|
Vấn đề phi tội phạm hóa trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự
|
||
|
Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII, Chính phủ đã trình Quốc hội cho ý kiến về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự (BLHS). Một trong những vấn đề được các Đại biểu Quốc hội quan tâm cho ý kiến là việc phi tội phạm hóa (bỏ tội phạm) đối với một số tội phạm. Phi tội phạm hóa đối với một số hành vi đã được coi là tội phạm theo BLHS năm 1999 có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực tới công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Vì vậy, hoạt động này phải được tiến hành thận trọng và phải có sự cân nhắc thấu đáo. Nhằm cung cấp cho Quốc hội ý kiến đa chiều về lĩnh vực này, bài viết bàn đến việc phi tội phạm hóa một số tội phạm.
1. Tội đầu cơ (Điều 160) Theo Khoản 1, Điều 160 của BLHS năm 1999, thì ngoài những điều kiện chung về năng lực chủ thể, một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đầu cơ phải thoả mãn đồng thời năm dấu hiệu sau: 1) lợi dụng tình hình khan hiếm hoặc tạo ra sự khan hiếm giả tạo; 2) trong tình hình thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh; 3) mua vét hàng hoá có số lượng lớn; 4) nhằm bán lại thu lợi bất chính; 5) gây hậu quả nghiêm trọng. Còn “Thuyết minh về phương án sửa đổi, bổ sung một số điều luật cụ thể” do Ban soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 và Tờ trình số 155/TTr-CP ngày 09/10/2008 của Chính phủ về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 (Tờ trình số 155/TTr-CP) khẳng định trong thời gian qua, tòa án xét xử rất ít các vụ án về đầu cơ, dù trên thực tế đã có nhiều hành vi lợi dụng tình thế khó khăn về kinh tế, gom hàng với số lượng lớn (nhất là những mặt hàng thiết yếu), chờ khi giá lên bán ra thu lời lớn. Đây là hành vi hết sức nguy hiểm, làm rối loạn thị trường, giá cả. Vì vậy, Ban soạn thảo đã dự kiến bổ sung vào dự luật trường hợp thực hiện hành vi đầu cơ “trong tình hình có khó khăn về kinh tế”. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc quy định tội đầu cơ. Rất nhiều ý kiến tán thành với dự thảo Luật (1). Có ý kiến lại đề nghị không nên sửa Tội đầu cơ (2). Chúng tôi cho rằng, Tội đầu cơ nên bị xoá bỏ vì quy định của BLHS hiện hành về tội này không còn phù hợp trong điều kiện nền kinh tế thị trường, dẫn đến việc áp dụng pháp luật hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi đầu cơ là không khả thi. Việc phi tội phạm hóa hành vi đầu cơ nên được tiến hành căn cứ từ tính nguy hiểm cho xã hội của nó. Công bằng mà nói, khi nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, hành vi đầu cơ cũng có, nhưng tính nguy hiểm cho xã hội của nó là không đáng kể và có thể kiểm soát được. Gần đây có xảy ra vài trường hợp gom hàng, tích trữ hàng chờ tăng giá đối với một số mặt hàng như xăng dầu, thép, phân bón, thuốc trừ sâu… nhưng tình hình không đến nỗi nghiêm trọng và khi có sự can thiệp của Nhà nước thì hầu như giá cả sẽ bình ổn trở lại theo quy luật cung cầu của thị trường, quyền lợi của người tiêu dùng vẫn được bảo đảm. Chẳng hạn, nếu có người mua vét lúa, gạo tạo ra sự khan hiếm lúa, gạo nhằm bán lại giá cao thu lợi bất chính, Nhà nước có thể mở kho dự trữ nhằm bình ổn giá cả hoặc Nhà nước điều chỉnh kế hoạch xuất khẩu gạo. Khi đó, hành vi đầu cơ lúa, gạo sẽ không thể gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội và người đầu cơ có thể bị phá sản. Đứng ở góc độ khác, việc coi hành vi đầu cơ là tội phạm trong giai đoạn hiện nay có thể làm giảm khả năng nghiên cứu nhu cầu thị trường, không khuyến khích hoạt động đầu tư kinh doanh của cá nhân và doanh nghiệp đối với một số mặt hàng thiết yếu của xã hội. 2. Tội sử dụng trái phép chất ma tuý (Điều 199) Theo Tờ trình số 155/TTr-CP và Báo cáo thẩm tra số 1838/BC-UBTP12, thì cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 đều tán thành việc phi tội phạm hóa đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đươc quy định tại Điều 199 của BLHS. Quan điểm trên xuất phát từ lý lẽ cho rằng, người sử dụng và nghiện chất ma tuý phải được xem như là bệnh nhân, nạn nhân cần được chữa trị hơn là bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chúng tôi cho rằng, quan điểm này có điểm hợp lý. Người bị nghiện chất ma tuý nên được xem như bệnh nhân và cần thiết phải được chữa trị vì khi họ bị nghiện cần phải có liệu pháp chữa trị chứ họ không thể tự cai nghiện được. Tuy nhiên, theo chúng tôi, không nên phi tội phạm hóa hành vi sử dụng chất ma túy. Căn bệnh nghiện ma tuý khác với các căn bệnh khác ở chỗ người bệnh tự làm cho mình bị nhiễm bệnh mà việc làm này được BLHS năm 1999 coi là trái pháp luật. Vì vậy, họ cần phải được cai nghiện nhưng Tội sử dụng trái phép chất ma tuý thì không nên bỏ bởi đây là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Trước hết, hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý bị coi là hành vi trái pháp luật và dù nhận thức được điều đó, nhưng người phạm tội vẫn thực hiện. Khoản 1, Điều 199 của BLHS quy định người sử dụng trái phép chất ma tuý sẽ được giáo dục nhiều lần, nếu vẫn không giáo dục được, họ mới bị xử lý hành chính bằng cách đưa vào cơ sở bắt buộc chữa bệnh. Tuy nhiên, sau đó họ lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, lúc này họ mới bị coi là phạm tội sử dụng trái phép chất ma tuý. Như vậy, nếu coi người phạm tội như người bệnh mà không truy cứu trách nhiệm hình sự thì việc chữa trị nhiều lần, tiêu tốn rất nhiều thời gian, tiền bạc của Nhà nước cũng sẽ không có hiệu quả vì họ cứ liên tục để mình bị nhiễm bệnh. Trong trường hợp tội này bị xoá bỏ, người nghiện vẫn thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, có lẽ xã hội và Nhà nước đành “bó tay”. Mặt khác, sử dụng trái phép chất ma tuý là nguyên nhân của nhiều tội phạm (như các tội xâm phạm sở hữu, xâm phạm tính mạng, sức khoẻ…) và tệ nạn xã hội khác. Khi người nghiện ma túy lên cơn nghiện mà không có tiền mua thuốc, việc gì họ cũng có thể làm. Lúc đó, họ là “nguồn nguy hiểm cao độ” đối với bất cứ ai trong xã hội. Mặt khác, đứng ở góc độ người sử dụng trái phép chất ma tuý, việc loại bỏ tội phạm này ra khỏi BLHS được xem như sự mở cửa cho hành vi sử dụng chất ma túy, bởi người nghiện nhận thức được dù họ có nghiện hút nhưng Nhà nước và xã hội phải luôn chăm lo, đưa họ đi cai nghiện bằng ngân sách Nhà nước. 3. Tăng mức định lượng giá trị tài sản trong các cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu Chúng tôi đồng ý với quan điểm của Ban soạn thảo về việc tăng mức định lượng giá trị tài sản trong các cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu. Thời điểm ra đời BLHS năm 1999 là vào những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Đến nay, nước ta đã có sự thay đổi rất lớn về điều kiện kinh tế, xã hội. Tốc độ lạm phát và chỉ số giá tiêu dùng luôn tăng, năm sau cao hơn năm trước. Vì vậy, mức định lượng giá trị tài sản được xác lập trong cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm sở hữu vào thời điểm mười năm trước cho đến nay không còn phù hợp. Hiện có ba phương án quy định về mức định lượng giá trị tài sản đối với các tội phạm trên như sau: 1) Có thể nâng mức định lượng lên gấp đôi hoặc gấp bốn so với mức định lượng giá trị tài sản hiện tại (3). Ví dụ, đối với Tội trộm cắp tài sản, mức định lượng khởi điểm hiện tại là 500.000 đồng có thể tăng lên thành 1.000.000 - 2.000.000 đồng; 2) Mức định lượng cần căn cứ vào giá vàng hoặc ngoại tệ được chuyển đổi sang đồng Việt Nam; 3) Mức định lượng cần căn cứ vào mức lương tối thiểu (4). Trong ba phương án này, mỗi phương án đều có những điểm phù hợp và những điểm chưa hợp lý của nó. ý kiến đề xuất nâng mức định lượng giá trị tài sản tối thiểu lên đến một mức cố định nào đó có thể hợp lý trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, theo tổng kết, tốc độ lạm phát của nước ta tăng trung bình 9% kể từ năm 2004 đến nay, giá tiêu dùng liên tục tăng. Thực tế trên khiến cho mức định lượng giá trị tài sản cố định luôn bị lạc hậu, buộc các nhà làm luật phải thường xuyên sửa đổi mức định lượng, dẫn đến việc sửa đổi BLHS. Điều đó rất khó thực hiện khi Quốc hội nước ta chỉ họp 2 kỳ /năm. Quan điểm cho rằng, mức định lượng giá trị tài sản cần căn cứ vào giá vàng hoặc ngoại tệ được chuyển đổi sang đồng Việt Nam thì các quy định của BLHS sẽ không bị lạc hậu, có thể phân hoá triệt để tội phạm vì giá cả này được cập nhật mỗi ngày. Tuy nhiên, phương án trên sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Đồng thời, người dân cũng khó nhận biết lúc nào hành vi của mình trở thành tội phạm. Bởi vì, có thể cũng với hành vi chiếm đoạt tài sản với giá trị nhất định nào đó, hôm qua bị cho là tội phạm nhưng hôm nay có thể không bị coi là tội phạm. Ví dụ, quy định hành vi trộm cắp tài sản với giá trị tương đương một chỉ vàng 24K sẽ bị coi là tội phạm. Hôm nay, giá vàng 24K là 1.895.000 đồng, ngày mai giá có thể lên 1.900.000 đồng. Như vậy, nếu hôm nay một người chiếm đoạt tài sản trị giá 1.895.000 đồng bị coi là tội phạm, nhưng ngày mai cũng với hành vi đó, họ sẽ không phạm tội. Ngoài ra, sự thay đổi về giá vàng hoặc ngoại tệ dù được công bố chính thức bởi Ngân hàng Nhà nước hay Công ty vàng bạc…, thì nó cũng không mang tính pháp quy và chủ yếu căn cứ vào giá cả thế giới. Điều đó làm giảm tính pháp chế trong quy định của pháp luật hình sự liên quan (điều luật quy định về tội phạm xâm phạm sở hữu cụ thể). Với các điểm hạn chế trên, phương án mức định lượng giá trị tài sản căn cứ vào giá vàng hoặc ngoại tệ là không hợp lý. Chúng tôi tán thành quan điểm xác định mức định lượng giá trị tài sản căn cứ vào mức lương tối thiểu. Phương án này một mặt giúp cho quy định của BLHS không bị lạc hậu so với sự biến động của giá cả nên không cần phải sửa đổi BLHS. Mặt khác, tính pháp chế của BLHS cũng không bị giảm sút khi áp dụng quy định của pháp luật có liên quan để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Bởi vì, căn cứ định lượng giá trị tài sản để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu là dựa vào mức lương tối thiểu, được quy định bởi Chính phủ, bằng văn bản pháp quy - Nghị định. Trong BLHS hiện hành cũng có những điều luật quy định về các tội phạm khác cũng áp dụng theo phương án này. Chẳng hạn, đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, Điều 202 BLHS quy định: “Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ…”. Để xác định một hành vi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ hay không, người áp dụng phải đối chiếu với các văn bản pháp luật về giao thông đường bộ như: Luật Giao thông đường bộ, các nghị định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ… Nhiều tội phạm khác cũng được xây dựng theo mô hình đó như: Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (Điều 175), Tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác (Điều 201), … Đối với các tội phạm này, để xem xét một hành vi cụ thể có phải là tội phạm hay không cần viện dẫn các quy phạm pháp luật của các ngành luật khác có liên quan. Như vậy, mức định lượng giá trị tài sản đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu căn cứ vào mức lương tối thiểu là có thể chấp nhận được. Có ý kiến cho rằng, quy định như vậy thì căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự có thể tháng sau khác tháng trước. Điều này rất khó xảy ra vì trên thực tế, mức lương tối thiểu hiếm khi được Chính phủ điều chỉnh tăng lên hàng tháng, kể cả khi tình hình lạm phát đang diễn ra nghiêm trọng như hiện nay. Theo BLHS hiện hành, có bốn mức định lượng giá trị tài sản tối thiểu trong quy định của các tội xâm phạm sở hữu, bao gồm: 1) 500.000 đồng đối với: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Điều 137), Tội trộm cắp tài sản (Điều 138), Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139), Tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143); 2) 1.000.000 đồng đối với: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140); (3) 5.000.000 đồng đối với: Tội chiếm giữ trái phép tài sản (Điều 141); 50.000.000 đồng đối với: Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều 142), Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản Nhà nước (Điều 144), Tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145). Các mức trên được quy định căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm và điều kiện kinh tế, xã hội của những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ 20. Đến nay, các mức định lượng này không còn phù hợp nữa. Dựa trên mức lương tối thiểu chung do Chính phủ ban hành để quy định mức định lượng giá trị tài sản tối thiểu đối với các tội xâm phạm sở hữu theo hệ số, chúng tôi đề xuất như sau: - Đối với các mức định lượng tối thiểu hiện tại là 500 ngàn đồng thì tăng lên thành 2 lần mức lương tối thiểu; - Đối với các mức định lượng tối thiểu hiện tại là 1 triệu đồng thì tăng lên thành 4 lần mức lương tối thiểu; - Đối với các mức định lượng tối thiểu hiện tại là 5 triệu đồng thì tăng lên thành 20 lần mức lương tối thiểu; - Đối với các mức định lượng tối thiểu hiện tại là 50 triệu đồng thì tăng lên thành 200 lần mức lương tối thiểu. Các mức đó, một mặt phù hợp với tính nguy hiểm cho xã hội của các tội phạm xâm phạm sở hữu trong điều kiện hiện nay, mặt khác, nó cũng không lạc hậu so với mức trượt giá đang diễn ra từng ngày ở nước ta khi mức lương tối thiểu có thể được Chính phủ điều chỉnh vài năm tăng một lần. (1) Xem thêm Báo cáo thẩm tra số 1838/BC-UBTP12 ngày 14/10/2008 của ủy ban Tư pháp của Quốc hội về Dự án luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS (Báo cáo thẩm tra số 1838/BC-UBTP12): phần Về sửa đổi, bổ sung Tội đầu cơ (Điều 160)- tr. 5, 6. (2) Phát biểu của Đại biểu Quốc hội Trần Văn Độ - Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang tại phiên thảo luận ở hội trường sáng ngày 14/11/2008 về một số nội dung còn có ý kiến khác nhau của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS. (3) Phương án Ban soạn thảo đưa ra trong Tờ trình số 155/TTr-CP và Thuyết minh về phương án sửa đổi, bổ sung một số điều luật cụ thể của BLHS năm 1999. (4) Ý kiến của ĐBQH Trần Văn Độ (Đoàn ĐBQH tỉnh An Giang) và ĐBQH Vũ Hồng Anh (Đoàn ĐBQH TP. Hà Nội) trong buổi thảo luận ở hội trường về một số nội dung còn có ý kiến khác nhau của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS sáng ngày 14/11/2008.
|









