Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 16/11/2018, 01:40(GMT+7)
 
Bàn về dự án luật

Điểm mới trong các chế định về biện pháp tha miễn, quy định đối với pháp nhân thương mại và người dưới 18 tuổi phạm tội
Điểm mới trong các chế định về biện pháp tha miễn, quy định đối với pháp nhân thương mại và người dưới 18 tuổi phạm tội
Nguồn internet

Phần thứ nhất "Những quy định chung" của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 (dưới đây gọi tắt là “Phần chung BLHS năm 2015”) gồm 09 chế định lớn là: 1) Chế định đạo luật hình sự; 2) Chế định tội phạm; 3) Chế định những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự (TNHS); 4) Chế định hình phạt; 5) Chế định các biện pháp tư pháp; 6) Chế định quyết định hình phạt; 7) Chế định các biện pháp tha miễn; 8) Chế định TNHS của pháp nhân thương mại phạm tội[1] và 9) Chế định TNHS của người chưa thành niên[2] phạm tội.

  Bài viết này chỉ đề cập đến việc phân tích các điểm cơ bản được coi là mới và lần đầu tiên được quy định trong Phần chung BLHS năm 2015, được chia thành 03 nhóm vấn đề lớn.  

I. Chế định các biện pháp tha miễn

Theo quan điểm được thừa nhận chung trong khoa học hình sự trong Nhà nước pháp quyền thì chế định lớn về các biện pháp tha miễn của luật hình sự thường bao gồm một loạt các chế định nhỏ mang tính nhân đạo nhằm thực hiện việc miễn, giảm nhẹ, hoãn việc quyết định hoặc hoãn việc tiếp tục thi hành các biện pháp cưỡng chế (xử lý) hình sự đối với người phạm tội hay người bị kết án. Chính vì vậy, chúng được gọi một cách ngắn gọn là chế định các biện pháp tha miễn. Chế định lớn về các biện pháp tha miễn này theo pháp luật hình sự thường gồm 12 chế định cụ thể sau đây: 1) Chế định thời hiệu (bao gồm thời hiệu truy cứu TNHS và thời hiệu thi hành bản án kết tội); 2) Chế định miễn TNHS; 3) Chế định miễn chấp hành hình phạt; 4) Chế định giảm mức hình phạt đã (được) tuyên; 5) Chế định giảm thời hạn chấp hành hình phạt; 6) Chế định án treo; 7) Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện; 8) Chế định hoãn chấp hành hình phạt tù; 9) Chế định tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; 10) Chế định đại xá; 11) Chế định đặc xá và 12) Chế định xóa án tích.

Ngoài ra, còn có một số biện pháp tha miễn mang tính đặc thù đối với 2 chủ thể của tội phạm đặc biệt cũng được quy định riêng trong 2 chương về TNHS đối với pháp nhân thương mại phạm tội và TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội.

Trong BLHS năm 2015 các biện pháp tha miễn được quy định tại 3 chương với 17 điều, cụ thể: Chương V “Thời hiệu truy cứu TNHS, miễn TNHS” với 3 điều (từ Điều 27 đến Điều 29), Chương IX “Thời hiệu thi hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt” với 9 điều (từ Điều 60 đến Điều 68) và Chương X “Xóa án tích” với 5 điều (từ Điều 69 đến Điều 73). Việc phân tích các biện pháp tha miễn trong 3 chương này của BLHS năm 2015 cho thấy một số điểm mới như sau:

1. Chế định không áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS

Chế định không áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS được quy định tại Điều 28 BLHS năm 2015. Theo đó, ngoài việc kế thừa quy định như trong BLHS năm 2009, chế định mang tính nhân đạo này của pháp luật hình sự không được áp dụng đối với 2 nhóm tội phạm đặc biệt nguy hiểm là các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phá hoại hòa bình - chống loài người - tội phạm chiến tranh (tại các khoản 1 và 2). Bên cạnh đó, Điều 28 BLHS năm 2015 còn được bổ sung quy định mới đối với 2 tội danh gồm tội tham ô tài sản (Điều 353) và tội nhận hối lộ (Điều 354) thuộc các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng cũng không được áp dụng chế định nhân đạo này. Như vậy, quy phạm mới bổ sung về việc không được áp dụng thời hiệu truy cứu TNHS đã phần nào thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc kiên quyết trừng trị nghiêm khắc kẻ phạm tội với mục đích loại trừ được "quốc nạn" tham nhũng ở Việt Nam nhằm củng cố lòng tin của nhân dân vào các cơ quan bảo vệ pháp luật và tòa án.

2. Chế định miễn TNHS

Chế định miễn TNHS được quy định tại Điều 29 BLHS năm 2015, gồm 3 khoản với 4 điểm mới như sau:

Một là: Điều 29 quy định 2 trường hợp miễn TNHS với 3 khoản của điều này, gồm trường hợp miễn TNHS bắt buộc với từ "được" miễn khi có một trong hai căn cứ được quy định cụ thể tại khoản 1 và trường hợp miễn TNHS tùy nghi với từ "có thể" được miễn khi có một trong bốn căn cứ được quy định cụ thể tại khoản 2 và khoản 3.

Hai là: Trong 2 căn cứ được miễn TNHS (dạng bắt buộc) liên quan đến hành vi phạm tội được quy định tại khoản 1 Điều 29 thì căn cứ thứ nhất được quy định tại điểm a là quy định mới. Cụ thể, quy định mới này là thay đổi cụm từ cũ "chuyển biến của tình hình mà" tại khoản 1 Điều 25 BLHS năm 1999 bằng cụm từ mới "có sự thay đổi chính sách, pháp luật làm cho" làm cho hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Ba là: Trong 3 căn cứ có thể được miễn TNHS (dạng tùy nghi) liên quan đến người phạm tội nêu tại khoản 2 Điều 29 thì căn cứ thứ ba được quy định tại điểm c có điểm mới. Cụ thể, để cho trường hợp miễn TNHS quy định tại điều này được chặt chẽ hơn, một điều kiện mới được bổ sung vào điểm c bằng cụm từ "... và lập công lớn hoặc có cống hiến đặc biệt, được Nhà nước và xã hội thừa nhận".

Bốn là: Khoản 3 là quy định mới của Điều 29, được bổ sung như một căn cứ để có thể được miễn TNHS (dạng tùy nghi) nếu người phạm tội đáp ứng đầy đủ các điều kiện.  

3. Chế định miễn chấp hành hình phạt

Chế định miễn chấp hành hình phạt được quy định tại Điều 62 BLHS năm 2015 gồm 7 khoản. Về cơ bản, các quy định tại điều này tương tự như quy định tại BLHS năm 1999. Tuy nhiên, phân tích quy phạm của chế định này cho thấy 2 điểm mới cơ bản và lần đầu tiên được quy định như sau:

Một là: Khoản 2 quy định cụ thể mức độ miễn chấp hành hình phạt với các điều kiện được miễn khác nhau cho người bị kết án tù có thời hạn cụ thể là 03 năm chứ không quy định chung chung là "tù có thời hạn" như quy định tại khoản 1 Điều 57 BLHS năm 1999. Cụ thể, trường hợp bị kết án đến 03 năm thì chỉ cần đáp ứng 1 trong 3 điều kiện là đối tượng có thể được miễn chấp hành hình phạt. Trong đó, 02 điều kiện được quy định như trước đây (nhưng sau từ "lập công" đã bỏ từ "lớn'' đi) và có 1 điều kiện mới được bổ sung tại điểm c.   

Hai là: Bổ sung khoản 7, quy định mới về việc "Người được miễn chấp hành hình phạt vẫn phải thực hiện nghĩa vụ dân sự do Tòa án tuyên trong bản án".  

4. Chế định giảm mức hình phạt đã tuyên

Chế định giảm mức hình phạt đã tuyên được quy định tại Điều 63 BLHS năm 2015 gồm 7 khoản. Cơ bản, chế định này vẫn được giữ nguyên so với trong BLHS năm 1999. Tuy nhiên, chế định này cũng có 3 điểm mới, lần đầu tiên được quy định tại các khoản 1, 3 và 6 gồm: (i) thay cụm từ rất dài "cơ quan, tổ chức hoặc chính quyền địa phương được giao trách nhiệm trực tiếp giám sát, giáo dục" bằng cụm từ "cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền" tại các khoản 1 và 2 và quy định các điều kiện cụ thể giảm mức hình phạt đã tuyên cho người bị kết án về nhiều tội, trong đó có tội bị kết án tù chung thân tại khoản 3; (ii) quy định điều kiện cụ thể giảm lần đầu cho người bị kết án đã được giảm một phần hình phạt mà lại phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý tại khoản 4 và (iii) quy định các điều kiện cụ thể tại khoản 6 để được xét giảm lần đầu cho người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình về tội tham ô hoặc tội nhận hối lộ thuộc trường hợp quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 3 Điều 40 của BLHS năm 2015.          

5. Chế định án treo

Chế định án treo được quy định tại Điều 65 BLHS năm 2015 gồm 5 khoản. Cơ bản, chế định này vẫn được giữ nguyên như BLHS năm 1999. Tuy nhiên, chế định này cũng có 3 điểm mới, lần đầu tiên được quy định tại các khoản 1, 3 và 5, cụ thể như sau: (i) Tòa án phải buộc người bị án treo thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự được quy định tại khoản 1; (ii) Tòa án có thể quyết định áp dụng hình phạt bổ sung đối với người bị án treo nếu điều luật tương ứng được áp dụng có quy định hình phạt này được quy định tại khoản 3 và (ii) trong thời gian thử thách nếu người bị án treo vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo được quy định tại khoản 5.     

6. Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện

Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện được quy định tại Điều 66 BLHS năm 2015 có thể được coi là điểm mới của pháp luật hình sự Việt Nam sau pháp điển hóa. Thực chất, quy định này là một chế định nhân đạo không mới trong pháp luật hình sự thời kỳ chưa được pháp điển hóa giai đoạn 1959-1984[3]. Chúng tôi chưa rõ lý do việc không quy định chế định này vào BLHS năm 1985 và BLHS năm 1999. Nhưng với lần pháp điển hóa thứ ba pháp luật hình sự năm 2015, chế định này được quy định với một số sửa đổi - bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của các quan hệ xã hội trong thời kỳ mới. Đây là một minh chứng cho thắng lợi của tư tưởng nhân văn vì sự nghiệp bảo vệ các quyền con người bằng pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Việc phân tích các quy phạm của chế định này tại Điều 66 BLHS năm 2015 với 5 khoản cho thấy 5 điểm mới cơ bản như sau:

Một là: Các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 1 quy định cụ thể 6 điều kiện bắt buộc người đang chấp hành hình phạt tù phải đáp ứng đầy đủ thì mới được giảm án tha tù trước thời hạn. Ngoài ra, khoản 1 thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự trong nhà nước pháp quyền còn quy định giảm nhẹ hơn điều kiện về chấp hành hình phạt quy định tại điểm e đối với một số đối tượng chính sách nhất định thuộc diện ưu tiên cụ thể như: thương binh, bệnh binh, thân nhân gia đình liệt sĩ, v.v.. 

Hai là: Các điểm a và b tại khoản 2 quy định hai trường hợp cụ thể mà người bị kết án không được hưởng chế định nhân đạo này.

Bà là: Khoản 3 quy định thủ tục tha tù trước thời hạn có điều kiện và nghĩa vụ của người được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Bốn là: Khoản 4 quy định các chế tài được áp dụng đối với người được tha tù trước thời hạn có điều kiện mà vi phạm pháp luật trong thời gian thử thách.

Năm là: Khoản 5 quy định các điều kiện mà người được tha tù trước thời hạn có điều kiện có thể được rút ngắn thời gian thử thách.          

7. Chế định xóa án tích

Chế định xoá án tích được quy định tại Chương X BLHS năm 2015, từ Điều 69 đến Điều 73. Việc phân tích các quy phạm của chế định này cho thấy các điểm mới cơ bản, lần đầu tiên được quy định đã góp phần thể hiện rõ hơn nguyên tắc nhân đạo của pháp luật hình sự trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, cụ thể như sau:

Một là: Khoản 2 Điều 69 bổ sung quy định mới về đối tượng không bị coi là có án tích là:  người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt.  

Hai là: Ngoài việc kế thừa 2 điều kiện trong BLHS năm 1999, khoản 2 Điều 70 quy định 3 điều kiện mới đối với người bị kết án đương nhiên được xóa án tích là: hết thời gian thử thách án treo (nếu bị xử phạt án treo), đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Đồng thời, khoản này còn quy định các thời hạn không được phạm tội mới trong thời gian thử thách đối với từng đối tượng: 01 năm nếu bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; 02 năm nếu bị phạt tù đến 05 năm; 03 năm nếu bị phạt tù trên 05 năm đến 15 năm; 05 năm nếu bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Ba là: Khoản 2 Điều 70 còn bổ sung quy định mới về điều kiện đương nhiên được xóa án tích đối với người bị kết án đang chấp hành một số hình phạt bổ sung nhất định (như quản chế, cấm cư trú, v.v..).

Bốn là: Khoản 4 Điều 70 bổ sung quy định mới về trách nhiệm của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp.               

Năm là: Điều 71 quy định việc xóa án tích do tòa án quyết định và thể hiện rõ xu hướng phân hóa TNHS. Các quy định tại điều này là sửa đổi, bổ sung các quy phạm về việc xoá án tích đã được quy định trong BLHS năm 1999 với các điều kiện nghiêm khắc hơn so với các điều kiện đương nhiên xóa án tích.  

Sáu là: Khoản 3 Điều 73 bổ sung quy phạm mới, cụ thể về cách thức xác định thời hạn để xóa án tích đối với người phạm nhiều tội.

II. Chế định trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội

Chế định về TNHS của pháp nhân thương mại phạm tội lần đầu tiên chính thức điều chỉnh riêng về mặt lập pháp và được quy định trong Chương XI BLHS năm 2015 có tên gọi "Những quy định đối với pháp nhân phạm tội". Đây là một chương hoàn toàn mới trong pháp luật hình sự Việt Nam gồm 16 điều (từ Điều 74 đến Điều 89). Khi phân tích các quy phạm của chế định này, chúng tôi chỉ đề cập đến bốn (04) vấn đề lớn có tính mới, được coi là cơ bản và quan trọng liên quan đến pháp nhân thương mại phạm tội như sau:

1. Điều kiện chịu TNHS của pháp nhân thương mại

Theo quy định tại Điều 75 BLHS năm 2015, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu TNHS khi hội đủ 4 điều kiện được quy định tại khoản 1 điều này gồm (i) khi tội phạm được thực hiện nhân danh pháp nhân, (ii) vì lợi ích của pháp nhân,  (iii) có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân và (vi) tội phạm đó chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS theo quy định của pháp luật. Như vậy, vấn đề quan trọng ở đây là trường hợp thiếu 1 trong 4 điều kiện này thì không thể buộc pháp nhân thương mại chịu TNHS.     

2. Phạm vi chịu TNHS của pháp nhân thương mại

Theo quy định tại Điều 76 BLHS năm 2015, giới hạn mà pháp nhân thương mại phải chịu TNHS là rất hạn chế, chỉ có 31/318 cấu thành tội phạm (CTTP) được quy định trong phần riêng BLHS năm 2015 mà cụ thể là: (i) 22 CTTP trong Chương XVIII "Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế", trong đó 9 CTTP thuộc Mục 1 "Các tội phạm trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại", 7 CTTP thuộc Mục 2 "Các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm" và 6 CTTP thuộc Mục 3 "Các tội phạm khác xâm  phạm trật tự quản lý kinh tế") và (ii) 9 CTTP trong Chương XIX "Các tội phạm về môi trường".          

3. Các hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Các hình phạt và các biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định từ Điều 77 đến Điều 82 BLHS năm 2015 với một số nội dung chủ yếu sau:

Một là: Trong số 5 hình phạt được BLHS năm 2015 quy định đối với pháp nhân thương mại phạm tội, thì có 4 hình phạt chỉ áp dụng riêng đối với pháp nhân thương mại phạm tội, trong đó: (i) 02 hình phạt chính là đình chỉ hoạt động có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động vĩnh viễn; (ii) hình phạt bổ sung cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn; (iii) phạt tiền là hình phạt có tính chất tuỳ nghi, có thể được áp dụng với tính chất là hình phạt chính hoặc là hình phạt bổ sung.

Hai là: Trong số bốn biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại phạm tội, thì có hai biện pháp tư pháp giống như hai biện pháp tư pháp đối với cá nhân phạm tội được quy định tại Điều 47 và Điều 48 và có hai biện pháp tư pháp chỉ áp dụng riêng đối với pháp nhân thương mại phạm tội là: (a) Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu và (b) buộc thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục, ngăn chặn hậu quả tiếp tục xảy ra. Riêng đối với biện pháp tư pháp thứ hai thì tuỳ vào từng trường hợp phạm tội cụ thể, tòa án có thể quyết định buộc pháp nhân phải thực hiện một hoặc một số biện pháp cụ thể trong số 6 biện pháp khắc phục, ngăn chặn hậu quả của tội phạm được quy định tại khoản 3 Điều 82.   

4. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS và các tình tiết tăng nặng TNHS chỉ áp dụng riêng đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS và các tình tiết tăng nặng TNHS đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tương ứng tại Điều 84 và Điều 85 BLHS năm 2015. Sau khi nghiên cứu, phân tích các điều này, chúng tôi thấy hai điểm mới sau đây:

Thứ nhất: Ngoài 3 tình tiết giảm nhẹ giống như 3 tình tiết giảm nhẹ được áp dụng như đối với cá nhân phạm tội được quy định tại các điểm a, b, c khoản 1, Điều 84 BLHS năm 2015 quy định thêm 2 tình tiết giảm nhẹ tại các điểm d và đ để áp dụng riêng đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

Thứ hai: Ngoài 5 tình tiết tăng nặng giống như 5 tình tiết tăng nặng được áp dụng như đối với cá nhân phạm tội được quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1, Điều 85 quy định 1 tình tiết tăng nặng tại điểm a khoản 1 áp dụng riêng đối với pháp nhân thương mại phạm tội.

III. Chế định trách nhiệm hình sự của người chưa thành niên phạm tội

Chế định TNHS của người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Chương XII thuộc Phần thứ nhất "Những quy định chung" (Phần chung) BLHS năm 2015. Cụm từ "chưa thành niên" như đã được sử dụng trong BLHS năm 1999 đã được thay bằng cụm từ "dưới 18 tuổi" và tên gọi mới của chương này là "Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội". Vì vậy, trước khi phân tích chế định này cần lưu ý rằng, theo quy định tại Điều 90  BLHS năm 2015 thì người dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu TNHS được hiểu là người từ đủ 14 tuổi đến 18 tuổi mà BLHS năm 1999 gọi là "người chưa thành niên". Để thống nhất trong việc nghiên cứu, cụm từ "người chưa thành niên" trong bài viết này cũng có nghĩa tương ứng như cụm từ "người dưới 18 tuổi" trong BLHS năm 2015. Chế định TNHS của người chưa thành niên phạm tội được quy định tại 18 điều (từ Điều 90 đến Điều 107). Sau khi phân tích khoa học các quy phạm của chế định này trong Chương XII, chúng tôi chỉ đề cập đến 7 nội dung mới và khác so với các quy định trong BLHS năm 1999 được chúng tôi cho là cơ bản và quan trọng nhất liên quan đến người chưa thành niên phạm tội như sau:    

1. Cấu trúc của các quy định  

Cấu trúc của Chương XII BLHS năm 2015 đã có sự đổi mới và khác biệt so với Chương X tương ứng trong BLHS năm 1999. Trong lần pháp điển hóa thứ ba này, Chương XII đã được chia thành 5 Mục và theo nhóm các điều có liên quan đến nội dung được quy định trong từng Mục như sau: (1) Mục 1 "Quy định chung về xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội" gồm Điều 90 và Điều 91); (2) Mục 2 "Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn TNHS" từ Điều 92 đến Điều 95; (3) Mục 3 "Biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng" gồm Điều 96 và Điều 97; (4) Mục 4 "Hình phạt" từ Điều 98 đến Điều 101 và (5) Mục 5 "Quyết định hình phạt, tổng hợp hình phạt, miễn giảm hình phạt, xóa án tích" từ Điều 102 đến Điều 107.           

2. Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội

Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 91 BLHS năm 2015. Sau khi phân tích các quy phạm của điều này, ngoài việc kế thừa tinh thần và nội dung các quy phạm trong BLHS năm 1999 về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội, chúng tôi thấy có 3 điểm mới và lần đầu tiên được quy định là: (i) khoản 1 quy định về việc xử lý người chưa thành niên phạm tội đã được bổ sung yêu cầu "phải căn cứ vào độ tuổi" của họ; (ii) khoản 2 quy định các điều kiện cụ thể mà người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn TNHS và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục được chia thành 3 nhóm gồm: từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi, từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi và dưới 18 tuổi là đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án và được quy định tương ứng tại các điểm a, b, c khoản này; (iii) khoản 6 quy định các điều kiện cụ thể khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành niên.

3. Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn TNHS

Các biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp được miễn TNHS được quy định tại Mục 2, từ Điều 92 đến Điều 95. Mục này quy định 2 biện pháp giám sát, giáo dục mới tại Điều 93 và Điều 94. Điều 95 quy định biện pháp tư pháp đã được quy định trong BLHS năm 1999 (giáo dục tại xã, phường, thị trấn) với một số sửa đổi - bổ sung về cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng cho 2 trường hợp tương ứng với 2 độ tuổi người chưa thành niên phạm tội. Ngoài ra, khi phân tích các quy phạm của Mục này, chúng tôi nhận thấy 3 điểm mới và lần đầu tiên được điều chỉnh trong BLHS năm 2015 là:

Thứ nhất: Điều 92 quy định cụ thể cơ quan có thẩm quyền áp dụng 3 biện pháp giám sát, giáo dục và quy định cơ quan tiến hành tố tụng tương ứng và điều kiện cụ thể được áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đó.  

Thứ hai: Điều 93 quy định về biện pháp khiển trách tại 4 khoản là: (i) khoản 1 quy định mục đích và điều kiện cụ thể của việc áp dụng biện pháp khiển trách trong 2 trường hợp tương ứng với 2 độ tuổi người chưa thành niên phạm tội gồm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng (điểm a) và người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án (điểm b); (ii) khoản 2 quy định cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp này và điều kiện cụ thể áp dụng biện pháp này; (iii) khoản 3 quy định các nghĩa vụ cụ thể mà người bị khiển trách phải thực hiện và; (iii) khoản 4 quy định về thời gian thực hiện các nghĩa vụ được quy định tại các điểm b và c khoản 3 Điều này là từ 03 tháng đến 01 năm.

Thứ ba: Điều 94 quy định về "Hòa giải tại cộng đồng" tại 3 khoản là: (i) khoản 1 quy định việc áp dụng biện pháp này cho 2 trường hợp tương ứng với 2 độ tuổi người chưa thành niên phạm tội người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội nghiêm trọng (tại điểm a) và người từ đủ 14 đến dưới 16 phạm tội rất nghiêm trọng tại điểm b khoản 2 Điều 91 BLHS (tại điểm b); (ii) khoản 2 quy định cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp này và điều kiện cụ thể áp dụng biện pháp này và (iii) khoản 3 quy định các nghĩa vụ cụ thể mà người bị áp dụng biện pháp giám sát, giáo dục phải thực hiện.

4. Các hình phạt được quy định đối với người chưa thành niên phạm tội

Các hình phạt được quy định đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Mục 4, từ Điều 98 đến Điều 101. Về cơ bản, ngoài việc kế thừa tinh thần và nội dung các quy phạm về hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội tại BLHS năm 1999, qua phân tích các quy phạm tại Mục 4 này, chúng tôi thấy chỉ có 1 điểm mới và lần đầu tiên được quy định tại BLHS năm 2015. Cụ thể, khoản 1 Điều 100 "Cải tạo không giam giữ" quy định điều kiện cụ thể áp dụng loại hình phạt cải tạo không giam giữ theo 2 độ tuổi người chưa thành niên phạm tội tương ứng theo 4 loại tội phạm được thực hiện với hình thức lỗi là chỉ được áp dụng đối với 2 nhóm người chưa thành niên phạm tội là: (i) người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do vô ý và (ii) người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý.                 

5. Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện

Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định mới và lần đầu tiên được quy định riêng đối với người chưa thành niên phạm tội tại Điều 106 BLHS năm 2015. Qua phân tích các quy phạm, chúng tôi nhận thấy điểm cơ bản của điều này là quy định người chưa thành niên phạm tội chỉ được hưởng chế định nhân đạo này khi đáp ứng đầy đủ tất cả  4 điều kiện cụ thể tại các điểm a, b, c, d của khoản 1, cụ thể là: (a) Phạm tội lần đầu; (b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; (c) Đã chấp hành được 1/3 thời hạn phạt tù và (d) Có nơi cư trú rõ ràng. Ngoài ra, tại khoản 2 điều này ghi nhận quy phạm mang tính viện dẫn rằng "việc thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện được thực hiện theo quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều 66 Bộ luật này.                       

6. Chế định xóa án tích

Chế định xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 107 BLHS năm 2015. Việc phân tích các quy phạm tại điều này cho thấy 2 điểm mới, lần đầu tiên quy định các điều kiện cụ thể để: (i) Người chưa thành niên dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích nếu thuộc các trường hợp được quy định tại các điểm a và b khoản 1 và (ii) người chưa thành niên từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án được đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới được quy định tại khoản 2./.  

 

 

 

 

 

 

 



[1] Tên đầy đủ là “Chương XI - Những quy định đối với pháp nhân phạm tội" trong BLHS năm 2015.

[2] Tên đầy đủ là “Chương XII - Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội" trong BLHS năm 2015.

[3] Chế định nhân đạo này từ lâu đã được quy định tại Thông tư số 73-TTg/LB ngày 11/8/1959 của Liên Bộ-Công an-Viện Công tố Trung ương-Tòa án nhân dân tối cao quy định điều kiện và thủ tục xử tha tù trước kỳ hạn (xem cụ thể hơn tại: Hệ thống hóa luật lệ về hình sự - Tập I (1945-1974). TANDTC, Hà Nội, 1975, các tr. 151-155.    

Lê Văn Cảm, GS.,TSKH. Giám đốc Trung tâm Tội phạm học & Luật Hình sự của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Quang Long và Nguyễn Văn Thủy, ThS. NCS Bộ môn Tư pháp hình sự, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Hoàn thiện Luật Đất đai năm 2013 nhằm bảo đảm lợi ích người sử dụng đất nông nghiệp (13/11/2018)
Cơ cấu tổ chức trong các trường đại học công lập theo Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục đại học (06/11/2018)
Quy định hiện hành về quyền đình công của người lao động và các khuyến nghị hoàn thiện (05/09/2017)
Pháp luật về bảo vệ người tố cáo - thực trạng và một số kiến nghị (25/08/2017)
Những vấn đề liên quan đến tuổi nghỉ hưu và góp ý hoàn thiện Dự thảo sửa đổi Bộ luật Lao động (16/08/2017)
Chính sách khoan hồng trong Dự thảo Luật Cạnh tranh nhìn từ lý thuyết trò chơi (08/08/2017)
Góp ý về trình tự, thủ tục tố cáo và giải quyết tố cáo trong Dự thảo Luật Tố cáo (sửa đổi) (03/08/2017)
Chính sách khoan hồng trong Dự thảo Luật Cạnh tranh nhìn từ lý thuyết trò chơi (08/08/2017)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân