Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 22/09/2017, 01:06(GMT+7)
 
Hành chính - hình sự - tư pháp

Hoàn thiện các quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt và án treo (Kỳ 2)

2. Miễn hình phạt

2.1. Hậu quả của việc áp dụng chế định miễn hình phạt

Hiện nay, theo pháp luật hình sự Việt Nam thì, về cơ bản, hậu quả của việc áp dụng chế định miễn hình phạt là người được miễn hình phạt là người có tội, họ có TNHS và phải chịu TNHS. Người này đã bị tiến hành điều tra, truy tố, xét xử nhưng khi xét xử, họ không bị Tòa án áp dụng biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước là hình phạt về tội mà họ đã thực hiện, do có căn cứ để miễn hình phạt, nếu không có, họ sẽ bị áp dụng hình phạt trên những cơ sở chung.

Như vậy, hậu quả pháp lý hình sự của việc áp dụng chế định miễn hình phạt cũng khác với miễn TNHS. Theo đó, với người được miễn TNHS thì họ đương nhiên không bị áp dụng bất kỳ hình phạt nào, bao hàm cả việc được miễn hình phạt, nhưng miễn hình phạt thì người phạm tội vẫn có TNHS và phải chịu TNHS. Đối với người này, họ bị tiến hành điều tra, truy tố, xét xử theo quy định chung của pháp luật, mặc dù họ đương nhiên được xóa án tích theo Điều 64 BLHS.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, BLHS chưa bảo đảm được công bằng giữa trường hợp người được miễn hình phạt với người vi phạm hành chính trong trường hợp cụ thể. Điều 54 Bộ luật quy định: "Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn TNHS", và theo khoản 1 Điều 64 thì người được miễn hình phạt đương nhiên được xóa án tích. Như vậy, cũng như người được miễn TNHS, người được miễn hình phạt không phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội hoặc (và) của việc quyết định hình phạt là án tích. Trong khi đó, nếu một người vi phạm hành chính và bị xử phạt, thì trong thời hạn một (01) năm sau họ mới được xóa án và coi như chưa bị xử lý vi phạm hành chính (Điều 11 Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi năm 2007, 2008 trước đây và nay là Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012). Đặc biệt, trong nhiều trường hợp, BLHS quy định dấu hiệu nhân thân (đã bị xử phạt hành chính) là dấu hiệu định tội, nếu người đó tái phạm sẽ bị truy cứu TNHS.

Như vậy, xét ở góc độ pháp lý, hậu quả pháp lý mà người phạm tội (được miễn hình phạt) gánh chịu còn nhẹ hơn so với người vi phạm hành chính (mà bị xử phạt hành chính), vì ngoài phải chịu trách nhiệm hành chính ra, người này còn phải chịu thời hạn là một (01) năm thử thách, không tái phạm thì mới được coi như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Để bảo đảm sự công bằng giữa người được miễn hình phạt và người bị xử phạt hành chính, vấn đề nên được sửa đổi, bổ sung theo hướng: Trong trường hợp cần thiết, Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp của Bộ luật này hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức hay người có thẩm quyền xử lý hành chính hoặc kỷ luật đối với người được miễn hình phạt.

2.2. Trường hợp miễn hình phạt chung

Bên cạnh các điều kiện khác, Điều 54 BLHS không hạn chế quy định loại tội gì để được miễn hình phạt, nhưng đã gián tiếp thông qua Điều 29 BLHS về "Cảnh cáo": "Cảnh cáo được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt". Do đó, đối với trường hợp miễn hình phạt chung, các nhà làm luật nên hạn chế phạm vi loại tội mà người phạm tội có thể được miễn hình phạt, đó là loại tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng để có sự phân hóa hơn nữa trong chính sách hình sự, phân biệt với trường hợp áp dụng hình phạt cảnh cáo, cũng như tránh việc lạm dụng áp dụng đối với cả những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật, không bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thực tiễn xét xử, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân. Ngoài ra, cần bổ sung cụm từ "TNHS" sau cụm từ "tình tiết giảm nhẹ" của Điều 54 BLHS nhằm bảo đảm chính xác và chặt chẽ hơn.

2.3. Miễn hình phạt cho NCTN phạm tội

Theo Khoản 4 Điều 69 BLHS, thì "Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này". Mặc dù các nhà làm luật không ghi nhận rõ ràng NCTN phạm tội được miễn hình phạt, nhưng căn cứ vào nội dung điều luật cho thấy, đây là một trường hợp miễn hình phạt có điều kiện đối với đối tượng này[1]. Những điều kiện kèm theo để miễn hình phạt đối với NCTN phạm tội là: khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt; có cơ sở (lý do) áp dụng một trong số các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa.

Những điều kiện kèm theo có mối liên hệ chặt chẽ và hữu cơ với nhau, thể hiện ở chỗ: khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt, đồng thời có khả năng áp dụng một trong số các biện pháp tư pháp đối với NCTN phạm tội là phù hợp, cũng như đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng, thì Tòa án quyết định miễn hình phạt cho NCTN phạm tội, kèm theo đó là việc áp dụng một trong số các biện pháp tư pháp có tính chất giáo dục, phòng ngừa - giáo dục tại xã, phường, thị trấn, hoặc đưa vào trường giáo dưỡng. Vì vậy, cần sửa đổi theo hướng ghi nhận trực tiếp tên gọi miễn hình phạt trong nội dung khoản 4 Điều 69 Bộ luật.

2.4. Miễn hình phạt cho người phạm tội không tố giác tội phạm

Khoản 3, Điều 314 BLHS quy định "người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn TNHS hoặc miễn hình phạt". Theo đó, những điều kiện để miễn hình phạt cũng chính là các điều kiện để miễn TNHS. Tuy nhiên, Bộ luật chưa phân định rõ trường hợp nào thì được miễn TNHS, trường hợp nào được miễn hình phạt dẫn đến việc áp dụng trong thực tế có nhiều khó khăn. Chúng tôi cho rằng, Bộ luật cần phân tách rõ ràng hai trường hợp để phân hóa hơn nữa TNHS của người phạm tội trong BLHS.

2.5. Bảo đảm tính thống nhất của BLHS và Bộ luật TTHS với Hiến pháp năm 1992

Khoản 1 Điều 72 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật...”. Bộ luật TTHS nhắc lại nguyên tắc này tại Điều 9. Yêu cầu cần sửa đổi vế thứ hai “phải chịu hình phạt” cho phù hợp với các quy định của BLHS và thực tiễn xét xử. Bởi lẽ, có hai trường hợp: thứ nhất, một người phạm tội và đến khi xét xử, trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người đó bị coi là có tội và bị áp dụng hình phạt; thứ hai, một người phạm tội nhưng đến khi xét xử, trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, người đó bị coi là có tội nhưng không bị áp dụng hình phạt mà được miễn hình phạt (Điều 54 BLHS).

Do đó, chỉ cần quy định: “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” là đầy đủ và bao quát các trường hợp đã nêu, đồng thời đổi tên gọi và bổ sung thêm nội dung của nguyên tắc này là nguyên tắc suy đoán vô tội (kết hợp Điều 9 và Điều 10 Bộ luật TTHS).

2.6. Bảo đảm tính thống nhất trong BLHS và Bộ luật TTHS

Theo khoản 1 Điều 314 Bộ luật TTHS: "1. Tòa án có thể ra một trong những quyết định sau đây: a) Miễn TNHS hoặc miễn hình phạt và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh...". Theo đó, cần tách nội dung điểm a khoản 1 Điều 314 Bộ luật TTHS thành hai trường hợp để tránh sự hiểu không đúng hai vế giữa cụm từ "hoặc" vì miễn TNHS thì không cần hoặc phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh - chỉ khi miễn hình phạt mới cần thiết phải áp dụng một trong các biện pháp tư pháp (cụ thể là biện pháp bắt buộc chữa bệnh).

Như vậy, các điều luật về miễn hình phạt trong BLHS nên sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 54. Miễn hình phạt

1. Người phạm tội có thể được miễn hình phạt trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, đáng được khoan hồng đặc biệt, nhưng chưa đến mức được miễn TNHS.

2. Trong trường hợp cần thiết, Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp của Bộ luật này hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức hay người có thẩm quyền xử lý hành chính hoặc kỷ luật đối với người được miễn hình phạt...

Điều 69. Nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội (sửa nội dung khoản 4 cho chính xác hoặc tách ra thành một trường hợp độc lập)

...4. Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội, thì Tòa án miễn hình phạt và áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này...

Điều 314. Tội không tố giác tội phạm

...3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội, thì có thể được miễn hình phạt; nếu cố gắng hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn TNHS.

       Điều 72 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi năm 2001 nên sửa đổi, bổ sung: Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật....

Còn các điều 10, 314 Bộ luật TTHS sẽ sửa đổi, bổ sung thành:  

Điều 9. Suy đoán vô tội (gộp một số nội dung Điều 10 vào điều luật này)

1. Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

3. Mọi nghi ngờ về tội phạm của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì phải được giải thích theo hướng có lợi cho họ...

Điều 314. Xét xử

1. Tòa án có thể ra một trong những quyết định sau đây:

a) Miễn TNHS;

b) Miễn hình phạt và áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;…

 

3. Miễn chấp hành hình phạt

3.1. Bảo đảm thống nhất nội dung khi sử dụng thuật ngữ "lập công lớn" trong khoản 1 với "lập công" khoản 3 và khoản 4 Điều 57 BLHS. Theo mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP ngày 02/10/2007 của HĐTP TANDTC "Hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt" thì "lập công lớn là trường hợp người bị kết án đã có hành động giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện, truy bắt, điều tra tội phạm; cứu được người khác trong tình thế hiểm nghèo hoặc đã cứu được tài sản của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn; có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc thành tích xuất sắc đột xuất khác được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận”. Và "đã lập công là trường hợp lập công lớn hoặc người bị kết án có thành tích xuất sắc trong cuộc sống, trong sản xuất, chiến đấu, học tập, công tác được cơ quan có thẩm quyền khen thưởng hoặc chứng nhận”. Điều này có nghĩa, "lập công" bao hàm trong đó cả "lập công lớn" và có cả thành tích xuất sắc trong các lĩnh vực. Do đó, để nhân đạo hóa hơn nữa trong chính sách hình sự của Nhà nước đối với người bị kết án và mở rộng phạm vi áp dụng chế định miễn chấp hành hình phạt, theo chúng tôi, chỉ cần quy định thống nhất ở các khoản của Điều 57 là "đã lập công".

3.2. Khoản 5 Điều 57 quy định: "Người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị của chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại". Theo chúng tôi, cần khẳng định rõ - "người bị phạt cấm cư trú hoặc quản chế""người bị áp dụng hình phạt bổ sung..., đồng thời trong BLHS cũng không nêu trường hợp thi hành các hình phạt bổ sung khác như: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân; v.v... Do đó, cần bổ sung cả việc miễn chấp hành hình phạt đối với các hình phạt bổ sung này (bao gồm cả hai hình phạt là cấm cư trú và quản chế mà khoản 5 Điều 57 BLHS đã quy định) cho đầy đủ và bảo đảm quyền lợi của người bị kết án.

3.3. Điểm c tiểu mục 2.3. của mục 2 Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP có hướng dẫn khoản 5 Điều 57 việc đề nghị của chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt phải bằng văn bản. Vì vậy, cần cụ thể hóa nội dung này vào BLHS cho bảo đảm tính thống nhất và bảo đảm chặt chẽ về mặt hình thức pháp lý của điều kiện này.

3.4. Theo Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc hội về việc thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS:

"1. Kể từ ngày 01/01/2010, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS được áp dụng như sau: Tất cả các điều khoản của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS được áp dụng để điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với người thực hiện hành vi phạm tội từ 0 giờ 00 ngày 01/01/2010...

2. Kể từ ngày Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS được công bố:...

đ) Trong trường hợp quy định tại các điểm b, c và d khoản này, nếu vụ án đang được điều tra, truy tố, xét xử thì phải đình chỉ; trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt hoặc đang được tạm đình chỉ thi hành án, thì họ được miễn chấp hành phần hình phạt còn lại; trường hợp người bị kết án chưa chấp hành hình phạt hoặc đang được hoãn thi hành án, thì họ được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt;

e) Những người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại quy định tại điểm đ khoản này thì đương nhiên được xóa án tích".

Những quy định trong Nghị quyết 33/2009/NQ-QH12 đã thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước và được xem là những quy định có lợi cho người phạm tội nên cần thiết phải áp dụng (đặc biệt là điểm "đ" và điểm "e"). Trên cơ sở này, TANDTC cũng đã có Công văn số 105/TANDTC-KHXX ngày 17/7/2009 về việc thi hành khoản 2 Điều 1 Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 của Quốc hội cho phù hợp với thực tiễn xét xử. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, khi thực hiện quy định tại điểm "đ" đối với trường hợp người được hưởng án treo thuộc một trong các trường hợp thuộc điểm "a", "b" hay "c" của Nghị quyết 33/2009/NQ-QH12 đã bỏ ngoài một trường hợp đối với người được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện - án treo. Nếu họ thỏa mãn các điều kiện đã nêu của Nghị quyết thì có được hưởng chính sách nhân đạo, khoan hồng nào không và việc tính thời gian thử thách của án treo thế nào? Việc giám sát, giáo dục của Ủy ban nhân xã, phường, thị trấn, của chính quyền địa phương trong thời gian thử thách được tiến hành ra sao? (đặc biệt là các nghĩa vụ của người được hưởng án treo và trách nhiệm của gia đình, cơ quan, tổ chức... quy định trong Nghị định 61/2000/NĐ-CP ngày 30/10/2000 quy định việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo và mục 1 Chương V Luật thi hành án hình sự 2010 quy định về việc thi hành án treo). Sẽ trở nên rất nghiêm khắc nếu họ "phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này" (khoản 5 Điều 60). Điều đó mâu thuẫn với ý nghĩa, vai trò và bản chất pháp lý khi áp dụng án treo. Bởi lẽ, án treo là một chế định nhân đạo, là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện (điểm 1 Phần VII Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 05/01/1986 của HĐTP TANDTC; Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 18/01/1990 của HĐTP TANDTC về "Hướng dẫn về việc áp dụng Điều 44 BLHS"), có nghĩa xét về mức độ nhân đạo và khoan hồng, còn nhẹ hơn biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù (mặc dù trước đó họ bị áp dụng hình phạt tù, nhưng được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện). Trong khi đó, tại điểm "e" của Nghị quyết 33/2007/NQ-QH12 có nêu "Những người đã chấp hành xong hình phạt hoặc được miễn chấp hành toàn bộ hình phạt hoặc phần hình phạt còn lại quy định tại điểm "đ" khoản này thì đương nhiên được xóa án tích”, nhưng không cho người được án treo hưởng quy định này. Do đó, các cơ quan có thẩm quyền nên kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn bổ sung, qua đó bảo đảm quyền lợi cho người được hưởng án treo.

3.5. Hàng loạt các vấn đề trong Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP và gần đây là Thông tư liên tịch số 09/2012/BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 16/8/2012 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, TANDTC và VKSNDTC "Hướng dẫn việc giảm, miễn thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ và miễn chấp hành thời hạn cấm cư trú, quản chế còn lại" cũng cần cụ thể hóa hơn nữa. Chẳng hạn, hướng dẫn "lập công lớn" có trường hợp người bị kết án "có những phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến có giá trị hoặc thành tích xuất sắc đột xuất khác được các cơ quan có thẩm quyền xác nhận". Ở đây, phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến "có giá trị" là khó xác định, thời gian để xác nhận là bao lâu vì có trường hợp đợi cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác nhận phát minh, sáng chế hoặc sáng kiến "có giá trị" thì người bị kết án đã phải thi hành án, thậm chí thi hành án lâu rồi; thi hành hình phạt tiền hoặc vấn đề thẩm quyền, thủ tục xét miễn chấp hành hình phạt; v.v...[2].

Theo đó, Điều 57 BLHS nên sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 57. Miễn chấp hành hình phạt

1. Đối với người bị kết án cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, chưa chấp hành hình phạt mà lập công hoặc..., thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

...3. Đối với người bị kết án về tội ít nghiêm trọng đã được hoãn chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 61 của Bộ luật này, nếu trong thời gian được hoãn đã lập công, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt.

4. Đối với người bị kết án phạt tù về tội ít nghiêm trọng đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này, nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

5. Người bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, cấm cư trú, quản chế hoặc tước một số quyền công dân, nếu đã chấp hành được một phần hai thời hạn hình phạt và cải tạo tốt, thì theo đề nghị bằng văn bản của chính quyền địa phương nơi người đó chấp hành hình phạt, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt còn lại.

4. Án treo

4.1. Các điều kiện cho hưởng án treo nên sửa đổi theo hướng: về mức phạt tù, cần khẳng định rõ "không phân biệt tội gì" cho đầy đủ bên cạnh cụm từ "khi xử phạt tù không quá ba năm"; cũng như về điều kiện nhân thân của người phạm tội phải quy định rõ là "nhân thân người này phải tốt"; về điều kiện các tình tiết giảm nhẹ TNHS phải nêu rõ số lượng - từ hai tình tiết giảm nhẹ TNHS trở lên, đồng thời đưa nội dung của Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP vào BLHS để phục vụ tốt cho thực tiễn xét xử và nhận thức thống nhất, tránh việc khi áp dụng theo văn bản hướng dẫn này lại nghiêm khắc hơn so với BLHS là chưa tuân thủ nghiêm chỉnh nguyên tắc pháp chế trong luật hình sự Việt Nam (vì BLHS chỉ quy định chung là căn cứ "các tình tiết giảm nhẹ...", không nêu "không có tình tiết tăng nặng TNHS", chứ không quy định rõ như Nghị quyết là "có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng TNHS, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS. Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ TNHS phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng TNHS từ hai tình tiết trở lên".

4.2. Vấn đề xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù cũng cần nhấn mạnh thêm mục đích "bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm", vì điều kiện đủ này có nghĩa phải bảo đảm cho người được hưởng án treo khi không chấp hành hình phạt tù họ không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đến trật tự xã hội chung và việc áp dụng án treo đối với họ được dư luận xã hội đồng tình. Ngoài ra, cũng cần sửa đổi, bổ sung cụm từ "người bị kết án" và "đối với họ" trong khoản 1 Điều 60 BLHS cho đầy đủ và chính xác về nội dung và ngữ nghĩa.

4.3. Bổ sung vào khoản 2 Điều 60 BLHS về "thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách" đã được hướng dẫn cụ thể trong Nghị quyết số 01/2007/NQ-HĐTP. Theo đó, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là "ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo".

4.4. Theo khoản 3 Điều 28 BLHS, "Đối với mỗi tội phạm, người phạm tội chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung". Tuy nhiên, khoản 3 Điều 60 BLHS về án treo lại quy định: "Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này". Chúng tôi cho rằng, quy định này chưa thật hợp lý bởi lẽ, kể từ khi thông qua BLHS năm 1985 đến nay, án treo có bản chất pháp lý là một biện pháp "miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện" (điểm 1 Phần VII Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP ngày 05/01/1986 của HĐTP TANDTC; Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 18/01/1990 của HĐTP TANDTC về "Hướng dẫn về việc áp dụng Điều 44 BLHS"), chứ không phải là hình phạt (mặc dù họ bị xử phạt tù, sau đó được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, đồng thời trong danh mục các hình phạt chính của BLHS không có án treo) nên không thể áp dụng hình phạt bổ sung đối với người được hưởng án treo. Do đó, nhà làm luật nên xem xét sửa đổi, bổ sung cho phù hợp theo hướng bỏ đi nội dung này.

Như vậy, Điều 60 BLHS nên sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều 60. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm không phân biệt loại tội, căn cứ vào các đặc điểm tốt của nhân thân người phạm tội và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù và bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm, thì Tòa án cho người bị kết án hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với họ từ một năm đến năm năm.

2. Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án đầu tiên cho hưởng án treo. Trong thời gian thử thách,...

3. Bỏ mục này.

4. và 5....

Tóm lại, “Pháp luật, dù có hoàn thiện đến mấy cũng không thể phản ánh và quy định hết được tất cả những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống...”[3], nên việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLHS nói chung, các quy định về bốn chế định - miễn TNHS, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt và án treo nói riêng càng có ý nghĩa chính trị - xã hội và pháp lý, cũng như ý nghĩa lý luận và thực tiễn trước yêu cầu mới của đất nước. Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu, khảo sát, đánh giá các điều khoản của BLHS hiện hành có vướng mắc, bất cập trong thực tiễn đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm mà chưa có điều kiện sửa đổi, bổ sung để chuẩn bị phương án cho việc sửa đổi, bổ sung toàn diện BLHS vẫn luôn là yêu cầu có tính cấp bách hiện nay./.



[1] Xem: Trần Thị Quỳnh, Chế định miễn hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2007, tr. 80.

[2] Xem thêm: Trần Thị Thanh Thúy, Chế định miễn chấp hành hình phạt trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012, tr. 90.

[3]Xem: Đào Trí Úc: Luật hình sự Việt Nam (Quyển I - Những vấn đề chung), Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000, tr. 209.

TS. Trịnh Tiến Việt - Phó Chủ nhiệm Bộ môn Tư pháp hình sự, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Hoàn thiện Điều 147 Bộ luật hình sự về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (09/12/2013)
Hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn và quy trình bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh của cơ quan điều tra (06/09/2013)
Hoàn thiện các quy định về việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương (15/07/2013)
Hoàn thiện các quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, miễn chấp hành hình phạt và án treo (Kỳ 1) (02/07/2013)
Bảo đảm nguyên tắc "suy đoán vô tội" và tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự (08/04/2013)
Bàn thêm về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (30/01/2013)
Bảo đảm nguyên tắc "suy đoán vô tội" và tính thống nhất giữa Hiến pháp với Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự (08/04/2013)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Chất vấn và hậu chất vấn

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân