Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ hai, 20/02/2017, 20:25(GMT+7)
 
Bàn về dự án luật

Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ
Nguồn: internet

Vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ là những đối tượng tài sản đặc biệt mà Nhà nước cấm cá nhân sở hữu; việc quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ đòi hỏi phải theo các quy định chặt chẽ. Hiện nay, các cơ quan có thẩm quyền đang nghiên cứu xây dựng Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (Dự thảo Luật) và Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV đang cho ý kiến về Dự thảo Luật này. Để góp phần hoàn thiện quy định của Dự thảo Luật, chúng tôi xin đề xuất một số ý kiến về các Điều cụ thể trong Dự thảo Luật này[1] như sau:

 1. Điều 3. Giải thích từ ngữ

 Khái niệm công cụ hỗ trợ được quy định tại khoản 11 Điều 3 chưa bao hàm động vật nghiệp vụ và chưa phân biệt với khái niệm vũ khí, do vậy, chúng tôi đề nghị sửa lại như sau:

 “11. Công cụ hỗ trợ là phương tiện có cấu tạo đơn giản hoặc động vật nghiệp vụ được huấn luyện, có thể sử dụng để hỗ trợ việc thực hiện công vụ, nhiệm vụ bảo vệ nhằm làm hạn chế hoặc làm tê liệt sự tấn công, chống cự của người khác, báo hiệu khẩn cấp hoặc bảo vệ người thực hiện công vụ, người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp”.

 Định nghĩa khái niệm "thu gom vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ là việc tổ chức thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ do tổ chức, cá nhân phát hiện, trình báo, tố giác nhưng không xác định được cá nhân, cơ quan, tổ chức quản lý hoặc số vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ sau chiến tranh còn tồn tại ngoài xã hội" chưa bao gồm việc thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được trang bị cho các đối tượng được trang bị nhưng đã bị hư hỏng hoặc khi sáp nhập, giải thể đơn vị... Đề nghị sửa lại khái niệm này để khắc phục bất cập nêu trên.

 Quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ là những khái niệm cơ bản, quan trọng nhất của Dự thảo Luật này nhưng chưa được Ban soạn thảo nghiên cứu đề cập đầy đủ trong Dự thảo Luật. Đề nghị nghiên cứu và nếu có thể được, thì bổ sung các khái niệm quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ và khái niệm sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ vào Dự thảo Luật.

2. Điều 5. Các hành vi bị nghiêm cấm

 - Đề nghị chuyển từ “tính mạng” lên trước từ “sức khỏe” tại khoản 4 để bảo đảm logic thứ tự các khách thể được pháp luật bảo vệ thông qua việc quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong Dự thảo Luật này và bổ sung từ “tài sản” vào khoản này như sau:

 “4. Lạm dụng việc sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ để xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân”.

- Hành vi “chuyển nhượng” ở khoản 7 thực chất là một dạng của hành vi “mua bán” và đã được quy định tại khoản 2 Điều luật này, do vậy đề nghị bỏ từ “chuyển nhượng” ở khoản 7.       

 - Theo quy định tại khoản 11 thì hành vi “Hướng dẫn, huấn luyện, tổ chức huấn luyện trái phép việc chế tạo vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ” không bị cấm. Việc bỏ từ “chế tạo” tại khoản 11 là không logic với quy định tại khoản 2 Điều luật này. Đề nghị sửa lại khoản 11 Điều luật này theo hướng bổ sung từ “chế tạo” vào trước từ “sản xuất” như sau:

 “11. Hướng dẫn, huấn luyện, tổ chức huấn luyện trái phép việc chế tạo, sản xuất và sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ dưới mọi hình thức”.

- Việc liệt kê các đối tượng "người chưa qua đào tạo về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; người chưa thành niên..." tại khoản 16 là không bảo đảm logic với quy định tại các Điều 7 và 8 về tiêu chuẩn của người sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; người được giao quản lý kho, nơi cất giữ vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ... Do vậy, đề nghị sửa lại theo hướng không được giao cho những người không đủ điều kiện quy định tại Điều 7, 8 như sau:

"16. Giao cho người không đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 7 và Điều 8 Luật này quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ...".

- Khoản 17 quy định cấm hành vi “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở bất hợp pháp, gây phiền hà, sách nhiễu đối với tổ chức, cá nhân trong việc trang bị, cấp các loại giấy phép về vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ”. Đề nghị xem xét lại sự cần thiết khi quy định hành vi này, vì thực tế đây không phải là hành vi phổ biến và nếu Luật này không quy định, thì vẫn có cơ chế để xử lý bằng Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Sỹ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, Luật Công an nhân dân, Luật Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, Bộ luật Hình sự…

3. Điều 14. Thu hồi giấy phép về vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ

 Điều 14 quy định đối tượng bị thu hồi: "Giấy phép về vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ" là chưa chính xác, mà phải là: "vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ và Giấy phép về vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ". Bởi lẽ:

Thứ nhất, bản chất của việc trang bị là trang bị cho cơ quan, đơn vị cụ thể với số vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ cụ thể; nếu là súng, thì là những khẩu súng nào, có số hiệu bao nhiêu... Còn Giấy phép về vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ chỉ là hình thức ghi nhận việc các đối tượng được trang bị "vũ khí, vật liệu nổ, tiền chất thuốc nổ, công cụ hỗ trợ”;

Thứ hai, vì quy định như Dự thảo cho nên có thể hiểu đối với vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ quy định tại khoản 2 Điều luật này, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân chỉ phải giao nộp lại "Giấy phép sử dụng, Giấy xác nhận..." mà không phải bàn giao "vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ".

4. Điều 11. Mang vũ khí, công cụ hỗ trợ quá cảnh, vào, ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

- Quy định tại điểm b khoản 1 thực chất là một nội dung của điểm a khoản 1 Điều luật này. Do vậy, cần gộp quy định tại hai điểm này vào làm một như sau:

"a) Để bảo vệ người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu nhà nước, cơ quan lập pháp, Chính phủ và các thành viên chủ chốt của Hoàng gia: Nguyên thủ quốc gia; người đứng đầu Chính phủ, Quốc hội; người đứng đầu Đảng cầm quyền, Đảng có quan hệ với Đảng Cộng sản Việt Nam; Tổng Thư ký Liên hiệp quốc; cấp phó của người đứng đầu quốc gia, người đứng đầu Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội; Nhà vua, Hoàng hậu, Nữ hoàng, phu quân Nữ hoàng, Hoàng tử, Thái tử, Công chúa; và những người khác do Trung ương Đảng, Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mời".

- Đề nghị bỏ từ “các” tại các điểm a, b, c khoản 3, bởi lẽ việc trang bị vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ được thực hiện đối với từng hãng phim, từng bảo tàng hoặc từng đơn vị biểu diễn nghệ thuật.

- Điều luật này chưa quy định việc quản lý vũ khí, vật liệu nổ công cụ hỗ trợ để chào hàng, giới thiệu sản phẩm, mặc dù Điều 11 có quy định về việc mang vũ khí, công cụ hỗ trợ quá cảnh, vào, ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để chào hàng, giới thiệu sản phẩm. Đề nghị bổ sung đối tượng này vào quy định tại Điều 14.

5. Điều 17. Đối tượng được trạng bị vũ khí quân dụng, Điều 22. Đối tượng được trang bị vũ khí thể thao và Điều 26. Đối tượng được trang bị vũ khí thô sơ

Các điều này quy định hai nhóm nội dung: Đối tượng được trang bị vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng và việc trang bị vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, có một số bất cập:

Thứ nhất, tên điều luật không bao quát hết các nội dung được đề cập trong điều luật. Ví dụ: Tên Điều 17 là “Đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng” nhưng chỉ có khoản 1 quy định đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng còn khoản 2 và 3 lại quy định “thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ Công an trong việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng đối với các đối tượng thuộc quyền quản lý”.

Thứ hai, “thủ tục trang bị vũ khí quân dụng” cần phải được quy định chặt chẽ trong Luật, thì không được quy định mà lại quy định “Thủ tục cấp giấy phép trang bị vũ khí”. Bởi lẽ, cấp “Giấy phép trang bị vũ khí” là một thủ tục đi kèm “Quyết định trang bị vũ khí”; các đơn vị nêu tại khoản 1 Điều 17 chỉ được cấp trang bị vũ khí khi có “Quyết định trang bị vũ khí”. Như vậy, bản chất của việc trang bị vũ khí là việc cấp vũ khí cho đơn vị bằng một quyết định và “Giấy phép trang bị vũ khí” chỉ là giấy tờ chứng minh đơn vị đó được trang bị vũ khí. Để khắc phục bất cập này, đề nghị chuyển khoản 2 và 3 các Điều 17, 22 và 26 vào các Điều 18, 23 và 27 và đổi tên các Điều 18, 23 và 27 lần lượt là “Thủ tục trang bị vũ khí quân dụng”, “Thủ tục trang bị vũ khí thể thao” và “Thủ tục trang bị vũ khí thô sơ”; đồng thời sửa nội dung các điều luật này cho phù hợp với tên mới của điều luật.

Thứ ba, nội dung quy định tại khoản 2 và 3 không đồng nhất. Bởi lẽ, khoản 2 quy định “…việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng đối với các đối tượng thuộc Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ”; còn khoản 3 chỉ quy định “… việc trang bị vũ khí quân dụng đối với các đối tượng không thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng".

Thứ tư, trong số các đối tượng quy định tại điểm d, đ và e khoản 1 Điều 17 có đối tượng thuộc Quân đội nhân dân (Kiểm ngư). Do vậy, khoản 3 quy định theo hướng liệt kê là không chính xác mà nên quy định theo hướng loại trừ như sau “Bộ trưởng Bộ Công an quy định việc trang bị, quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng đối với các đối tượng không thuộc Quân đội nhân dân, dân quân tự vệ”.

6. Nội dung quy định tại các Điều 17, 18, 19, 20 và 21

Nhóm các Điều 17, 18, 19, 20 và 21 mới chỉ quy định: Đối tượng được trang bị vũ khí quân dụng; Loại vũ khí quân dụng được trang bị cho một số lực lượng nhất định; Thủ tục cấp Giấy phép trang bị vũ khí quân dụng; Thủ tục cấp Giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng; Quy định về việc nổ súng. Theo chúng tôi, việc cấp Giấy phép trang bị vũ khí quân dụng không đồng nghĩa với việc trang bị trên thực tế vũ khí quân dụng (bao nhiêu súng, là những súng mang số hiệu cụ thể nào, đạn, lựu đạn...). Trong khi đó, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 15 Pháp lệnh Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (Pháp lệnh số 16/2011/UBTVQH12), thì "Giấy phép trang bị vũ khí quân dụng" chỉ là điều kiện để được cấp hoặc chuyển nhượng vũ khí theo giấy giới thiệu của Cơ quan cấp "Giấy phép trang bị vũ khí quân dụng". Để khắc phục bất cập nêu trên, đề nghị bổ sung một điều luật quy định việc cấp hoặc chuyển nhượng vũ khí quân dụng vào sau Điều 21. 

Mặt khác, để bảo đảm quy trình từ:

(1) Trang bị vũ khí quân dụng               (2) Quản lý, sử dụng vũ khí quân dụng               (3) Thu hồi vũ khí quân dụng (đối với đối tượng đã được trang bị nhưng bị hư hỏng, hết hạn sử dụng hoặc không còn nhu cầu sử dụng hoặc theo quy định của pháp luật thì không thuộc đối tượng được trang bị, quản lý, sử dụng), đề nghị bổ sung một điều luật quy định về việc thu hồi vũ khí quân dụng, giấy phép trang bị và giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng. Điều luật mới bổ sung này đặt sau vị trí Điều luật quy định về việc cấp hoặc chuyển nhượng vũ khí quân dụng.  

Cũng như vũ khí quân dụng, nhóm các Điều 22, 23, 24 và 25 về vũ khí thể thao cần bổ sung hai điều luật đặt sau vị trí Điều 25. Trong đó, một điều luật quy định về việc cấp hoặc chuyển nhượng vũ khí thể thao đặt sau Điều 25; tiếp đó là một điều luật quy định về việc thu hồi vũ khí thể thao, giấy phép trang bị và giấy phép sử dụng vũ khí thể thao.

Về kỹ thuật lập pháp, đề nghị sửa khoản 3 Điều 22 thành “3. Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể việc trang bị vũ khí thể thao đối với các đối tượng không thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng”. Bởi lẽ, quy định tại khoản 3 Điều luật này một mặt không phân biệt rạch ròi đối với quy định tại khoản 2; mặt khác Bộ Công an quy định đối tượng được trang bị vũ khí thể thao (quy định tại điểm đ “Trung tâm giáo dục quốc phòng”) là không bảo đảm tính khả thi và cũng không đúng với kết luận của Ủy ban thường vụ Quốc hội khi cho ý kiến sơ bộ về Dự thảo Luật này.

 Đối với vũ khí thô sơ tại nhóm các Điều 26, 27, 28 và 29, đề nghị bổ sung ba điều luật đặt sau vị trí Điều 29. Trong đó: một điều luật quy định loại vũ khí thô sơ nào thuộc diện phải cấp Giấy phép trang bị, loại vũ khí thô sơ nào thuộc diện cấp Giấy xác nhận đăng ký vũ khí thô sơ đặt sau Điều 29; tiếp theo là một điều luật quy định về việc cấp hoặc chuyển nhượng vũ khí thô sơ; và một điều luật quy định về việc thu hồi vũ khí thô sơ, giấy phép trang bị hoặc giấy xác nhận đăng ký vũ khí thô sơ.

7. Điều 30. Thủ tục cấp phép mua vũ khí

Điều này mới quy định thủ tục cấp Giấy phép mua vũ khí do Bộ trưởng Bộ Công an cấp. Như vậy, còn thiếu hai thủ tục:

Một là, thủ tục cấp Giấy phép mua vũ khí do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cấp.

Hai là, thủ tục xuất, nhập khẩu vũ khí. Việc thiếu quy định về thủ tục xuất nhập khẩu vũ khí là không phù hợp với thực tế là có hoạt động xuất, nhập khẩu vũ khí và đồng bộ với quy định tại Điều 38 về thủ tục xuất nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp.

Mặt khác, khoản 1 Điều luật này sử dụng cụm từ “Các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vũ khí…” là không chính xác và dễ gây hiểu nhầm “Các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vũ khí…” là một loại hình doanh nghiệp thực hiện đồng thời hai chức năng “sản xuất, kinh doanh vũ khí”. Bởi lẽ, theo chức năng thì có hai loại doanh nghiệp là “Doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh vũ khí” và “Doanh nghiệp kinh doanh vũ khí”.

Để khắc phục những bất cập nêu trên, đề nghị:

Thứ nhất, đổi tên điều luật là “Thủ tục kinh doanh vũ khí”;

Thứ hai, bổ sung một khoản và sắp xếp là khoản 1 quy định “Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc kinh doanh vũ khí của các đối tượng thuộc thẩm quyền quản lý của Quân đội nhân dân Việt Nam”;

Thứ ba, gộp khoản 1 và 2 Điều luật này vào làm một và sắp xếp là khoản 2 quy định về thủ tục cấp phép kinh doanh vũ khí của Bộ trưởng Bộ Công an và bổ sung từ “doanh nghiệp kinh doanh” vào sau cụm từ “Các tổ chức, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh”.

8. Các Điều 33, 34, 35 và 36 quy định việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, vận chuyển, sử dụng “vật liệu nổ quân dụng” và “vật liệu nổ công nghiệp”

Theo quy định tại khoản 7, 8 và 9 Điều 3 “Giải thích từ ngữ”, thì “vật liệu nổ quân dụng” và “vật liệu nổ công nghiệp” đều là “các loại sản phẩm gây ra phản ứng hóa học nhanh, mạnh, tỏa nhiệt nhiều, phát sáng, tạo ra tiếng nổ, bao gồm thuốc nổ và các phụ kiện”. Vật liệu nổ quân dụng và vật liệu nổ công nghiệp chỉ khác nhau về mục đích sử dụng. Theo đó, nếu vật liệu nổ được sử dụng cho mục đích quốc phòng, an ninh thì được gọi là “vật liệu nổ quân dụng”; nếu sử dụng cho mục đích sản xuất công nghiệp, kinh tế, dân sinh thì được gọi là “vật liệu nổ công nghiệp”. Do vậy, không cần thiết phải quy định việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, bảo quản, sử dụng (Điều 33), vận chuyển (Điều 34) vật liệu nổ quân dụng và việc việc nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 35), thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất (Điều 36) vật liệu nổ công nghiệp tại hai nhóm điều luật riêng biệt. Theo chúng tôi, khi nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, bảo quản, vận chuyển vật liệu nổ chưa thể phân biệt đó là vật liệu nổ quân dụng hay vật liệu nổ công nghiệp mà chỉ khi sử dụng mới được gọi là vật liệu nổ quân dụng hay vật liệu nổ công nghiệp tùy theo mục đích sử dụng. Cho nên, không cần thiết quy định việc nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, bảo quản, sử dụng (Điều 33), vận chuyển (Điều 34) vật liệu nổ quân dụng và việc việc nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu (Điều 35), thủ tục cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất (Điều 36) vật liệu nổ công nghiệp tại hai nhóm điều luật riêng biệt.

9. Điều 35. Nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp

- Đề nghị thêm từ “xuất khẩu” vào sau cụm từ “Việc ủy thác nhập khẩu” ở điểm a khoản 4.

10. Điều 39. Sử dụng vật liệu nổ công nghiệp

Ngoài các hoạt động được liệt kê tại điểm b khoản 1, thì còn trường hợp sử dụng vật liệu nổ công nghiệp “để thực hiện nhiệm vụ do Chính phủ giao”. Do vậy, để bảo đảm tính khả thi của điều luật và đáp ứng nhiệm vụ do Chính phủ giao mà phải sử dụng vật liệu nổ công nghiệp, đề nghị bổ sung cụm từ “hoặc thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao” vào sau từ “thử nghiệm” như sau: “a) Có hoạt động khoáng sản, dầu khí, công trình xây dựng, công trình nghiên cứu, thử nghiệm hoặc thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao cần sử dụng vật liệu nổ công nghiệp”.

11. Điều 42. Vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp

- Đề nghị bổ sung từ “đơn vị” vào trước từ “tổ chức” tại khoản 1 vì các đơn vị quân đội có tiến hành việc vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp và việc vận chuyển vật liệu nổ công nghiệp phải có “Mệnh lệnh vận chuyển hoặc Giấy phép vận chuyển” mà tại khoản 9 Điều luật này đã quy định. Do vậy, đề nghị bổ sung cụm từ “hoặc Mệnh lệnh vận chuyển” vào sau cụm từ “Có Giấy phép vận chuyển” tại điểm d khoản 1 Điều luật này.

12. Điều 43. Trách nhiệm của các cơ sở, doanh nghiệp nghiên cứu, chế tạo, sản xuất, kinh doanh, vận chuyển vật liệu nổ

- Đề nghị bỏ quy định tại khoản 2 “Các cơ sở sản xuất vật liệu nổ quân dụng chỉ phục vụ trang bị cho các đối tượng được giao thực hiện nhiệm vụ đảm bảo quốc phòng, an ninh” vì như đã trình bày tại Điểm 8 (nêu trên) về các Điều 33, 34, 35 và 36, thì khi sản xuất vật liệu nổ chưa thể phân biệt đó là “vật liệu nổ quân dụng” hay “vật liệu nổ công nghiệp”.

13. Điều 44. Nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất thuốc nổ

- Đề nghị bổ sung từ “chế tạo” vào sau từ “nghiên cứu” ở tên điều luật và khoản 1 Điều luật này. Bởi lẽ, việc nghiên cứu ở đây là nghiên cứu chế tạo tiền chất thuốc nổ chứ không phải là nghiên cứu, tìm hiểu về tiền chất thuốc nổ.

14. Điều 53. Thủ tục cấp Giấy phép mua công cụ hỗ trợ

- Mới quy định thẩm quyền cấp Giấy phép mua công cụ hỗ trợ của Bộ trưởng Bộ Công an mà chưa quy định thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đối với các đối tượng thuộc Quân đội nhân dân và dân quân tự vệ. Đề nghị bổ sung khoản 3 quy định nội dung này.

15. Chương VI. Tiếp nhận, thu gom, phân loại, bảo quản, thanh lý, tiêu hủy vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ

Nếu sửa đổi Luật theo hướng bổ sung các điều luật quy định việc: Thu hồi vũ khí quân dụng, giấy phép trang bị và giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng; Thu hồi vũ khí thể thao, giấy phép trang bị và giấy phép sử dụng vũ khí thể thao; Thu hồi vũ khí thô sơ, giấy phép trang bị hoặc giấy xác nhận đăng ký vũ khí thô sơ như đề cập tại Điểm 6 (nêu trên), thì đề nghị bỏ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 60 “Tiếp nhận, thu gom vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ”. Bởi lẽ, đối tượng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ chủ yếu là vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ tồn tại ngoài xã hội.

Nếu không sửa theo hướng nêu trên, thì cần bổ sung một khoản vào Điều 50 quy định nguyên tắc: “Đối với vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức, đơn vị được trang bị nhưng bị hư hỏng, hết hạn sử dụng hoặc không còn nhu cầu sử dụng hoặc theo quy định của pháp luật không thuộc đối tượng được trang bị, quản lý, sử dụng phải được thu hồi”./. 



[1] Dự thảo lần thứ 8, trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV.

Nguyễn Mai Bộ, TS. Ủy viên thường trực Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Xây dựng pháp luật về hoạt động gọi vốn cộng đồng (17/02/2017)
Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại cho người bị buộc tội trái pháp luật trong tố tụng hình sự (03/02/2017)
Những vấn đề đặt ra sau 10 năm thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng (30/09/2016)
Ủy ban Cạnh tranh quốc gia - cơ quan thực thi pháp luật cạnh tranh thích hợp (30/09/2016)
Nhận diện và điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong hoạt động đấu giá tài sản (28/09/2016)
Một số nội dung cần sửa đổi, bổ sung của Luật Chuyển giao công nghệ năm 2006 (01/09/2016)
Nhận diện và điều chỉnh các quan hệ pháp luật trong hoạt động đấu giá tài sản (28/09/2016)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân