối với các loài động vật rừng thuộc Nhóm I B và II B, chỉ được khai thác từ tự nhiên vì mục đích nghiên cứu khoa học (kể cả để tạo nguồn giống ban đầu phục vụ cho nuôi sinh sản, trồng cấy nhân tạo), quan hệ hợp tác quốc tế.

Đồng thời, Nghị định số 32/2006/NĐ-CP cũng quy định: “Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư quản lý, bảo vệ và phát triển thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm”.

- Nghị định số 82/2006/NĐ-CP ngày 10 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Nghị định này hướng dẫn cụ thể về hoạt động nuôi sinh sản và trồng cấy nhân tạo động vật, thực vật hoang quy định tại các Phụ lục của Công ước CITES và các loài động vật rừng, thực vật rừng quy định tại Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 của Chính phủ. Về cơ bản, Nghị định số 82/2006/NĐ-CP đã nội luật hoá một cách chi tiết các quy định tại Công ước CITES, Nghị định này đã được Ban Thư ký CITES quốc tế đánh giá ở cấp độ “A” - cấp độ tốt nhất theo quy định của Công ước CITES[1].

b) Thực trạng quản lý gây nuôi động vật hoang dã ở nước ta

Nuôi sinh sản động vật hoang dã là hoạt động sản xuất -kinh doanh tại nhiều nước, đặc biệt tại những nước có nhu cầu tiêu thụ nội địa và xuất khẩu động vật hoang dã. Hoạt động này phù hợp với pháp luật quốc gia của nhiều nước cũng như Công ước CITES. Theo thông báo trên Website của Ban thư ký Công ước CITES quốc tế, riêng đối với các loài thuộc Phụ lục I của Công ước CITES đã có 23 nước đăng ký tại nuôi sinh sản, trồng cấy nhân tạo vì mục đích thương mại đã được Ban thư ký Công ước CITES quốc tế chấp nhận. Trong đó, Thái Lan có 21 trại, Inđônêxia có 33 trại, Singapore có 27 trại, Cămpuchia có 5 trại, Mỹ có 6 trại, Anh có 3 trại và Việt Nam có 5 trại… Ngoài ra, còn có rất nhiều trại nuôi các loài động vật hoang dã khác đang hoạt động nhưng không thuộc diện phải đăng ký với Ban Thư ký CITES quốc tế.

Tại Việt Nam, trong những năm qua hoạt động gây nuôi động vật hoang dã phát triển nhanh ở nhiều địa phương tạo ra những mặt hàng mới đáp ứng thị trường trong nước và xuất khẩu. Giá trị xuất khẩu các sản phẩm động vật hoang dã gây nuôi đã đạt hàng trăm triệu đô la Mỹ mỗi năm, một số sản phẩm đã có chỗ đứng trên thương trường quốc tế, góp phần nâng cao thu nhập cho người nuôi, nhiều hộ đã trở lên giàu từ việc gây nuôi động vật hoang dã. Nghề mới này đang có xu hướng phát triển mạnh trong thời gian tới. Việt Nam thành công trong việc gây nuôi sinh sản nhiều loài động vật hoang dã quý hiếm, đặc biệt là tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long và khu vực Đông -Nam Bộ, với các loài động vật hoang dã đang được nuôi phổ biến là:

- Cá sấu nước ngọt đang được hàng ngàn hộ nuôi (trong đó đã có 05 trại với quy mô lớn được Ban thư ký CITES quốc tế công nhận đủ các yêu cầu của Công ước), hiện có khoảng trên một trăm ngàn cá thể cá sấu được gây nuôi sinh sản bền vững và hàng năm được xuất khẩu chính ngạch khoảng 30 ngàn cá thể sống hoặc sản phẩm của chúng.

- Trăn đen, trăn vàng được gây nuôi sinh sản phổ biến ở các tỉnh phía Nam, Việt Nam là nước duy nhất trên thế giới xuất khẩu mẫu vật trăn có nguồn gốc gây nuôi sinh sản.

- Khỉ đuôi dài sinh sản rất thành công trong trại nuôi, mỗi năm có hàng chục nghìn cá thể được sản sinh và xuất khẩu.

- Rắn hổ mang được nuôi sinh trưởng, sinh sản thành công ở nhiều địa phương như ở Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc...

Nhiều loài động vật khác như lợn rừng, hươu sao, ba ba, rùa và một số loài lưỡng cư... cũng đang được gây nuôi sinh sản với số lượng lớn.

Việc nuôi sinh sản thành công động vật hoang dã tạo cơ hội cho phát triển kinh tế, xã hội tại các địa phương, góp phần bảo tồn nguồn gen, làm giảm sức ép lên việc khai thác từ tự nhiên. Nhờ có chính sách khuyến khích gây nuôi sinh sản kể cả các loài nguy cấp, quý, hiếm mà một số loài vẫn tồn tại, điển hình là loài hươu sao đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên tại Việt Nam từ lâu. Một số loài đang có nguy cơ tuyệt chủng rất cao ngoài tự nhiên, ví dụ Cá sấu nước ngọt đang được phục hồi nhờ chương trình tái thả lại tự nhiên; tại Vườn quốc gia Cát Tiên, quần thể cá sấu tái thả tại đây đang được phát triển tốt.

Có thể khẳng định rằng, hoạt động gây nuôi động vật đã và đang được định hướng theo quy định của pháp luật. Các điều kiện đăng ký trại nuôi theo quy định của Nghị định số 82/2006/NĐ-CP giúp người dân sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, giảm sức ép khai thác bừa bãi từ tự nhiên. Quy định gây nuôi động vật hoang dã tránh hiện tượng thoái hóa nguồn gen do kiểm soát được nguồn bệnh, tật; tránh đồng huyết cận huyết. Việc thực hiện công ước CITES giúp tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý, sử dụng bền vững tài nguyên. Tạo điều kiện cho người dân thực hiện đúng các quy định của pháp luật, sản phẩm động vật hoang dã từ gây nuôi sinh sản của Việt Nam thâm nhập được các thị trường Âu, Mỹ, Nhật Bản do đã đáp ứng được các điều kiện của CITES.

Bên cạnh những mặt tích cực trong hoạt động gây nuôi động vật hoang dã như nêu trên đây, trên thực tế cũng đã xảy ra tình trạng một số trại nuôi vi phạm các quy định của pháp luật, gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo tồn các loài hoang dã trong tự nhiên và các yếu tố khác của kinh tế - xã hội. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu quản lý nhà nước một cách toàn diện hơn nữa; để đáp ứng yêu cầu bảo tồn và phát triển bền vững, thì  cần thiết phải quy định bổ sung những chế tài (nhất là chế tài hình sự) để xử lý nghiêm những người có hành vi vi phạm pháp luật, thiết lập kỷ cương quản lý và trật tự xã hội.

Như đã đề cập trên đây, việc điều chỉnh các hoạt động gây nuôi động vật hoang dã đã được quy định tại Công ước CITES và các quy định hiện hành của pháp luật. Do vậy, theo chúng tôi, những vấn đề nào đã được quy định thì Luật đa dạng sinh học không nên quy định để tránh trùng lắp và có thể dẫn đến chồng chéo,  xung đột pháp luật.

4.  Về khu bảo tồn

- Hiện nay, trên toàn quốc đã hoạch định 164 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích 2.265.754 ha, bao gồm: 30 vườn quốc gia, 58 khu dự trữ thiên nhiên, 11 khu bảo tồn loài, 45 khu bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu, thực nghiệm khoa học. Hệ thống rừng đặc dụng cơ bản đã bao quát và đại diện hầu hết các hệ sinh thái tự nhiên trên cạn, đất ngập nước và trên biển đặc trưng và chứa đựng giá trị đa dạng loài sinh vật, nguồn gen và cảnh quan cao của cả nước và các khu vực. Việc hình thành các khu rừng đặc dụng ở nước ta theo luật Bảo vệ phát triển rừng cũng chính vì yêu cầu cơ bản là bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn các nguồn gen quý hiếm, bảo tồn các hệ sinh thái rừng tự nhiên. Không thể tách bạch việc quản lý bảo tồn đa dạng sinh học ra khỏi rừng, ra ngoài ngành lâm nghiệp, khi mà vốn dĩ việc việc bảo vệ và phát triển rừng bền vững chính là cơ sở cho bảo tồn đa dạng sinh học.

- Theo đó, để phù hợp với thực tiễn, thông lệ quốc tế và tránh xung đột pháp luật, Luật Đa dạng sinh học nên luật hoá những quy định tại các văn bản dưới luật đang thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn, đặc biệt là Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quản lý hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam đến năm 2010. Theo chúng tôi, nên thống nhất tên gọi là Khu bảo tồn thiên nhiên để phân biệt với các khu bảo tồn di tích lịch sử, di tích cách mạng…đồng thời, quy định hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên bao gồm: các khu bảo tồn trên cạn (các khu rừng đặc dụng); các khu bảo tồn biển; các khu bảo tồn vùng đất ngập nước. Chúng tôi cho rằng, theo quy định tại Điều 15 của Dự thảo Luật thì nhiều khu rừng đặc dụng hiện có (gồm: 20 khu rừng nghiên cứu thực nghiệm khoa học, 01 khu bảo tồn đất ngập nước và một số khu bảo tồn biển) sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Đa dạng sinh học và điều này chắc chắn sẽ dẫn đến những vướng mắc không đáng có trong quản lý nhà nước và các hoạt động thực tiễn.

5. Quản lý nhà nước về đa dạng sinh học

Lịch sử hình thành ngành lâm nghiệp, thuỷ sản và quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng và Luật Thuỷ sản, thì hoạt động tồn tại và phát triển của hệ thống các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn biển luôn gắn liền với sự tồn tại và phát triển của các chuyên ngành này.

Hiện nay, theo phân công quản lý nhà nước của Chính phủ, thì Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý chung về bảo tồn đa dạng sinh học; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý về các loài sinh vật rừng và sinh vật thuỷ sinh, các nguồn giống, nguồn gen trong lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản, bao gồm cả trong tự nhiên và nuôi trồng, các hệ sinh thái rừng, biển, các hệ sinh thái nông nghiệp (như canh tác nương rẫy, canh tác trên đất dốc…).

Như vậy, chúng tôi cho rằng, Luật ĐDSH nên quy định theo hướng: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về đa dạng sinh học trong phạm vi cả nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường chiu trach nhiêm trươc Chính phủ thông nhât quản lý nhà nước về đa dạng sinh học, các Bộ, cơ quan ngang bộ trong pham vi nhiêm vu, quyên han cua minh có trách nhiệm thưc hiên việc quan ly nha nươc vê đa dang sinh hoc theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan, Uỷ ban nhân dân cac cấp thưc hiên viêc quản lý nhà nước về đa dạng sinh học trong pham vi đia phương. Trong đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý về quy hoạch tổng thể và trực tiếp quản lý các khu bảo tồn đất ngập nước (khu Ramsa), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trực tiếp quản lý các các khu bảo tồn là rừng đặc dụng và bảo tồn biển theo các quy định của pháp luật chuyên ngành. /.


 

[1] Xem: website  

 

TS. Hà Công Tuấn
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Chất vấn và hậu chất vấn

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân