Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 22/09/2017, 01:07(GMT+7)
 
Hành chính - hình sự - tư pháp

Hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh của cơ quan điều tra

1. Các quy định hiện hành

Tiêu chuẩn bổ nhiệm điều tra viên. Điều tra viên (ĐTV) là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự hiện hành (Pháp lệnh TCĐTHS), công dân Việt Nam là sĩ quan Công an, Quân đội tại ngũ, cán bộ Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), có đủ các tiêu chuẩn sau: Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực; có trình độ Đại học An ninh, Đại học Cảnh sát hoặc Đại học Luật; có chứng chỉ nghiệp vụ điều tra; có thời gian làm công tác thực tiễn theo quy định của Pháp lệnh TCĐTHS; có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV. Nhiệm kỳ của ĐTV là năm năm kể từ ngày được bổ nhiệm. ĐTV có ba bậc là ĐTV sơ cấp, ĐTV trung cấp và ĐTV cao cấp

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV sơ cấp.

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định và đã là ĐTV sơ cấp ít nhất năm năm, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của ĐTV sơ cấp thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV trung cấp.

- Người có đủ tiêu chuẩn quy định và đã là ĐTV trung cấp ít nhất năm năm, có khả năng nghiên cứu, tổng hợp đề xuất biện pháp phòng, chống tội phạm, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của ĐTV sơ cấp, ĐTV trung cấp thì có thể được bổ nhiệm làm ĐTV cao cấp.

Ngoài các quy định trên, trong trường hợp đặc biệt, người được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến công tác tại cơ quan điều tra (CQĐT), tuy chưa có chứng chỉ nghiệp vụ điều tra, chưa đủ thời gian đối với chức danh ĐTV trung cấp, cao cấp, nhưng có đủ các tiêu chuẩn khác được quy định thì cũng có thể được bổ nhiệm làm ĐTV trung cấp hoặc ĐTV cao cấp.

Bổ nhiệm ĐTV. Hệ thống CQĐT hiện nay được tổ chức thuộc ba lực lượng: Công an nhân dân (CAND); Quân đội nhân dân (QĐND) và VKSND tối cao. Biên chế trong mỗi hệ thống CQĐT này có các ĐTV sơ cấp, trung cấp, cao cấp. Tuy nhiên, do sự phân cấp theo thẩm quyền điều tra nên ngoài quy định chung, quy trình bổ nhiệm ĐTV ở mỗi lực lượng cũng có những điểm khác và mỗi ngành sẽ thành lập ra các Hội đồng tuyển chọn ĐTV.

- Bổ nhiệm ĐTV trong hệ thống CQĐT thuộc lực lượng CAND: CQĐT trong lực lượng CAND chia làm hai cấp là các CQĐT thuộc Bộ Công an và các CQĐT địa phương (cấp tỉnh, huyện), nên có hai Hội đồng tuyển chọn ĐTV.

Hội đồng tuyển chọn ĐTV (cao cấp, trung cấp, sơ cấp) ở các CQĐT Bộ Công an gồm có Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND làm Chủ tịch; đại diện lãnh đạo Cơ quan Cảnh sát điều tra - CSĐT - (Cục CSĐT tội phạm về trật tự xã hội, Cục CSĐT tội phạm về tham nhũng, Cục CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ, Cục CSĐT tội phạm về ma túy và Văn phòng Cơ quan CSĐT); Cơ quan An ninh điều tra (ANĐT); Cục Tổ chức - cán bộ và Vụ pháp chế Bộ Công an là uỷ viên.

Hội đồng tuyển chọn ĐTV (trung cấp, sơ cấp) ở CQĐT cấp tỉnh, huyện gồm có Giám đốc Công an cấp tỉnh làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Cơ quan CSĐT, Cơ quan ANĐT, Phòng Tổ chức - cán bộ và Văn phòng Công an cấp tỉnh là ủy viên.

- Bổ nhiệm ĐTV trong hệ thống CQĐT của lực lượng QĐND: Hội đồng tuyển chọn ĐTV trong QĐND gồm có Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo CQĐT hình sự, Cơ quan ANĐT, Cục cán bộ và Vụ pháp chế Bộ Quốc phòng là ủy viên.

- Bổ nhiệm ĐTV trong CQĐT của VKSND tối cao: Hội đồng tuyển chọn ĐTV do một Phó Viện trưởng VKSND tối cao làm Chủ tịch, đại diện Ủy ban kiểm sát VKSND tối cao, đại diện lãnh đạo Viện kiểm sát Quân sự trung ương, CQĐT và Vụ Tổ chức - cán bộ VKSND tối caoủy viên.

 Miễn nhiệm, mất chức, cách chức chức danh ĐTV: Điều 34 Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004 quy định việc miễn nhiệm, mất chức và cách chức chức danh ĐTV như sau:

- Quy định về miễn nhiệm: ĐTV đương nhiên được miễn nhiệm chức danh ĐTV khi nghỉ hưu, chuyển công tác khác. Hoặc ĐTV có thể được miễn nhiệm chức danh vì lý do sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

- Quy định về mất chức: ĐTV đương nhiên bị mất chức danh ĐTV khi bị kết tội bằng bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc bị kỷ luật bằng hình thức tước danh hiệu CAND, tước quân hàm sỹ quan QĐND.

- Quy định về cách chức: Tuỳ theo tính chất và mức độ vi phạm, ĐTV có thể bị cách chức chức danh ĐTV khi thuộc một trong các trường hợp sau: vi phạm trong công tác điều tra vụ án hình sự; vi phạm quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh này; bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; vi phạm về phẩm chất đạo đức; có hành vi vi phạm pháp luật khác.

Đối với chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT: Theo quy định tại khoản 1 Điều 35 Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004, tiêu chuẩn để bổ nhiệm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT phải là những người đã “ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp, có năng lực tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra thì có thể được bổ nhiệm làm thủ trưởng, pthủ trưởng CQĐT” (khoản 1 Điều 35). Như vậy, theo quy định này, trước khi được bổ nhiệm vào các chức danh trên thì ứng cử viên phải là người có đủ tiêu chuẩn là một ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận thủ trưởng, pthủ trưởng CQĐT trong CAND, trong QĐND do Bộ trưởng của hai bộ quyết định, ở VKSND tối cao do Viện trưởng VKSND tối cao quyết định.

2. Một số vướng mắc và khó khăn trong thực tiễn thi hành

Pháp lệnh TCĐTHS ra đời từ năm 2004, sau hơn 8 năm thi hành đã được sửa đổi, bổ sung hai lần vào các năm 2007, 2009. Qua thực tiễn áp dụng, Pháp lệnh đã bộc lộ một số vướng mắc, thiếu sót nhất định:

Tên gọi, đối tượng, phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh TCĐTHS còn pha trộn với ngành luật tố tụng hình sự

Tên gọi của Pháp lệnh là “Pháp lệnh TCĐTHS” có lẽ chưa thực sự gần với bản chất của một văn bản quy định về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của hệ thống CQĐT hình sự thuộc ngành Luật Nhà nước (Luật Hiến pháp), bởi tên gọi này thiếu từ “cơ quan”. Vì thế nên có thể dẫn đến hai cách hiểu khác nhau: (i) đây là văn bản quy định hướng dẫn việc thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự (TTHS) thuộc ngành luật TTHS; (2) đây là văn bản quy định về xây dựng, cơ cấu tổ chức của hệ thống CQĐT hình sự. Câu hỏi đặt ra là “Pháp lệnh TCĐTHS thuộc ngành luật nào điều chỉnh”, thuộc ngành Luật Nhà nước hay thuộc ngành Luật TTHS, trong khi nội dung của Pháp lệnh thuộc về ngành Luật Nhà nước (khoa học pháp lý Việt Nam phân chia hệ thống pháp luật Việt Nam thành 12 ngành luật).

 Bộ luật TTHS ra đời năm 1988, Pháp lệnh TCĐTHS được ban hành năm 1989, tiếp đến năm 2003 Bộ luật TTHS được sửa đổi, bổ sung và ngay sau đó, năm 2004 Pháp lệnh TCĐTHS cũng được sửa đổi, bổ sung. Như vậy, về tiến trình xây dựng luật, sự ra đời của Pháp lệnh này giống như một văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật TTHS. Đã thế, nhiều quy phạm trong Pháp lệnh còn thiếu sót, hạn chế nên chưa đủ sức điều chỉnh về cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, thẩm quyền của hệ thống các CQĐT theo tinh thần của ngành Luật Hiến pháp. Do các thiếu sót này mà mỗi lực lượng Công an, Quân đội, VKSND khi ban hành các thông tư hướng dẫn triển khai nội dung Pháp lệnh này về hệ thống CQĐT theo chức năng của ngành mình, đã thiếu sự thống nhất với nhau.

Một số quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm ĐTV chưa thống nhất, rõ ràng

Khoản 1 Điều 30 Pháp lệnh TCĐTHS quy định, ngoài các tiêu chuẩn khác thì người được bổ nhiệm làm ĐTV phải có thời gian “làm công tác thực tiễn”, nhưng điểm a, khoản 2 Điều 30 quy định về tiêu chuẩn để bổ nhiệm ĐTV sơ cấp lại quy định người được bổ nhiệm - ngoài các tiêu chuẩn chung quy định tại khoản 1 Điều 30 - phải có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên. Quy định như trên là không thống nhất. 

- Về cách hiểu “làm công tác thực tiễn”, có quan điểm cho rằng, người làm công tác thực tiễn theo quy định trong Pháp lệnh này chính là những người đang làm công tác đấu tranh phòng ngừa và điều tra tội phạm, thường xuyên sử dụng pháp luật hình sự, TTHS vào thực tiễn công tác (ví dụ: cán bộ, tổng hợp, cán bộ trinh sát trong CQĐT thuộc lực lượng Công an); quan điểm thứ hai cho rằng, người làm công tác thực tiễn là những sĩ quan Quân đội, Công an, cán bộ Kiểm sát đang làm việc thực tiễn có liên quan đến hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung với một thời gian nhất định được coi là người làm công tác thực tiễn (ví dụ: cán bộ làm công tác tổng hợp án, chuyên đề, cán bộ trinh sát, cán bộ đã từng làm ĐTV tại các phòng CSĐT, ANĐT thuộc lực lượng CAND).

- Về cách hiểu “làm công tác pháp luật”, thì đây là một khái niệm trừu tượng hơn so với khái niệm làm tác công thực tiễn. Xung quanh thuật ngữ này cũng có hai quan điểm khác nhau, một cho rằng, tất cả những cán bộ làm việc tại CQĐT (gồm cán bộ tổng hợp, trợ lý, trinh sát) đều là những người làm công tác pháp luật, bởi mọi công việc của họ đều phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và đương nhiên sử dụng pháp luật. Quan điểm thứ hai cho rằng, người làm công tác pháp luật là những sĩ quan Công an, Quân đội, cán bộ VKSND đã tốt nghiệp Đại học Cảnh sát, An ninh, Luật và đang làm công tác pháp luật tại các cơ quan của lực lượng Công an, Quân đội, VKSND (cả trong CQĐT và cơ quan khác).

Tại đoạn 2 điểm b khoản 2 Điều 30 quy định: “Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, có thời gian làm công tác pháp luật từ chín năm trở lên...”; đoạn 2 điểm c khoản 2 Điều 30 quy định: Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười bốn năm trở lên...”. Vậy, người làm công tác pháp luật trong trường hợp này là làm việc liên tục hay có thể ngắt quãng nhưng cộng đủ thời gian là có thể bổ nhiệm ĐTV? Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng, do nhu cầu cán bộ, nếu cán bộ đã có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 30 rồi thì đương nhiên họ đủ tiêu chuẩn để bổ nhiệm ĐTV mà không cần phải quy định thêm “làm công tác pháp luật” từ 9 năm hoặc 14 năm, quy định như vậy là thừa, tạo nên sự rắc rối và thậm chí nếu hiểu không đúng sẽ dẫn đến sự tùy tiện.

Quy định về tiêu chuẩn bổ nhiệm thủ trưởng, pthủ trưởng CQĐT chưa rõ ràng và đầy đủ  

Khoản 1 Điều 35 Pháp lệnh TCĐTHS quy định, những người là ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp, có năng lực tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra thì có thể được bổ nhiệm làm thủ trưởng, pthủ trưởng CQĐT. Quy định như vậy mới chỉ dừng ở tiêu chuẩn để bổ nhiệm, mà chưa quy định về trình tự, thủ tục bổ nhiệm, thời hạn của chức danh, trong khi đó chức danh ĐTV được bổ nhiệm có thời hạn. Thực tế, nhiều người giữ chức danh thủ trưởng, pthủ trưởng CQĐT với thời hạn rất dài, có thể lên đến 10-15 năm mà không có thủ tục bổ nhiệm lại như chức danh ĐTV.

Do quy định chưa đầy đủ về tiêu chuẩn nên chưa tách bạch giữa chức năng tư pháp với chức năng quản lý của thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT. Người có chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT thường là người đồng thời giữ chức vụ quản lý hành chính, quản lý nhà nước. Đặc biệt là các CQĐT thuộc lực lượng CAND, nhất là sau khi thực hiện theo mô hình mới, trong các CQĐT có cả lực lượng ĐTV và trinh sát, nên thủ trưởng và phó thủ trưởng CQĐT đồng thời là những người chỉ huy của các cơ quan này thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác phòng ngừa và điều tra tội phạm, do đó nhiều nơi thủ trưởng CQĐT thường chỉ là hình thức, mà công việc này được giao cho một phó chuyên trách.

Mặc dù Pháp lệnh quy định “ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp, có năng lực tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra thì có thể được bổ nhiệm làm thủ trưởng, pthủ trưởng CQĐT” (khoản 1 Điều 35), nhưng thực tế vẫn còn rất nhiều trường hợp người được bổ nhiệm vào các chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT không thỏa mãn tiêu chuẩn này. Thậm chí có người đã giữ lần lượt nhiều chức vụ thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT các cấp, nhưng chưa một lần được bổ nhiệm chức danh ĐTV, đặc biệt là trong lực lượng CAND. Có thực trạng này là theo quy định, thường sau khi bổ nhiệm chức vụ thủ trưởng, phó thủ trưởng đơn vị (ví dụ, trưởng, phó Công an quận, huyện; trưởng, phó phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội,...) xong rồi mới bổ nhiệm chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT; mà để bổ nhiệm chức vụ thủ trưởng, phó thủ trưởng đơn vị lại theo tiêu chuẩn cán bộ, công chức mà không theo tiêu chuẩn chức danh ĐTV hay tiêu chuẩn chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT như Pháp lệnh TCĐTHS quy định. Sự tồn tại này xuất phát từ tính chất đặc thù của ngành Công an và đây là điểm khác với việc bổ nhiệm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT thuộc lực lượng QĐND và VKSND tối cao, bởi các CQĐT thuộc hai cơ quan này chuyên trách làm nhiệm vụ điều tra hình sự, không kiêm nhiệm cả công tác trinh sát, phòng ngừa như các CQĐT thuộc lực lượng CAND.

Quy định về trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận thủ trưởng, pthủ trưởng CQĐT chưa rõ ràng

Khoản 2 Điều 35 Pháp lệnh TCĐTHS quy định về việc bổ nhiệm thủ trưởng, pthủ trưởng CQĐT trong CAND và QĐND do Bộ trưởng của hai bộ này quyết định; ở VKSND tối cao do Viện trưởng VKSND tối cao quyết định. Thuật ngữ “quyết định” ở đây rất chung chung, nên mỗi ngành thực hiện một kiểu. Trong lực lượng CAND, chỉ có chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT Bộ Công an, thì Bộ trưởng mới ra quyết định, còn các trưởng phòng của các đơn vị Cảnh sát, ANĐT thuộc các Cục điều tra theo khoản 1 Điều 9 Pháp lệnh TCĐTHS (sửa đổi, bổ sung năm 2007) thì do Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND ra quyết định bổ nhiệm.

Cũng tại khoản 2 Điều 35, Pháp lệnh quy định về miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận, nhưng không quy định điều kiện như đối với ĐTV. Các quy định về trình tự, thủ tục miễn nhiệm, cách chức, thu hồi giấy chứng nhận thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT hoàn toàn thiếu vắng. Vì vậy, khi người giữ chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT chuyển sang chức vụ công tác khác hay được bổ nhiệm chức vụ mới, hầu hết họ “tự hiểu” rằng, đã chuyển công tác thì đương nhiên không giữ chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT nữa.   Ngay cả giấy chứng nhận cũng không bị thu hồi và như vậy, kết hợp với việc Pháp lệnh không quy định thời hạn đảm nhiệm chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT, cũng không có thủ tục bắt buộc về miễn nhiệm, nên về mặt hình thức, người đó vẫn được là “thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT” dù không còn hoạt động về TTHS.

3. Một số kiến nghị  

Việc sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh TCĐTHS đang được tiến hành và theo hướng xây dựng Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự (Luật Tổ chức CQĐTHS) để thay thế Pháp lệnh này. Chúng tôi xin kiến nghị một số điểm sau:

Một là, tên gọi theo Dự thảo “Luật Tổ chức CQĐTHS” là hoàn toàn chính xác, đúng với bản chất của một văn bản luật thuộc ngành Luật Nhà nước, tránh được sự hiểu nhầm là văn bản thuộc ngành Luật TTHS. Đồng thời, quá trình soạn thảo và hoàn thiện Luật này phải tuân thủ đúng nguyên tắc pháp chế mà Điều 12 Hiến pháp hiện hành quy định, xác định rõ đối tượng và phạm vi điều chỉnh các quan hệ về xây dựng, tổ chức của bộ máy CQĐT hình sự, không được nhầm lẫn trong việc điều chỉnh quan hệ thủ tục TTHS. Tổ chức bộ máy CQĐT hình sự, các chức danh ĐTV, thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT đều là các chức danh tư pháp giống như thẩm phán, thư ký tòa án, hội thẩm nhân dân, chánh án, phó chánh án Tòa án nhân dân; kiểm sát viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND. Do đó, nội dung của Luật Tổ chức CQĐTHS phải được xây dựng chi tiết như các Luật Tổ chức VKSND, Luật Tổ chức TAND.

Hai là, cần quy định rõ ràng cụ thể, thống nhất về tiêu chuẩn chức danh ĐTV cũng như chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT. Đề nghị bỏ quy định về tiêu chuẩn “làm công tác pháp luật”, bởi quy định này rất trừu tượng và quá rộng. Chỉ nên quy định thống nhất một tiêu chuẩn “làm công tác thực tiễn”, tuy nhiên, để tránh tùy tiện trong cách hiểu và áp dụng, theo chúng tôi tiêu chuẩn này cần bổ sung thêm và quy định là “làm công tác thực tiễn phòng ngừa và điều tra tội phạm” sẽ đầy đủ và chính xác hơn, vừa dễ dàng cho Hội đồng tuyển chọn, vừa tăng năng lực của ĐTV trong thực tiễn công tác, hạn chế sai sót trong điều tra tội phạm. Lý do quy định tiêu chuẩn như vậy, xuất phát từ thực tiễn chức năng, nhiệm vụ của các CQĐT hiện nay, khi có vụ án xảy ra, nhất là án chưa rõ thủ phạm (án mờ) thường phải sử dụng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra ban đầu, sau đó có đủ căn cứ mới chuyển sang điều tra công khai theo thủ tục TTHS. Ngoài ra, nhiệm vụ của các CQĐT bên cạnh việc điều tra vụ án, còn phải làm nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm, nhất là CQĐT trong lực lượng CAND. Cho nên, trong các CQĐT - bao gồm cả cán bộ là ĐTV, cán bộ trinh sát hoặc cán bộ giúp việc khác - tất cả cán bộ đều làm nhiệm vụ với mục đích chung là “phòng ngừa và điều tra tội phạm”.

Ba là, đề nghị bỏ khoản 3 Điều 30 Pháp lệnh TCĐTHS, bởi quy định này đặt ra một tiêu chuẩn “đặc biệt” để bổ nhiệm ĐTV trung cấp, hoặc ĐTV cao cấp. Quy định này sẽ dẫn đến sự tùy tiện trong bổ nhiệm, kể cả trong trường hợp công minh, khách quan khi xét bổ nhiệm thì nó vẫn là trường hợp “ngoại lệ” mang nặng ý chí chủ quan của người có thẩm quyền bổ nhiệm. Hơn thế nữa, quy định này trái với nguyên tắc pháp chế trong áp dụng và thi hành luật, không đúng với tiêu chí của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chức danh ĐTV cũng như chức danh thẩm phán, kiểm sát viên là những chức danh được Nhà nước trao quyền thực hiện các hoạt động TTHS (tư tố), hoạt động này liên quan đến uy tín của Nhà nước, đến sự tự do, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, nếu người tiến hành tố tụng (ĐTV) được bổ nhiệm mà không theo quy chuẩn chung, thì rất dễ dẫn đến hậu quả như gây oan, sai trong TTHS hoặc bỏ lọt người phạm tội... Cả Luật Tổ chức TAND và Luật Tổ chức VKSND đều không có chế định nào quy định về trường hợp “đặc biệt” để bổ nhiệm thẩm phán hay kiểm sát viên, vì vậy Luật Tổ chức CQĐTHS cũng cần thống nhất với hai luật này.

Bốn là, cần cụ thể hóa trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT. Đặc biệt là phải tách bạch rõ ràng quyền năng tư pháp và quyền năng hành chính của thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT. Khoản 2 Điều 35 quy định việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận thủ trưởng, pthủ trưởng CQĐT do người đứng đầu ba ngành “quyết định”. Quy định này có phạm vi hẹp, dễ hiểu nhầm việc ra (ký) quyết định với quyết định những vấn đề về trình tự, thủ tục. Do vậy, theo chúng tôi, nên thay thuật ngữ “quyết định” bằng thuật ngữ “quy định” vào Luật Tổ chức CQĐTHS. Sự thay thế này sẽ chính xác hơn, đúng với thuật ngữ của văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy, sẽ quy định là: “Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức và cấp, thu hồi giấy chứng nhận thủ trưởng, pthủ trưởng CQĐT trong CAND, QĐND, VKSND do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định”. Quy định như vậy sẽ tạo nên sự thống nhất với quy định trong Luật Tổ chức VKSND, Luật Tổ chức TAND.

Năm là, đối với CQĐT cấp huyện thuộc lực lượng CAND, Luật Tổ chức CQĐTHS nên quy định thống nhất “thủ trưởng CQĐT cấp huyện trong CAND giao cho một phó trưởng công an huyện chuyên trách”, bởi thực tế hiện nay, chức danh thủ trưởng CQĐT cấp huyện đồng thời là trưởng công an huyện (quận). Trong khi đó, việc bổ nhiệm chức vụ trưởng công an cấp huyện phải phụ thuộc vào nhiều tiêu chí của ngành Công an, đồng thời còn phải thỏa mãn tiêu chí “huyện ủy viên”. Vì vậy, có thể xảy ra trường hợp người đáp ứng được tiêu chí ĐTV để bổ nhiệm chức vụ trưởng công an huyện chưa chắc đã thỏa mãn được một trong các tiêu chí về tổ chức cán bộ hoặc tiêu chí huyện ủy viên. Ngược lại, người đủ tiêu chí cán bộ và huyện ủy viên thì lại không thỏa mãn tiêu chuẩn ĐTV. Ngoài ra, chức vụ trưởng công an cấp huyện (quận) phải thực hiện việc lãnh đạo chỉ huy trên nhiều phương diện khác nhau trong lĩnh vực bảo vệ an ninh, trật tự trên địa bàn huyện (quận) nên không thể toàn tâm, toàn ý trong công tác chỉ đạo hoạt động điều tra vụ án, nên thực tế công việc này thường được ủy quyền cho phó trưởng công an huyện (quận).

Sáu là, cần quy định thời hạn đối với chức danh thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT như quy định thời hạn đối với chức danh ĐTV. Bởi, nếu thực hiện đúng quy định tại khoản 1 Điều 35 về tiêu chuẩn bổ nhiệm thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT là “ĐTV cao cấp hoặc ĐTV trung cấp”, thì theo quy định tại khoản 4 Điều 30 “Nhiệm kỳ của ĐTV là năm năm kể từ ngày được bổ nhiệm” sẽ có mâu thuẫn. Với tư cách là ĐTV thì sau 5 năm, ĐTV phải bổ nhiệm lại, nhưng nếu là thủ trưởng hoặc phó thủ trưởng CQĐT, dù đã hết 5 năm (hoặc lâu hơn) đều không phải bổ nhiệm lại. Đây là điều bất hợp lý, cần phải được quy định rõ trong Luật Tổ chức CQĐTHS.

Ngoài ra, việc giới hạn về nhiệm kỳ bổ nhiệm, bổ nhiệm lại đối với chức danh ĐTV với thời hạn 5 năm là là chưa phù hợp, có thể gây ra tiêu cực trong quá trình xem xét để được đề nghị bổ nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ theo quy định, đồng thời tạo ra những thủ tục hành chính rườm rà sau một thời gian không dài. Do đó, có thể quy định trong Luật Tổ chức CQĐTHS theo hướng tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh ĐTV từ 5 năm lên 10 năm hoặc 15 năm, hoặc cũng có thể quy định không giới hạn về thời gian bổ nhiệm, nhiệm kỳ bổ nhiệm đối với chức danh ĐTV. Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nêu: “Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp. Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn”.

Bảy là, cần quy định trong Luật Tổ chức CQĐTHS về chế độ, chính sách đối với thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT. Hiện tại trong Pháp lệnh TCĐTHS không có quy định nên mỗi ngành có cách vận dụng chế độ khác nhau đối với hai chức danh này. Thực tế, VKSND tối cao và QĐND có văn bản quy định về chế độ phụ cấp đối với thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT trong QĐND và trong VKSND tối cao, nhưng ngành CAND chưa có văn bản nào quy định, nên có nghịch lý là ĐTV trong CQĐT thì có phụ cấp chế độ, nhưng thủ trưởng, phó thủ trưởng CQĐT lại không có chế độ phụ cấp (nếu người đó chưa lần nào được bổ nhiệm chức danh ĐTV)./.

PGS,TS. Nguyễn Minh Đức - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, Học viện Cảnh sát nhân dân
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Hoàn thiện Điều 147 Bộ luật hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (09/12/2013)
Hoàn thiện các quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt và án treo (Kỳ 2) (06/08/2013)
Hoàn thiện các quy định về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương (15/07/2013)
Hoàn thiện các quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt và án treo (Kỳ 1) (02/07/2013)
Bảo đảm nguyên tắc "suy đoán vô tội" và tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự (08/04/2013)
Bàn thêm về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (30/01/2013)
Bảo đảm nguyên tắc "suy đoán vô tội" và tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự (08/04/2013)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Chất vấn và hậu chất vấn

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân