Diễn đàn về nhà nước, pháp luật, chính sách
ISSN 1859-297X Thứ sáu, 22/09/2017, 09:40(GMT+7)
 
Bạn đọc viết

Bàn thêm về chủ đề “Có nên bằng cấp hóa tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội?”

 

Trên diễn đàn của Tạp chí Nghiên cứu lập pháp gần đây có sự bàn luận của một số tác giả về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội, như TS. Bùi Ngọc Thanh với bài viết “Về việc sửa đổi, bổ sung Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội” (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 23, tháng 12/2009), TS. Đỗ Ngọc Hải với bài “Về tiêu chí đại biểu Quốc hội trong điều kiện Việt Nam là thành viên của WTO” (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 23, tháng 12/2009) và nhất là bài trao đổi “Có nên bằng cấp hóa tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội?” của tác giả Nguyễn Thị Phượng (http://www.nclp.org.vn/ban-doc-viet/co-nen-bang-cap-hoa-tieu-chuan-111ai-bieu-quoc-hoi). Nhìn chung, các ý kiến được nhìn nhận dưới các lăng kính khác nhau và đều có tính hợp lý nhất định. Với mục đích làm rõ hơn một số khía cạnh của vấn đề, chúng tôi có thêm một số ý kiến trao đổi như sau:

1. Hiến pháp và Luật bầu cử đại biểu Quốc hội hiện hành ở Việt Nam có “bằng cấp hóa tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội” không?

Điều 54 Hiến pháp năm 1992 khẳng định rõ “Công dân, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật”. Điều 3 của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) qui định 5 tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội “1- Trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; 2- Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật; 3- Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; 4- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm; 5- Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội”.

Như vậy, Hiến pháp và pháp luật hiện hành quy định không phân biệt trình độ văn hóa đối với đại biểu Quốc hội, tức là không “bằng cấp hóa tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội?”.

2. Nếu cần sửa đổi Hiến pháp và luật bầu cử đại biểu Quốc hội, có nên “bằng cấp hóa tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội?”

Xét về bản chất của vấn đề, đây không phải là vấn đề mới. Trong giai đoạn khủng hoảng của nền dân chủ tư sản, một số học giả đưa ra những lý thuyết mới trong việc xác lập đời sống chính trị-xã hội tư sản hiện đại. Một trong những trào lưu lý thuyết ấy là các quan điểm về giới elíte. Đó là lý thuyết về giới “tinh hoa” (hay “thượng lưu”) chính trị. Theo lý luận của các học giả tư sản, đó là một nhóm người tinh hoa đủ khả năng thực hiện có hiệu quả quyền lực nhà nước trong điều kiện mới. Bản thân thuyết elíte cũng có những trường phái khác nhau: 1) Một số học giả phủ nhận các tư tưởng và thiết chế dân chủ tiến bộ như chủ quyền nhân dân, dư luận xã hội… Họ cho rằng những thiết chế này là trừu tượng, lừa dối; và theo họ, quyền lực phải thuộc về giới elíte (tức là giới thượng lưu chính trị); 2) Một số tác giả khác đưa ra lập trường trung hòa hơn, họ cố gắn tư tưởng của mình với chủ nghĩa đa nguyên và đưa ra lý thuyết về chủ nghĩa elíte dân chủ (chủ nghĩa dân chủ tinh hoa). Hạt nhân của lý thuyết này là trong xã hội dân chủ đa nguyên, giới elíte bao giờ cũng đứng ở vị trí trung tâm của đời sống chính trị và quyền lực thực tế bao giờ cũng nằm trong tay giới elíte cầm quyền.

 Như vậy, về căn bản, các lý thuyết elíte, bất luận thuộc trường phái nào, đều biện hộ cho quyền lực của giới tinh hoa và xem giới này là một yếu tố cơ bản, tất yếu của hệ thống chính trị. Họ chứng minh cho sự hợp lý của việc nắm quyền điều hành đất nước, quy định chính sách, đường lối nhà nước của giới tinh hoa chính trị[1].

Trở lại với câu hỏi ở mục này, về cơ bản, chúng tôi chia sẻ với hướng phân tích của tác giả Nguyễn Thị Phượng: không nên bằng cấp hóa tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội.

Cơ sở lập luận của chúng tôi dựa trên các luận điểm:

Một là, xuất phát từ vị trí pháp lý, chức năng của Quốc hội trong cơ cấu bộ máy nhà nước, khi nói đến Quốc hội, tiêu chí quan tâm đầu tiên là tính đại diện. Chúng tôi đồng ý với ý kiến của ông Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam “Đại biểu Quốc hội phải là người thật sự có năng lực đại diện cho dân (chúng tôi muốn nhấn mạnh là năng lực đại diện cho dân). Nơi nào cũng có người tốt, miễn là mình tìm cho được”[2]. Giáo sư Hồ Văn Thông cũng khẳng định “Không nhất thiết mọi đại biểu Quốc hội đều có trình độ trí tuệ cao, nhưng toàn bộ cấu trúc và hệ thống hoạt động của Quốc hội cần tập trung được trí tuệ của giai cấp, dân tộc và thời đại”[3]. Trong “Chính thể đại diện”[4], triết gia nổi tiếng người Anh John Stuart Mill rất xác đáng khi quan niệm rằng Hội đồng lập pháp “không phải là một chọn lọc từ những trí tuệ chính trị lớn nhất của đất nước mà qua ý kiến của những người này rất khó suy ra đúng được ý kiến của dân chúng, nhưng khi được thành lập đúng cách thì những hội đồng này là một mẫu chính xác cho mọi trình độ trí tuệ trong nhân dân, mà tất cả đều được quyền có tiếng nói trong các công việc chung. Phần việc của họ là chỉ ra những gì cần thiết, là cơ quan đưa ra các đòi hỏi của dân chúng và là một nơi để tranh cãi lật đi lật lại mọi ý kiến liên quan tới những việc chung dù lớn hay nhỏ”[5]. Nhà khoa học chính trị John Mueller cũng cho rằng “Dân chủ thực sự là một điều dễ dàng - bất kỳ kẻ ngốc nào cũng có thể thực hiện được… Người dân không nhất thiết là người tốt hay cao quý, mà chỉ đơn thuần là tính toán những lợi ích tốt nhất của họ, và nếu được vậy, cần bày tỏ chúng”[6].

Hai là, không nên đồng nhất giữa “nhà trí thức” với “nhà chính trị”. Nói cách khác, không nên đồng nhất năng lực “học vấn” (năng lực khoa học kỹ thuật…) với năng lực đại diện. Đúng là một trí thức có trình độ học vấn cao có điều kiện thuận lợi để trở thành một “ông nghị” giỏi; nhưng không phải mọi trí thức giỏi đều trở thành những “ông nghị” giỏi. Mặt khác, để nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu dân cử, có thể áp dụng nhiều biện pháp khác nhau như thông qua chuyên gia, các nhà khoa học, đội ngũ chuyên viên để giúp các đại biểu về từng lĩnh vực chuyên môn, nhưng khi nói đến đại biểu Quốc hội, cần đề cao tính đại diện; không nên tư duy theo hướng lấy trí thức hay chuyên gia để thay thế cho người đại diện.

Ba là, đại biểu Quốc hội là do nhân dân trực tiếp bầu ra, do vậy, việc bảo đảm dân chủ trong quá trình bầu cử là cơ sở cốt lõi và quan trọng nhất để bảo đảm thực chất của tính đại diện. Nói cách khác, không nên lựa chọn hay cơ cấu “cứng nhắc” để bảo đảm tính đại diện, mà chính tính đại diện của Quốc hội phản ánh một cơ cấu nhất định. Nhà khai sáng kiệt xuất Montesquieu đã viết rằng “Dân chúng rất giỏi khi họ chọn người để giao phó một phần quyền lực của mình. Họ chỉ cần xác định những điều mà họ biết, họ thấy, họ cảm nhận được” [7]. Do vậy, họ sẽ cân nhắc kỹ càng khi bỏ phiếu. Hãy tin tưởng rằng nhân dân rất sáng suốt. Trong chế độ bầu cử dân chủ, kết quả bầu cử cần thể hiện đúng ý chí của nhân dân. Bầu cử dân chủ không tồn tại khái niệm nhân dân lựa chọn “sai”; có chăng có sự “may rủi” trong bầu cử. Vả lại, nếu “không may”, nhân dân là người phải gánh chịu. Josef Brodsky, nhà thơ gốc Nga từng đoạt giải Nobel đã viết rằng “Con người tự do sẽ chẳng trách cứ ai khi thất bại”[8] và điều này cũng giống như sự lựa chọn của công dân trong một cuộc bầu cử công bằng và tự do, những người tự nhận trách nhiệm lựa chọn người đại diện và kèm theo là chính sách tương lai mà họ đã tự chọn để sống, nhưng cuối cùng họ sẽ có được những người đại diện mà họ xứng đáng được có. Thật không công bằng nếu có “người khác” cơ cấu hoặc quyết định thay cho nhân dân (kể cả với mục đích vì nhân dân), bởi khi sai lầm, trước hết nhân dân là người phải gánh chịu. Đã là bầu cử (chứ không phải phân công hay bổ nhiệm) thì nhân dân phải là người quyết định người mà họ chọn. Sau mỗi cuộc bầu cử, họ sẽ rút ra kinh nghiệm cần thiết cho các cuộc bầu cử tới. Mặt khác, không phải cứ bầu cử xong là nhân dân mất quyền, cơ quan đại diện muốn làm gì thì làm! Trong chế độ bầu cử nước ta, “đi đôi” với bầu cử là quyền của nhân dân bãi nhiệm đối với đại biểu dân cử khi họ không còn sự tín nhiệm của nhân dân.

Bốn là, nếu công nhận việc “chuẩn hóa” về bằng cấp đối với đại biểu Quốc hội, nhất là quan điểm “mạnh tay” của  TS. Đỗ Ngọc Hải “đại biểu Quốc hội ít nhất phải có trình độ tốt nghiệp đại học” có thể sa vào khuynh hướng của thuyết dân chủ elíte -  một biểu hiện cần xem xét, khắc phục trong pháp luật bầu cử hiện nay ở Việt Nam[9]. Việc tác giả thống kê tỉ lệ đại biểu Quốc hội từ khóa X trở lại đây có bằng đại học và trên đại học là tương đối cao, có thể do tính đại diện của Quốc hội phản ánh một cơ cấu nhất định, nhưng không nên vì thế mà “bằng cấp hóa đại biểu Quốc hội” để đảm bảo tính đại diện, như chúng tôi đã phân tích ở trên.

Tóm lại, bàn về tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội không ngoài mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của đại biểu Quốc hội và của Quốc hội. Để đạt được mục đích đó, cần những giải pháp đồng bộ; và thiết nghĩ về lâu dài cần đổi mới toàn diện pháp luật bầu cử đại biểu Quốc hội Việt Nam.

 

[1] PTS. Lê Minh Thông, Một số nét cơ bản của các lý thuyết hiện đại về nhà nước và pháp luật (Trong Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Khoa Luật, Trường Đại học Tổng hợp, Hà Nội 1993), tr. 452, 453.

[2] Nguyên Thủy, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt: Giám sát, phản biện là vi dân, vì Đảng, Báo Thanh niên ngày 21/2/2007, trang 3.

[3] GS. Hồ Văn Thông, Hệ thống chính trị ở các nước tư bản phát triển hiện nay, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội 1998, tr. 188.

[4] “Chính thể đại diện” (Representative government) được John Stuart Mill viết vào năm 1861, một tác phẩm kinh điển về nền dân chủ phương Tây. Cùng với “Nền dân trị Mỹ” (Democracy in America) của Alexis de Tocqueville, “Chính thể đại diện” của John Stuart Mill được xem như những khảo cứu mang tính nền tảng đối với các thiết chế chính trị -xã hội ở các nước Anh, Hoa Kỳ thế kỷ XIX.

Xem: John Stuart Mill (Nguyễn Văn Trọng, Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích), Chính thể đại diện, Nhà xuất bản Tri thức, 2008, tr.7, 8.

[5] John Stuart Mill (Nguyễn Văn Trọng, Bùi Văn Nam Sơn dịch, giới thiệu và chú thích), Chính thể đại diện, Nhà xuất bản Tri thức, 2008, tr.175.

[6] The Bureau of International Information Programs,U.S. Department of State,  Foundations of Democracy,2005.

[7] Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Nxb.Giáo dục và Khoa Luật Trường Đại học Khoa học xã hội- nhân văn Hà Nội, 1996, tr. 49.

[8] The Bureau of International Information Programs, U.S. Department of State, What Is Democracy? 1998.

[9] Ví dụ: theo qui định của pháp luật bầu cử và thực tiễn thực hiện trong các cuộc bầu cử ở Việt Nam hiện nay,  việc phân bổ số lượng đại biểu Quốc hội cho các địa phương chưa tuân thủ nguyên tắc “bình đẳng dân số”. Điều 8* Luật bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 (Sửa đổi năm 2001) qui định: “Thủ đô Hà Nội được phân bố số đại biểu thích đáng”. Điều này chỉ có thể giải thích rằng, Hà Nội là Thủ đô, có nhiều trí thức hơn nên được phân bổ (tỉ lệ) đại biểu cao hơn các địa phương khác. Chẳng hạn, trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa XII (ngày 20/5/2007), với dân số cả nước khoảng 83.119.900 người, Số lượng đại biểu được ấn định (tối đa) 500 đại biểu. Như vậy, trung bình cả nước, cứ khoảng (tối đa) 166.240 người sẽ có một đại biểu Quốc hội. Hà Nội có 3.145.300 người được phân bổ 21 đại biểu (trung bình khoảng 149.776 người có một đại biểu Quốc hội ), Tp. Hồ Chí Minh có 5.891.100 người được phân bổ 26 đại biểu (trung bình khoảng 226.581 người có một đại biểu Quốc hội). Tức là lá phiếu của cử tri Tp. Hồ Chí Minh chỉ bằng khoảng 0,6 lá phiếu của cử tri Hà Nội.

Về vấn đề này, có thể xem thêm: Vũ Văn Nhiêm “Bàn về nguyên lý “một người, một phiếu bầu, một giá trị”, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 2(39)/ 2007, tr.45-54.

TS. Vũ Văn Nhiêm - Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Ý kiến của bạn
Tên của bạn
Địa chỉ
Email
Điện thoại
Tệp đính kèm
 
 
gửi đi
CÁC TIN KHÁC:
Thực trạng và giải pháp hoàn thiện Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (28/05/2012)
Thực hiện các quy định của pháp luật về kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức và một vài kiến nghị (14/10/2010)
Góp ý các Dự thảo văn kiện trình Đại hội XI của Đảng: hãy cẩn trọng trước khi quyết định không tổ chức Hội đồng nhân dân huyện, quận và phường (14/10/2010)
Góp ý kiến vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) trình Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Ðảng (20/09/2010)
Khắc phục trở ngại trong xây dựng thương hiệu cho đặc sản địa phương (08/09/2010)
Đường sắt cao tốc - thực tiễn trên thế giới và những ẩn số ở Việt Nam (04/06/2010)
Bình luận từ việc Megastar bị khiếu nại (14/05/2010)
Đường sắt cao tốc - thực tiễn trên thế giới và những ẩn số ở Việt Nam (04/06/2010)
8.jpg
Đồng chí Uông Chu Lưu, Phó Chủ tịch Quốc hội trao quyết định bổ nhiệm đồng chí Nguyễn Đình Quyền làm Viện trưởng Viện NCLP
Số 03 ((212) tháng 2/2012) 05/02/2012
 
Thực trạng và nhu cầu giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam

Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin của công dân và nhà báo trong hai dự thảo luật

Công khai thông tin với việc thực hiện phản biện xã hội

Thư của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng gửi Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

CÔNG BỐ VÀ TRAO NGHỊ QUYẾT BỔ NHIỆM VIỆN TRƯỞNG VIỆN NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP

Sự ảnh hưởng của pháp luật Pháp tới luật tư ở Việt Nam

Khai mạc trọng thể Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIV

Khai mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV

Chất vấn và hậu chất vấn

Lựa chọn chính sách cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay

Tìm kiếm
Tìm kiếm nâng cao
 
Hiển thị tốt nhất trên trình duyệt Firefox

    Trang chủ | Liên hệ | Sơ đồ website Trang thông tin điện tử của Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp – Văn phòng Quốc hội
Giấy phép xuất bản số: 37/GP-BC-BVHTT, cấp ngày: 08/04/2005 • Tổng Biên tập: Ts. Phạm Văn Hùng
Toà soạn: 27A Võng Thị – Tây Hồ – Hà Nội: Điện thoại: 08043359 - 08043362• Fax: 08048486• Email: nclp@qh.gov.vn

Ghi rõ nguồn "Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp" khi phát hành lại thông tin từ website này
Bản quyền thuộc về Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. Phát triển bởi Công ty Tinh Vân