Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 23/10/2017, 09:34(GMT+7)
 
Khoa học - công nghệ, môi trường

Một số vấn đề về Dự thảo Luật Đa dạng sinh học

 

 

1. Một số vấn đề chung

1.1. Vấn đề sinh kế của cộng đồng dân cư

Trong các báo cáo về môi trường và đa dạng sinh học (ĐDSH) hàng năm đều có đánh giá sự suy thoái về ĐDSH và hệ sinh thái, trong đó nêu rõ một trong những nguyên nhân quan trọng nhất là sự gia tăng dân số và sức ép từ các cộng đồng nhân dân sống xung quanh các khu bảo tồn. Rõ ràng con người có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự bảo tồn ĐDSH. Khi Luật ĐDSH được ban hành và thực hiện thì một trong những yếu tố để luật có hiệu quả là phải giải quyết được nguyên nhân nói trên. 

Tuy nhiên, trong bản Dự thảo Luật ĐDSH mới chỉ tập trung đề cập đến hệ sinh thái tự nhiên mà chưa  xác định rõ, đầy đủ và cụ thể vai trò của con người trong hệ sinh thái đó. Chỉ có Điều 30 quy định về quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình và cá nhân đang sinh sống hợp pháp trong khu bảo tồn và Điều 32 quy định về quản lý vùng đệm của khu bảo tồn. Vì vậy, chúng tôi đề nghị tại Điều 30 nên bổ sung thêm 1 khoản quy định cụ thể về những công việc mà hộ gia đình và cá nhân được và phải tham gia trong công tác bảo tồn ĐDSH và các dịch vụ bảo tồn ĐDSH (thí dụ: bảo vệ rừng, trồng rừng, thực hiện các mô hình canh tác gắn với bảo tồn ĐDSH, du lịch sinh thái, bảo vệ các loài quý hiếm,…); 01 khoản quy định cụ thể về những lợi ích mà hộ gia đình và cá nhân được hưởng khi tham gia bảo tồn ĐDSH và các dịch vụ bảo tồn ĐDSH (thí dụ: tiền khoán bảo vệ rừng, tiền khoán trồng rừng, nhận các giống cây trồng, vật nuôi gắn với bảo tồn ĐDSH, được tiếp nhận các tiến bộ kỹ thuật trong canh tác nông, lâm nghiệp và thủy sản, tiền dịch vụ từ các sản phẩm du lịch sinh thái,…) và cơ chế chia sẻ lợi ích giữa ban quản lý khu bảo tồn hay nhà đầu tư với họ (thí dụ: thông qua hợp đồng với hộ gia đình, cá nhân hay với cộng đồng dân cư,….). Điều 32 bổ sung thêm 1 khoản quy định về mục tiêu và tính chất của vùng đệm. Nội dung này rất quan trọng, vì vùng đệm không phải là khu bảo tồn, nhưng có chức năng hỗ trợ cho công tác bảo tồn ĐDSH và ảnh hưởng từ vùng đệm có tính chất quyết định đến sự thành công và bền vững của công tác bảo tồn ĐDSH. dụ: Nếu vùng đệm có mục đích duy trì nơi cư trú và di chuyển của các loài sinh vật thì vốn đầu tư cho mục đích này như thế nào? Nếu vùng đệm có mục đích phát triển KTXH để tạo sinh kế ổn định cho các hộ gia đình nông dân nhằm giảm áp lực vào tài nguyên thiên nhiên thì vốn đầu tư cho hoạt động này như thế nào? Chúng tôi cũng đề nghị bổ sung thêm 01 khoản quy định các nội dung đầu tư cho vùng đệm. Nội dung này rất quan trọng, vì nó sẽ là cơ sở để Chính phủ quy định các chính sách đầu tư cho vùng đệm, bao gồm cả chính sách về đất đai và hưởng lợi của nông dân trong vùng đệm, góp phần thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

1.2. Về kinh phí cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học

            Chúng ta đã biết, đầu tư cho bảo tồn ĐDSH đòi hỏi một nguồn kinh phí rất lớn và thường xuyên, hiện tại và trong những năm tới ngân sách của nhà nước ta không thể chi đủ cho tất cả hoạt động bảo tồn ĐDSH. Sự giúp đỡ, viện trợ của các quốc gia khác và các tổ chức quốc tế dù rất quý giá nhưng cũng rất hạn chế so với nhu cầu. Do đó, việc xã hội hóa công tác bảo tồn ĐDSH và việc triển khai thực hiện chi trả dịch vụ môi trường, đặc biệt là sự tham gia của các thành phần kinh tế tư nhân là vô cùng quan trọng. Các quốc gia có nền kinh tế giàu có hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ cũng phải thực hiện theo chính sách này. Nhưng trong bản Dự thảo Luật ĐDSH vấn đề chi trả dịch vụ môi trường chưa được đề cập đầy đủ với đúng ý nghĩa và tầm quan trọng của nó. Trong khi đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 380/2008/QĐ-TTg ngày 10 tháng 04 năm 2008 về Chi trả dịch vụ môi trường rừng và đang được thí điểm tại tỉnh Sơn La (đầu nguồn của sông Đà) và tỉnh Lâm Đồng (đầu nguồn của hệ thống sông Đồng Nai).

1.3. Về hệ thống khu bảo tồn của Việt Nam

            Trên thực tế ở Việt Nam đang tồn tại một hệ thống các khu rừng đặc dụng được thành lập theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004), được Nhà nước xác lập từ cách đây khoảng 50 năm, bao gồm các khu rừng đặc dụng ở trên cạn, ở vùng đất ngập nước và vùng hải đảo. Các khu này được pháp luật và Nhà nước giao chức năng, nhiệm vụ chính là bảo tồn hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học. Diện tích rừng đặc dụng của Việt Nam tính đến năm 2007 là 2.078.265 ha, rừng phòng hộ 4.979.188 ha, rừng sản xuất 5.779.880 ha. Trong số này diện tích có các hệ sinh thái còn giữ được tính tự nhiên hoặc tương đối tự nhiên, nghĩa là sự tác động của con người rất ít, chỉ còn khoảng 40% (khoảng 4, 5 triệu ha). Đây là những diện tích rừng bao gồm các hệ sinh thái trên cạn, các hệ sinh thái đất ngập nước nội địa, các hệ sinh thái rừng hải đảo, các hệ sinh thái đất ngập nước ven các hải đảo có giá trị ĐDSH cao mà ngành Lâm nghiệp đã nỗ lực bảo vệ và bảo tồn trong hơn nửa thế kỷ qua. Không kể diện tích bảo tồn biển có tính chất đại dương thì các khu bảo tồn trong Luật ĐDSH cũng sẽ được xác lập chủ yếu trên diện tích này.

            Theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng hiện hành, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao là cơ quan quản lý nhà nước về rừng. Thế nhưng theo Dự thảo Luật ĐDSH thì các loài sinh vật, nguồn gen và sự ĐDSH trong các hệ sinh thái rừng. Do vậy, nếu một khu bảo tồn ĐDSH theo quy định tại Luật này là hệ sinh thái rừng, thì nó sẽ vừa chịu sự quản lý theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, vừa theo Luật ĐDSH nghĩa là 2 bộ: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng có trách nhiệm quản lý. Việc quản lý nhà nước như thế sẽ rất phức tạp và mâu thuẫn. Do đó, chúng tôi đề nghị luật pháp chỉ nên quy định một hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam do một bộ có năng lực và kinh nghiệm quản lý để giảm bớt sự phức tạp, chồng chéo và mâu thuẫn trong hệ thống pháp luật của nước ta.

Trong các báo cáo của các cơ quan nhà nước và trong các cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế, đều có đề cập và đánh giá về sự phức tạp, chồng chéo của các văn bản pháp luật và sự phối hợp thiếu chặt chẽ của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện công tác bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH. Các chuyên gia của Việt Nam và quốc tế đã nhiều lần đề cập và kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết vấn đề này nhưng sự chuyển biến còn rất chậm.

Điều mà chúng ta cần quan tâm nhất hiện nay là hệ thống pháp luật và chính sách quản lý nhà nước về ĐDSH phải đầy đủ, chặt chẽ, nhưng phải có tính thực tiễn và đơn giản, để cho 2 đối tượng quan trọng nhất chịu tác động của Luật này là những người đang hàng ngày trực tiếp làm nhiệm vụ bảo tồn ĐDSH ở các khu bảo tồn có thể thực hiện được và các cộng đồng nhân dân đang sống gần các khu bảo tồn có sinh kế ổn định để họ tham gia và được hưởng lợi từ công tác bảo tồn ĐDSH, từ đó Luật mới có tính khả thi và sự nghiệp bảo tồn ĐDSH mới được bền vững như chúng ta mong muốn.

2. Ví dụ cụ thể về cơ sở khoa học của Luật ĐDSH

2.1. Đối với khu bảo tồn có hệ sinh thái đất ngập nước

            Vườn quốc gia Tràm Chim nằm ở huyện Tam Nông của tỉnh Đồng Tháp có hệ sinh thái đất ngập nước điển hình của vùng Đồng Tháp Mười và đồng bằng sông Cửu Long. Vườn quốc gia này nổi tiếng ở trong nước và quốc tế vì có sự xuất hiện của loài chim Sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpii), có tên trong Danh Lục Đỏ Việt Nam và Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ, cùng với hơn 30 loài chim nước quý hiếm khác. Thức ăn của Sếu đầu đỏ là củ của loài cỏ Năn (Eleocharis atropurpurea), là một loài thực vật ngập nước theo mùa. Sự tồn tại và phát triển của các loài sinh vật trong vườn quốc gia tùy thuộc vào mức độ ngập nước. Nếu nước ngập quá sâu (thường trên 50 cm) thì củ Năn phát triển kém và chất lượng không tốt, Sếu sẽ không trở về Tràm Chim vào mùa khô vì không có thức ăn. Số liệu thống kê của Vườn quốc gia Tràm Chim trong nhiều năm cho thấy số lượng Sếu hàng năm xuất hiện ở đây theo chiều hướng giảm: Năm 1988 có 1.052 con;  Năm 1992 có 497 con; Năm 1996 có 631 con; Năm 2000 có 167 con; Năm 2007 có 125 con; Năm 2008 có 126 con. Số liệu này biểu hiện sự ĐDSH và chất lượng của hệ sinh thái đang trong quá trình suy giảm. Nhưng việc phòng cháy rừng Tràm lại cần giữ mức nước ngập cao vào mùa khô để hạn chế cháy rừng. Do đó, giữa mục tiêu bảo tồn loài Sếu và mục tiêu phòng cháy rừng Tràm mâu thuẫn nhau về cách quản lý chế độ ngập nước. Vườn quốc gia Tràm Chim là một khu rừng đặc dụng, được Thủ tướng Chính phủ xác lập tại Quyết định số 253/1998/QĐ-TTg ngày 29 tháng 12 năm 1998, theo quy định của pháp luật hiện hành nếu để xảy ra cháy rừng thì Giám đốc vườn quốc gia sẽ chịu trách nhiệm dù cho rừng Tràm sẽ tái sinh tự nhiên rất tốt sau cháy rừng và không khó khăn để trồng lại, nhưng nếu số lượng Sếu giảm đi thì chưa có một quy định nào xác định trách nhiệm trong trường hợp này mà việc phục hồi hệ sinh thái và hoàn cảnh sống của Sếu khó khăn hơn rất nhiều. Nếu Luật ĐDSH có hiệu lực thi hành thì Vườn quốc gia Tràm Chim sẽ đồng thời chịu tác động của Luật ĐDSH đối với các tài nguyên sinh vật và nguồn gen (thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Tài nguyên và Môi trường) và của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng đối với rừng Tràm (thuộc trách nhiệm quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), rất có thể sẽ có hai quy định khác nhau về quản lý chế độ ngập nước. Trong khi toàn bộ hệ sinh thái đất ngập nước ở đây, bao gồm rừng Tràm và các loài động vật, thực vật khác chỉ là một thể thống nhất theo quy luật của tự nhiên. Ví như một chiếc đồng hồ, kim dài của nó được quản lý bởi một người và kim ngắn lại được quản lý bởi một người khác. Trong trường hợp này Ban quản lý Vườn quốc gia Tràm Chim sẽ gặp khó khăn trong hoạt động. Như vậy, sự hài hòa giữa các nội dung của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Luật ĐDSH, cũng như nhu cầu quản lý khu bảo tồn theo một đầu mối thống nhất là rất cần thiết, có cơ sở khoa học và thực tiễn.

2.1. Đối với khu bảo tồn có hệ sinh thái trên cạn  

Vườn quốc gia Cát Tiên nằm trên địa bàn 3 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước, là một vườn quốc gia có hệ sinh thái trên cạn, phân bố ở lưu vực sông Đồng Nai, với diện tích 71.350 ha. Sinh cảnh chính của Vườn quốc gia Cát Tiên là rừng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae). Đây là nơi còn giữ được một số diện tích rừng nguyên sinh và trạng thái rừng giàu còn sót lại của vùng Đông Nam Bộ, cũng là nơi chứa đựng giá trị cao về ĐDSH. Các nhà khoa học đã phát hiện được ở Vườn quốc gia Cát Tiên có 55 loài thú, hơn 300 loài chim, hơn 40 loài bò sát và rất nhiều loài cá nước ngọt khác. Trong số đó có nhiều loài được ghi trong Danh Lục Đỏ Việt Nam và Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ, tiêu biểu là loài Tê giác (Rhinoceros sondaicus). Hệ sinh thái rừng ở đây bao gồm các quần xã thực vật rừng, các quần xã động vật rừng và các yếu tố về địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thủy văn, các yếu tố này tác động lẫn nhau hình thành các đặc trưng của Vườn quốc gia Cát Tiên, trong đó rừng là thành phần chính và quan trọng nhất của hệ sinh thái. Nếu việc quản lý các loài cây gỗ rừng được tách riêng với quản lý các loài động, thực vật khác trong rừng, có nghĩa là rừng do một ngành quản lý còn các loài như hổ, tê giác, hươu, nai, chim, … do một ngành khác quản lý thì làm sao có thể tiếp cận phương thức quản lý theo hệ sinh thái, đó là một phương pháp bảo tồn thiên nhiên khoa học và tiên tiến trên thế giới. Do đó, việc quản lý thống nhất một hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên trong đó bảo tồn ĐDSH là một trong những hoạt động bảo tồn thiên nhiên là một nhu cầu xuất phát từ thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.

            Tóm lại, ĐDSH là một phạm trù khoa học. Quản lý ĐDSH đòi hỏi phải có phương pháp khoa học. Bảo đảm tính khoa học trong Dự thảo Luật ĐDSH là một yếu tố quan trọng để Luật có tính thực tiễn và khả thi. /.

 

 

 

 



[*] TS. Phn vin trng Phn vin ißu tra Quy hoch râng Nam BÐ

 

TS. Nguyễn Chí Thành
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Chất vấn và hậu chất vấn

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân