Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ bảy, 11/09/2010, 02:13(GMT+7)
 
Hành chính - hình sự - tư pháp

Vấn đề tội phạm có tổ chức và trách nhiệm hình sự pháp nhân trong sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999
Vấn đề tội phạm có tổ chức và trách nhiệm hình sự pháp nhân trong sửa đổi Bộ luật hình sự năm 1999
Hệ thống cống ngầm của công ty Vedan làm ô nhiễm nặng sông Thị Vải- Ảnh: TTonline

Trong luật hình sự, để đi đến những quy phạm về tội phạm có tổ chức và tổ chức tội phạm là quá trình từng bước phát triển, hoàn thiện tư duy pháp lý hình sự và các quy phạm hình luật. Từ nhận thức về đồng phạm dần dần phát triển đến phạm tội có tổ chức - một dạng đặc biệt của đồng phạm. Đến giai đoạn phát triển nhất định, trong luật hình sự của nhiều nước đã quy định về tội phạm có tổ chức. Tuy nhiên, ban đầu chỉ có các quy định về tội phạm có tổ chức xâm phạm an ninh quốc gia, sau đó, nhà lập pháp cũng quy định về tội phạm có tổ chức trong các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, thực tiễn và tư duy pháp lý hình sự hiện đại đòi hỏi phải tiếp tục phát triển, nhận thức sâu sắc và giải quyết hợp lý hơn vấn đề trách nhiệm hình sự liên quan đến tội phạm có tổ chức. Điều đó cũng đang được đặt ra ở Việt Nam.

1. Tội phạm có tổ chức - tiếp cận từ pháp luật hình sự

Ở Việt Nam, ngay từ những sắc lệnh đầu tiên sau khi thành lập Chính quyền dân chủ nhân dân, trong pháp luật hình sự, vấn đề đồng phạm, phạm tội có tổ chức cũng đã được đề cập. Nhà nước ta có thái độ cương quyết trừng trị đối với những hành vi phạm tội có tổ chức. Điều này được phản ánh khá rõ nét trong Sắc lệnh 267-SL ngày 15/6/1956 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước và nhân dân, cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch của Nhà nước; Sắc lệnh số 151-SL ngày 12/4/1953 trừng trị địa chủ chống pháp luật trong khi và ở những nơi phát động quần chúng thi hành chính sách ruộng đất;... và sau này, trong các văn bản pháp lệnh, luật, bộ luật của Nhà nước ta. Ví dụ, trong Sắc lệnh 133- SL ngày 20/01/1953 trừng trị các loại Việt gian phản động, hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức phản cách mạng cũng được quy định là tội phạm. Mặc dầu không dùng từ tổ chức tội phạm như ngày nay, nhưng rõ ràng, “các đảng phái, các tổ chức Việt gian phản động”; các “tổ chức quân sự, chính trị, văn hoá, xã hội phản bội Tổ quốc”,... đã phản ánh rõ nét yếu tố cấu kết, yếu tố tổ chức trong mặt khách quan của tội phạm này và cũng cho ta hình dung về tội phạm có tổ chức.

Trong khoa học pháp lý, tiếp cận từ góc độ pháp luật hình sự, vấn đề tội phạm có tổ chức đến nay cũng đã được một số công trình nghiên cứu quan tâm.

Luật hình sự trên cơ sở nguyên tắc hành vi, tiếp cận vấn đề tội phạm có tổ chức từ góc độ cơ chế hành vi phạm tội. Khi xem xét từng hành vi phạm tội riêng lẻ, đơn nhất do bất kỳ một băng,, nhóm, tổ chức nào đó thực hiện, ta sẽ thấy trước hết đó là hành vi đồng phạm (đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm) và là đồng phạm phức tạp.

Trong thực tiễn, không thể khám phá các tội phạm có tổ chức do các băng,, nhóm, tổ chức tội phạm thực hiện nếu không nghiên cứu, phân tích và xâu chuỗi những sự kiện pháp lý hình sự - đồng phạm và đặc biệt là đồng phạm phức tạp do các băng,, nhóm, tổ chức đó thực hiện.

Về mặt lý thuyết, kết luận về tội phạm có tổ chức như một hình thức đặc biệt của đồng phạm phức tạp - đồng phạm có tổ chức là kết quả của nghiên cứu thực tiễn pháp lý hình sự và từ phân tích lý luận về đồng phạm và phân loại đồng phạm.

Dưới góc độ khoa học luật hình sự, tội phạm có tổ chức đồng thời còn là một biểu hiện cụ thể và đặc biệt của chế định nhiều tội phạm. Khoa học luật hình sự xem xét tội phạm trong trường hợp đó như là một cơ chế đa hành vi, đa vai trò chủ thể của các tội phạm. Và như vậy, tội phạm có tổ chức về thực chất vừa là đồng phạm ở mức cao, vừa là đa tội phạm, khi các yếu tố của đồng phạm đã cùng phát triển nhảy vọt về lượng và do đó, có sự biến đổi về chất để tạo ra đồng phạm ở một trạng thái mới. Đồng phạm có tổ chức, không chỉ có đồng dự mưu mà đã có sự nhất quán mục tiêu, phương thức hành động, cố kết lợi ích. Không chỉ cùng thực hiện một tội phạm mà trong tâm thức của các chủ thể là để thực hiện tội phạm nói chung có hiệu quả... Các hoạt động phạm tội trong tội phạm có tổ chức thường là những hành vi đa tội phạm (nhiều tội phạm).

Tuy nhiên, khi nghiên cứu tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, có thể thấy rằng, tình tiết phạm tội có tổ chức (theo Khoản 3 của Điều 20 của Bộ luật Hình sự - BLHS - năm 1999 thì đó là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm), được biểu hiện cả về mặt chủ quan (sự cấu kết, có sự thống nhất mục đích, động cơ...), và mặt khách quan (nhiều người cùng tham gia...). Do vậy, nếu chỉ tiếp cận nó như là một tình tiết ảnh hưởng trách nhiệm hình sự thì chưa thấy hết vai trò, ý nghĩa của yếu tố chủ thể và cả những khía cạnh cần chú ý về mặt khách quan, khách thể của hành vi. Sự cấu kết, sự thống nhất mục đích, sự tham gia của nhiều người... đã làm tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi trở nên nghiêm trọng.

Chỉ gói gọn trong tình tiết tăng nặng cũng có nghĩa là coi dấu hiệu có tổ chức chỉ là một dấu hiệu bổ sung (trong mặt khách quan hay chủ quan nào đó) thì chưa đủ. Đồng phạm chỉ có nghĩa khi cùng nhau thực hiện một tội phạm cụ thể. Trong khi đó, chúng ta cần xem xét vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với cả việc có mặt trong những tổ chức mà không cần biết tổ chức đó đã thực hiện tội phạm cụ thể nào chưa, khi bản thân sự tồn tại những tổ chức như thế đã mang tính nguy hiểm cao cho xã hội. Một tổ chức như vậy được thành lập trong một quãng thời gian ít nhiều tự nó đã chống lại xã hội và gây nguy hiểm cho xã hội, nên hành vi tham gia tổ chức đó phải được tội phạm hoá.

Trong thời kỳ chưa xuất hiện những vụ án kiểu Khánh “trắng”, Phúc “bồ”, Năm Cam, Sáu “râu”…, các vụ án hình sự có dấu hiệu phạm tội có tổ chức đã được giải quyết ổn thoả trên cơ sở những quy phạm ở Điều 3, Điều 17 và Điều 39 của BLHS năm 1985. Nhưng những diễn biến của tình hình tội phạm nói chung mà trực tiếp là tình hình tội phạm có tổ chức đòi hỏi phải có những đổi mới trong chính sách hình sự cho phù hợp.

Điều đáng chú ý là trong chính sách hình sự đổi mới, BLHS năm 1999 đã có cách thể hiện rõ nét hơn thái độ cương quyết đấu tranh với tội phạm có tổ chức. Nhiều tội phạm mới được tách ra từ cấu thành tăng nặng với dấu hiệu “có tổ chức”; tình tiết có tổ chức từ tình tiết tăng nặng đã được sử dụng làm tình tiết định tội, định khung trong nhiều điều luật, ví dụ: Điều 79. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; Điều 93. Tội giết người…

Phạm tội có tổ chức được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội theo quy định tại Điều 48 của BLHS năm 1999 hoặc được coi là tình tiết định khung của các tội được quy định tại phần các tội phạm của bộ luật đó. Tiếc rằng cho đến nay, trong pháp luật hiện hành cũng như trong lý luận khoa học luật hình sự, đó là mối quan hệ duy nhất được xác lập giữa đồng phạm với tội phạm có tổ chức. Phạm tội có tổ chức vừa là dấu hiệu định tính (tình tiết tăng nặng), vừa là dấu hiệu biểu hiện về mặt hình thức (phương thức rất đặc trưng để thực hiện các tội phạm - một cách có tổ chức). Theo chúng tôi, tình tiết “phạm tội có tổ chức” trong cấu thành cơ bản hay 77 cấu thành tăng nặng của một số tội phạm phải được hiểu là một tình tiết đặc trưng của tội phạm có tổ chức được ghi nhận trong BLHS hiện hành.

Không thể đánh đồng, lẫn lộn giữa tội phạm có tổ chức với phạm tội có tổ chức. Theo Điều 48 của BLHS năm 1999, phạm tội có tổ chức được coi là tình tiết tăng nặng. Điều đó cũng có nghĩa là phạm tội có tổ chức được hiểu như trạng thái, hình thức thực hiện hành vi làm cho hành vi càng trở nên nguy hiểm hơn cho xã hội. Trong BLHS năm 1999, nhà lập pháp đã thể hiện tình tiết tăng nặng này rõ hơn bằng việc chỉ ghi “có tổ chức” mà bỏ bớt cụm từ “phạm tội”, ví dụ như cách quy định các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân tại Chương XIII. Đồng ý rằng, một tội phạm có tổ chức thì không thể thiếu yếu tố thực hiện hành vi phạm tội một cách có tổ chức, tức là có “phạm tội có tổ chức”. Tuy nhiên, điều đó vẫn chưa khắc phục được sự nhầm lẫn trong nhận thức và chưa thể hiện rõ ràng, dứt khoát sự khác biệt trong thái độ chính sách hình sự đối với các trường hợp khác nhau: một bên là đánh giá hành vi A nào đó nguy hiểm cho xã hội trong quá trình thực hiện đã được tiến hành một cách có tổ chức bởi hai hay nhiều người (phạm tội có tổ chức - đồng phạm) và bên khác coi một tội phạm nào đó là loại tội phạm có tổ chức (tội phạm B đã được phát sinh là hệ quả của một quá trình tổ chức của một nhóm người cố kết, hoặc do một tổ chức tội phạm thực hiện). Như vậy, trong B chắc chắn có dấu hiệu A, nhưng A thì chưa chắc đã là B.

Nếu xem xét trách nhiệm hình sự trong trường hợp mà việc tổ chức thực hiện hành vi là của một nhóm người đứng trong một tổ chức và nhân danh tổ chức đó để hoạt động thì phải xem xét trách nhiệm hình sự của tổ chức, như là một chủ thể tổ chức hành vi phạm tội mà những người trong tổ chức đó phạm tội ngay từ chính hành vi tham gia tổ chức; còn các chủ thể khác, những người ngoài tổ chức (nếu có), phải được xác định trách nhiệm như đối với các trường hợp đồng phạm phức tạp khác. Một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về đồng phạm vì đã thực hiện những hành vi xúi giục, hoặc bị xúi giục thực hiện một tội phạm hay giúp sức cho những thành viên của tổ chức tội phạm thực hiện hành vi phạm tội, nhưng sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm có tổ chức nếu chính họ không có ý thức rằng họ đang tham gia vào công việc của một tổ chức phi pháp.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, sự phản ánh về tội phạm có tổ chức trong các BLHS mới ở mức độ đơn lẻ và thậm chí, ở từng khía cạnh, chưa đạt đến mức khái quát cần thiết. Trong hàng loạt các quy phạm Phần chung và Phần các tội phạm của BLHS năm 1999 đã đề cập đến yếu tố tội phạm có tổ chức. Tuy nhiên, qua cách biểu đạt trong các quy phạm pháp luật hình sự, tội phạm có tổ chức chỉ mới được nhìn nhận từ một dấu hiệu “phạm tội có tổ chức” như là một tình tiết tăng nặng (Điều 48 của BLHS năm 1999), hay một tình tiết tăng nặng định khung trong 77 cấu thành tội phạm cụ thể, hoặc ghi rõ cả trong phần các cấu thành cơ bản của một số tội phạm. Cho đến nay, BLHS này vẫn chưa có một chế định riêng về tội phạm có tổ chức và cũng như thế, trên các phương diện pháp luật tố tụng hình sự, thi hành án hình sự cũng không có những quy định liên quan đến tội phạm có tổ chức.

2. Xu hướng quy định tội phạm có tổ chức trong BLHS sửa đổi

Đến nay, nhu cầu điều chỉnh các vấn đề liên quan tội phạm có tổ chức trong pháp luật hình sự vẫn đang được đặt ra cấp thiết. Cần phải có hệ thống các quy phạm ở Phần chung của BLHS và tiếp tục cụ thể hoá nó ở Phần các tội phạm cụ thể những vấn đề liên quan tội phạm có tổ chức.

Vì vậy, trong lần sửa đổi BLHS BLHS năm 1999 này cần thể hiện rõ hơn quan điểm lý luận và chính sách hình sự đối với tội phạm có tổ chức bằng việc quy định khái niệm với những đặc điểm đặc trưng của tội phạm có tổ chức để làm cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý cho việc phân hoá trách nhiệm hình sự và hình phạt. Những dấu hiệu pháp lý hình sự tương đối riêng của tội phạm có tổ chức đặt ra những yêu cầu đặc trưng và khắt khe đối với quá trình điều tra, truy tố, xét xử và việc thi hành bản án hình sự có liên quan đến loại tội phạm này. Thêm vào đó, ít nhất, trong lập pháp hình sự cũng cần quy định những khái niệm pháp lý về hành vi phạm tội có tổ chức và tổ chức tội phạm.

Về mặt chính sách hình sựV, cần thấy rằng, theo Điều 20 của BLHS hiện hành, phạm tội có tổ chức là một hình thức đồng phạm mà trong đó có nhiều loại thành phần khác nhau như: người tổ chức (người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện hành vi phạm tội); người thực hành (người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội); người giúp sức (người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm); người xúi giục (là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm). Nhưng không phải tất cả các vụ có đồng phạm đòi hỏi phải có đầy đủ các thành phần nói trên, có những trường hợp có những thành phần cơ bản của nó là người tổ chức và người thực hiện. Mỗi thành viên tham gia vào đồng phạm phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với vai trò của họ trong quá trình cùng chung sức thực hiện tội phạm. Chế định phạm tội có tổ chức ở đây đóng vai trò tích cực đối với việc phân hoá trách nhiệm hình sự và cá thể hoá hình phạt, nhưng cũng chỉ mới đáp ứng được yêu cầu của chính sách hình sự ở mức độ đó. Vấn đề đặt ra là giải quyết vấn đề tội phạm hoá, hình sự hoá các hành vi tổ chức tội phạm, tham gia vào tổ chức tội phạm, tội phạm hoá các vai trò của các thành viên tham gia tổ chức tội phạm và trách nhiệm hình sự pháp nhân...

Lâu nay, vai trò của người tổ chức ra tội phạm mới chỉ được xác định, được đánh giá như một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (yếu tố tăng nặng mức hình phạt hoặc là yếu tố tăng nặng định khung) mà chưa thể hiện rõ trên thực tế sử dụng nó thành yếu tố định tội danh hay trở thành yếu tố căn bản để tội phạm hóa, hình sự hoá loại hành vi này.

Đã đến lúc cần coi việc tổ chức, tham gia vào các tổ chức tội phạm khi biết rõ đó là tổ chức tội phạm cũng là hành vi nguy hiểm cho xã hội và buộc phải chịu trách nhiệm hình sự mà không cần phải chứng minh về những hành vi phạm tội của người đó trong tổ chức tội phạm. Khi một kẻ đã lấy việc tổ chức thực hiện các tội phạm làm phương châm sống và phương thức tồn tại thì ngay sự tồn tại của hắn đã nguy hiểm cho xã hội.

Khác với đồng phạm nói chung, một tội phạm được coi có tổ chức thì đó không chỉ là tội phạm với ý nghĩa hành vi nguy hiểm cho xã hội mà còn cần thiết nhận thức nó như là sự biểu hiện cụ thể ra bên ngoài một phương thức phạm tội đặc trưng. Nói cách khác, bản thân việc triển khai thực hiện trên thực tế (sự chuẩn bị, tạo các điều kiện và thúc đẩy để những âm mưu, ý đồ, động cơ, mục đích thành hiện thực) một tội phạm mà trong cấu thành của tội đó nhà làm luật đã ghi nhận dấu hiệu có tổ chức (dù đó là dấu hiệu định tội danh hay tình tiết tăng nặng, định khung hình phạt) thì đã đủ để nói có tổ chức. Như vậy, các yếu tố xúi giục người khác phạm tội, yếu tố giúp sức cùng với các chủ thể này trong đồng phạm sẽ tự nhiên mất đi. Trong một tội phạm có tổ chức, sẽ không còn các nhân tố xúi giục, giúp sức mà chỉ còn hai nhân tố: những người tổ chức (cầm đầu, chủ mưu...) và những người thực hành (với các công đoạn, thủ pháp, các vị trí khác nhau, thực hiện các công việc khác nhau được phân công). Chỉ có thể có những người xúi giục, người giúp sức khi có sự tham gia của những người ngoài tổ chức đã có sự gắn kết trước, và không biết rằng họ đang cộng tác với một tổ chức tội phạm. Khi đó, ta có thể nói đến đồng phạm với ý nghĩa bình thường, phổ biến của nó.

Theo cách quy định trong các điều luật của BLHS hiện hành, dưới góc độ hình luật có thể hình dung khái niệm: Tội phạm có tổ chức là một dạng đặc biệt của hành vi đồng phạm do một nhóm người cấu kết với nhau một cách chặt chẽ để tổ chức thực hiện các hoạt động nhằm đạt những mục đích phạm tội đã được bàn định trước.

Như vậy, căn cứ vào những đặc điểm pháp lý mà pháp luật hình sự quy định, người ta có thể coi tội phạm có tổ chức như một cấu thành đặc biệt chung (mô hình) cho những trường hợp phạm tội do cố ý mà có sự tham gia của những người được tổ chức, đồng thời, hành vi được thực hiện có tổ chức…

Tính có tổ chức của tội phạm có tổ chức còn là cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc xem xét vấn đề trách nhiệm hình sự pháp nhân trong điều kiện đổi mới mạnh mẽ và hình thành quan hệ kinh tế - xã hội mới hiện nay. Và phải thấy rằng, giải quyết đúng đắn vấn đề trách nhiệm hình sự đối với tội phạm có tổ chức cũng là cơ sở lý luận và cơ sở tư tưởng pháp lý quan trọng để giải quyết vấn đề xác lập trách nhiệm hình sự pháp nhân. Trước hết, về mặt nguyên tắc, do bản chất giai cấp của Nhà nước và pháp luật quy định, khi xác lập trách nhiệm hình sự pháp nhân, phải loại trừ các pháp nhân công quyền - người xác lập nên chính sách hình sự và quy định pháp luật. Đây cũng là kinh nghiệm lịch sử và thực tiễn của nhiều nước trên thế giới. Như vậy, ngoại trừ các pháp nhân công quyền (các thiết chế quyền lực Nhà nước và Đảng chính trị lãnh đạo chính quyền), hành vi vi phạm pháp luật hình sự của một nhóm người (cho dù là đại diện cho một tập hợp người nào đó, một doanh nghiệp, một tổ chức, một hội nhóm) đã được tính toán, thực hiện một cách có tổ chức, đều có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý, kể cả trách nhiệm hình sự. Không thể nói rằng pháp nhân không có năng lực ý chí và lý trí khi chuẩn bị thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Khi một tập thể lãnh đạo, quản lý pháp nhân vì lợi ích cục bộ của cộng đồng pháp nhân đó, mà có hành vi trái pháp luật hình sự, pháp nhân đó đã thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự, đáng xử lý bằng hình phạt. Pháp nhân phải bị xử lý bằng các biện pháp chế tài tổ chức, tài chính, hành chính, (phạt tiền, hạn chế phạm vi hoạt động, rút giấy phép kinh doanh, giải thể v.v..) bởi nó đủ năng lực chịu những tác động đó.

Vì vậy, đã đến lúc cùng với việc xử lý vấn đề trách nhiệm hình sự đối với tổ chức tội phạm, có thể và cần thiết giải quyết cả vấn đề trách nhiệm hình sự đối với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội có tư cách pháp nhân trên cơ sở thừa nhận họ như một chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự.

(1) Xem thêm: Hồ Trọng Ngũ, Tội phạm có tổ chức - Lịch sử và vấn đề, Nxb. Công an nhân dân, 2007.

GS.TS Hồ Trọng Ngũ, Uỷ viên thường trực Uỷ ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Phân định giữa khiếu nại và tố cáo và những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng Luật Tố cáo và giải quyết tố cáo (21/07/2010)
Quy định nguyên tắc suy đoán không phạm tội để bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội (16/07/2010)
Hoàn thiện cơ sở pháp lý về bảo vệ người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong vụ án hình sự (25/06/2010)
Xác định tư tưởng chỉ đạo trong việc nghiên cứu, xây dựng Luật Viên chức (14/04/2010)
Pháp luật về biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh và hướng sửa đổi, bổ sung (28/01/2010)
Phân định thẩm quyền trong tố tụng hình sự Việt Nam (13/01/2010)
Áp dụng pháp luật tố cáo và giải quyết tố cáo: Thực trạng và hướng hoàn thiện (07/10/2009)
Phân định thẩm quyền trong tố tụng hình sự Việt Nam (13/01/2010)
Số 08 ((169) tháng 4/2010) 20/04/2010
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân